Hôm nay,  

Văn Minh Giật Lùi

11/10/202601:11:00(Xem: 257)

 

Pope Against Capital Punishment (1)
Nhân Ngày Thế Giới Chống Án Tử Hình, 10 tháng 10, 2026, Đức Giáo Hoàng Leo XIV tái khẳng định án tử hình xâm phạm phẩm giá con người, giữa lúc chính quyền Trump tính truyền hình trực tiếp cuộc hành quyết một tử tù bằng súng vào ngày 3 tháng 12. Ảnh ghép: Bộ Trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth và Tổng Thống Donald Trump. Hình nền: đám đông chứng kiến cuộc treo cổ Rainey Bethea tại Kentucky, ngày 14 tháng 8, 1936, một trong những cuộc hành quyết công khai cuối cùng tại Hoa Kỳ.

 

Năm 1910, tại nhà tù Långholmen ở Stockholm, Thụy Điển, một người đàn ông tên Johan Alfred Ander bị đưa lên máy chém. Ông ta lãnh án tử hình vì tội giết người trong một vụ cướp. Đó là lần đầu tiên, và cũng là lần cuối cùng, máy chém được sử dụng tại Thụy Điển.

Sau cuộc hành quyết ấy, chiếc máy chém được cất đi, không bao giờ dùng đến nữa. Năm 1921, Thụy Điển bãi bỏ án tử hình trong thời bình. Đến năm 1973, hình phạt này bị xóa bỏ hoàn toàn, kể cả trong thời chiến. Chiếc máy chém ngày trước nay đã trở thành một di vật trong viện bảo tàng.

Một trăm mười sáu năm sau, bên kia Đại Tây Dương, Hoa Kỳ đang chuẩn bị hành quyết một tử tù bằng súng. Nhưng lần này, chính quyền còn dự tính truyền hình trực tiếp cuộc hành quyết cho công chúng theo dõi.

Đang ở Thụy Điển, nghe Tổng Thống Donald Trump và Bộ Trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth nói về cuộc hành quyết sắp tới trên đài tv Thụy Điển, tôi không khỏi nghĩ đến hai cỗ máy.

Cỗ máy chém giữa pháp trường đã nằm trong viện bảo tàng. Máy thu hình đang được đề nghị sử dụng để đưa cảnh hành quyết trở lại trước đám đông. Phương tiện đã thay đổi, nhưng mục đích thị uy, răn đe và kích động có gì khác?

Người sắp bị hành quyết là Nidal Malik Hasan, 56 tuổi, cựu bác sĩ tâm thần của Lục Quân Hoa Kỳ. Ngày 5 tháng 11 năm 2009, Hasan nổ súng tại căn cứ Fort Hood, Texas, giết chết 13 người và làm bị thương 32 người khác. Năm 2013, một tòa án quân sự tuyên án tử hình đối với Hasan.

Không có gì để bênh vực tội ác ấy. Mười ba người thiệt mạng, hàng chục người mang thương tích, bao nhiêu gia đình mất người thân. Các nạn nhân và gia đình họ có quyền đòi hỏi công lý. Nhưng, trừng phạt một kẻ sát nhân và biến cái chết của hắn thành một cảnh tượng cho thiên hạ xem là hai chuyện khác nhau.

Ngày 8 tháng 10, Ngũ Giác Đài loan báo Hasan sẽ bị hành quyết bằng súng vào ngày 3 tháng 12, và cuộc hành quyết sẽ được truyền trực tiếp trên Internet.

Hegseth giải thích rằng công chúng cần tận mắt thấy hậu quả của những tội ác nghiêm trọng.  Trump cũng chẳng tỏ ra bận tâm đến cách thức Hasan bị giết. Ông nói chỉ cần Hasan phải chết, bằng cách nào cũng được. Ngày 9 tháng 10, được hỏi có chấp thuận việc truyền hình trực tiếp hay không, ông trả lời: “Chắc chắn.” Qua hôm sau, ông đổi ý nói sẽ đưa ra quyết định sau cùng về việc phát hình sau khi gặp phản ứng mạnh mẽ tại Hoa Kỳ và nhiều nơi trên thế giới.

Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc cảnh cáo rằng truyền hình trực tiếp một cuộc hành quyết chẳng khác nào hành quyết công khai, và sẽ vi phạm lệnh cấm tuyệt đối đối với hành vi tra tấn. Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế lên án kế hoạch này, cho rằng nó chỉ làm tăng thêm tính tàn nhẫn của án tử hình.

Sự phản đối đến từ cả hai chính đảng. Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Thom Tillis cho rằng Hasan đáng chịu án tử hình, nhưng đem cuộc hành quyết ra cho công chúng xem là điều ghê tởm. Ông nhắc đến những cuộc hành quyết công khai tại Iran và Afghanistan.

Năm 2014, tổ chức khủng bố Nhà Nước Hồi Giáo (ISIS) quay phim cảnh chặt đầu hai ký giả Mỹ James Foley và Steven Sotloff, rồi tung lên Internet. Năm sau, ISIS công bố phim hành quyết khoảng 25 tù nhân Syria trước đám đông tại đấu trường cổ Palmyra. Những hình ảnh ấy được dùng để gieo kinh hoàng, thị uy và tuyên truyền.

Không thể đánh đồng tội ác của ISIS với một bản án của tòa án Hoa Kỳ. Nhưng việc phô bày cái chết trước hàng triệu người vẫn đặt ra câu hỏi: thực thi công lý hay biểu dương quyền lực? 

Gần một thế kỷ nay, Hoa Kỳ không còn tổ chức hành quyết trước đám đông. Vụ treo cổ Rainey Bethea tại Kentucky năm 1936, với hàng ngàn người chứng kiến, thường được xem là cuộc hành quyết công khai cuối cùng theo lối cũ trên đất Mỹ.

Từ đó, các cuộc hành quyết được đưa vào bên trong nhà tù, trước một số nhân chứng được phép hiện diện. Nước Mỹ vẫn duy trì án tử hình, nhưng đã bỏ cảnh hàng ngàn người chen chúc nhau xem một người bị giết.

Vấn đề không chỉ là chuyện truyền hình trực tiếp, mà còn là chiều hướng thi hành án tử hình tại Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ, một trong những quốc gia dân chủ giàu mạnh và phát triển nhất thế giới, lại nằm trong nhóm năm nước có số người bị hành quyết cao nhất năm 2025. Theo Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế, Hoa Kỳ hành quyết 47 người, so với 25 người năm 2024, tăng 88%, mức cao nhất kể từ năm 2009. Riêng tiểu bang Florida hành quyết 19 người, chiếm 40% tổng số trên toàn quốc.

Đặt những con số ấy bên cạnh các nước phát triển khác, sự chênh lệch càng rõ. Năm 2025, Nhật Bản hành quyết một người, Singapore 17 người; trong khi Thụy Điển, Pháp, Đức, Anh, Canada, Úc và tất cả các nước trong Liên Hiệp Âu Châu không hành quyết một ai. Trên toàn thế giới, Ân Xá Quốc Tế chỉ ghi nhận 17 quốc gia có thi hành án tử hình trong năm ấy. Hoa Kỳ vẫn là quốc gia duy nhất tại châu Mỹ còn hành quyết tù nhân.

Đáng chú ý hơn, số người bị hành quyết gia tăng trong lúc sự ủng hộ án tử hình tại Hoa Kỳ lại sút giảm. Theo cuộc thăm dò Gallup năm 2025, chỉ còn 52% người Mỹ tán thành án tử hình, mức thấp nhất trong 50 năm; 44% phản đối. Trong những vụ án mà bồi thẩm đoàn phải chọn giữa án tử hình và tù chung thân, 56% đã chọn tù chung thân.



Ngày 20 tháng 1, 2025, Trump ký sắc lệnh “Khôi Phục Án Tử Hình Và Bảo Vệ An Toàn Công Cộng”, coi tử hình là phương tiện cần thiết để trừng trị và ngăn ngừa những tội ác nghiêm trọng. Sắc lệnh chỉ thị Bộ Tư Pháp tích cực đề nghị án tử hình trong những vụ án hội đủ điều kiện, đồng thời tìm cách tháo gỡ những trở ngại pháp lý đang giới hạn việc áp dụng hình phạt này.

Những người bênh vực án tử hình thường nêu ra hai lý lẽ: kẻ phạm tội ác tày trời phải chịu hình phạt tương xứng, và án tử hình có thể khiến những kẻ khác chùn tay.

Lý lẽ thứ nhất thuộc về quan niệm công lý. Nỗi đau của gia đình các nạn nhân không thể bị xem nhẹ, cũng không ai có quyền buộc họ phải tha thứ cho kẻ sát nhân. Nhưng lý lẽ thứ hai phải được chứng minh bằng sự kiện.

Năm 2012, Hội Đồng Nghiên Cứu Quốc Gia Hoa Kỳ, sau khi khảo sát những công trình nghiên cứu trong hơn ba thập niên, kết luận rằng chưa có đủ bằng chứng để xác định án tử hình làm giảm, làm tăng hay không ảnh hưởng đến tỷ lệ giết người. Cho đến nay, chưa có căn cứ khoa học đáng tin cậy để khẳng định án tử hình ngăn ngừa tội sát nhân hữu hiệu hơn những hình phạt tù dài hạn.

Trong khi đó, án tử hình có một hậu quả không thể vãn hồi. Người bị kết án oan còn có thể được trả tự do khi tìm thấy bằng chứng mới. Người đã bị hành quyết thì không còn cơ hội ấy.

Đó là một trong những lý do khiến nhiều quốc gia lần lượt từ bỏ án tử hình.

Thụy Điển đã chọn con đường ấy từ hơn một thế kỷ trước. Pháp bãi bỏ án tử hình năm 1981. Canada bãi bỏ đối với các tội phạm thông thường năm 1976, rồi bãi bỏ hoàn toàn năm 1998. Anh Quốc chấm dứt án tử hình đối với tội sát nhân năm 1965, và xóa bỏ những hình thức còn lại năm 1998.

Ngày nay, toàn thể Liên Hiệp Âu Châu đã bãi bỏ án tử hình. Tại Âu Châu, Belarus là nước duy nhất còn thi hành hình phạt này; Nga vẫn giữ án tử hình trong luật nhưng đã ngưng thi hành từ nhiều thập niên.

Những quốc gia ấy không phải không có tội phạm, cũng chẳng phải đã giải quyết được mọi vấn đề an ninh. Họ vẫn có nhà tù, vẫn kết án những kẻ sát nhân nguy hiểm. Nhưng họ đã đặt ra một giới hạn cho quyền lực của nhà nước, trừng phạt tội phạm không nhất thiết phải tước đoạt mạng sống.

Đúng lúc Hoa Kỳ tranh luận về cuộc hành quyết Hasan, ngày 10 tháng 10, nhân Ngày Thế Giới Chống Án Tử Hình, Đức Giáo Hoàng Leo XIV tái khẳng định lập trường của Giáo Hội Công Giáo: án tử hình không thể chấp nhận được vì xúc phạm phẩm giá con người. Theo ngài, xã hội vẫn có thể bảo vệ công ích và thực thi công lý mà không cần giết người phạm tội.

Giáo Hội Công Giáo trước kia vẫn chấp nhận án tử hình trong một số hoàn cảnh. Đến năm 2018, Đức Giáo Hoàng Francis sửa đổi Sách Giáo Lý Công Giáo, xác định án tử hình không thể chấp nhận được trong mọi hoàn cảnh.

Một định chế tôn giáo có lịch sử gần hai ngàn năm đã có thể xét lại quan niệm của mình về quyền sống. Trong khi đó, chính quyền của một quốc gia hùng mạnh bậc nhất thế giới lại đang tính đem cảnh hành quyết ra trình diễn trước công chúng.

Sự trái ngược càng đáng suy nghĩ vì Leo XIV là vị giáo hoàng đầu tiên sinh ra tại Hoa Kỳ, còn Phó Tổng Thống JD Vance cũng là một người Công Giáo. Vance nói ông sẽ không xem cuộc hành quyết nếu được truyền hình trực tiếp, nhưng không lên án kế hoạch của chính quyền.

Không xem là sự lựa chọn của một cá nhân. Còn có cho nhà nước đem cái chết ra trước công chúng để răn đe hay không lại là một vấn đề chính trị và đạo đức.

Trong lịch sử, các chế độ độc tài thường tổ chức hành quyết công khai không chỉ để trừng phạt mà còn để thị uy. Cảnh một người bị giết theo lệnh nhà nước là lời nhắc nhở dân chúng về quyền sinh sát của kẻ cầm quyền.

Dĩ nhiên, không thể chỉ vì dự định truyền hình trực tiếp mà đánh đồng Hoa Kỳ với Iran hay Afghanistan. Hoa Kỳ vẫn có hệ thống tòa án, những quyền tự do được Hiến Pháp bảo đảm, cùng những định chế pháp luật có thể xét lại hoặc ngăn chặn quyết định của chính quyền.

Nhưng chính vì Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ, việc dùng cái chết để biểu dương quyền lực lại càng đáng phải đặt thành vấn đề.

Quyền lực của một chính quyền dân chủ không chỉ được đo bằng những gì chính quyền có thể làm, mà còn bằng những giới hạn chính quyền tự đặt ra cho mình.

Đó là điều khiến tôi nghĩ ngợi trong những ngày ở Thụy Điển.

Tôi không nghĩ Thụy Điển là một xã hội hoàn hảo. Không quốc gia nào hoàn hảo. Nhưng về án tử hình, người Thụy Điển đã quyết định từ hơn một thế kỷ trước rằng nhà nước không cần giết người để thực thi công lý.

Chiếc máy chém của họ giờ đây nằm trong viện bảo tàng.

Ở Hoa Kỳ năm 2026, chính quyền đang cân nhắc đưa cảnh hành quyết một tử tù bằng súng lên màn ảnh cho cả thế giới xem. Gần chín mươi năm sau khi từ bỏ những cuộc hành quyết công khai, nước Mỹ lại tính quay về với cảnh tượng thời trung cổ ấy.

Nước Mỹ đã đưa người lên Mặt Trăng, chế tạo trí tuệ nhân tạo, mở ra những chân trời mới cho khoa học và kỹ thuật. Nhưng tiến bộ về kỹ thuật không bảo đảm tiến bộ về đạo đức. Một quốc gia có thể tiến rất xa trên một con đường, rồi quay đầu trên một con đường khác.

Nghĩ đến chuyện quay đầu, tôi nhớ đến loài tôm hùm với khả năng bơi giật lùi. Khi gặp nguy hiểm, nó quật mạnh đuôi, phóng ngược về phía sau để thoát thân. Đó là bản năng tự vệ.

Con người thì khác. Chúng ta có lịch sử để học hỏi, có trí khôn để phân biệt tiến bộ với thoái lui.

Nước Mỹ đang quay trở lại những điều chính mình từng xem là lạc hậu, rồi gọi đó là một bước tiến.

Nina Lê

Từ ngày nước Mỹ lập quốc, chưa bao giờ nụ cười của một ứng cử viên tổng thống lại bị đối thủ mang ra mổ xẻ, tấn công với những lời lẽ không phù hợp với tư cách một người tranh cử vị trí lãnh đạo quốc gia. Nhưng ngược lại, cũng chưa bao giờ nụ cười của một ứng cử viên tổng thống lại trở thành niềm hy vọng cho một đất nước đang đối đầu với mối nguy hiểm “duy nhất suốt 248 năm” (theo lời cựu Phó Tổng Thống Dick Chenny.) Đó là nụ cười của Kamala Harris – Một nụ cười đang ngày càng thay hình đổi dạng cuộc tranh cử tổng thống kinh điển của nước Mỹ.
Cựu Tổng Thống Donald Trump đã trình bầy kế hoạch kinh tế của ông tại Economic Club of New York trước đám đông các kinh tế gia, lãnh đạo doanh nghiệp và nhà báo vào 5-9-2024 vừa qua. Buổi nói chuyện này nằm trong chiến dịch tranh cử. Kế hoạch kinh tế trong nhiệm kỳ 2 nếu ông thắng cử bao gồm nhiều chính sách mà ông đã thi hành trong bốn năm đầu cầm quyền. Ông tuyên bố sẽ loại bỏ nhiều chương trình của chính quyền Biden. Ứng cử viên tổng thống của Cộng Hòa quảng cáo chương trình của ông với thuế nội địa thấp, thuế nhập cảng cao chưa từng thấy, giảm bớt luật lệ, và kinh tế phát triển mạnh. Nhưng nhiều chuyên viên đã nghi ngờ giá trị của chương trình kinh tế này. Nhiều người đã lên tiếng chỉ trích đề xuất kinh tế của Trump như chúng ta sẽ thấy trong những phần dưới đây của bài báo này.
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 sắp tới không chỉ định hình tương lai chính trị của quốc gia trong vài năm tới mà còn đặt ra những câu hỏi căn bản về bản sắc và tương lai của chính nước Mỹ. Trong khi kết quả bầu cử sẽ quyết định nhiều vấn đề quan trọng, những xung đột sâu sắc về bản chất của nước Mỹ đã được phản ảnh rõ nét qua đường lối, chính sách nêu ra tại hai đại hội Đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vừa qua.
Tôi đã xem qua cả trăm bài viết với với nội dung và ngôn từ (“đầu đường xó chợ”) tương tự nhưng chưa bao giờ bận tâm hay phiền hà gì sất. Phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, các bạn DLV đều không quen cầm bút nên viết lách hơi bị khó khăn, và vô cùng khó đọc. Họ hoàn toàn không có khái niệm chi về câu cú và văn phạm cả nên hành văn lủng củng, vụng về, dài dòng, lan man trích dẫn đủ thứ nghị quyết (vớ vẩn) để chứng minh là đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước luôn luôn đúng đắn. Họ cũng sẵn sàng thóa mạ bất cứ ai không “nhận thức được sự đúng đắn” này, chứ không thể lập luận hay phản bác bất cứ một cáo buộc nào ráo trọi.
Ngày 20/7/1969, hai phi hành gia Neil Armstrong và Edwin Aldrin đi vào lịch sử như là hai người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng thế nhưng sự kiện này bị một số nhà “lý thuyết âm mưu” lên tiếng phủ nhận. Căn cứ vào những điểm “khả nghi” trong tấm hình chụp Armstrong đứng cạnh lá cờ cắm trên Mặt Trăng, họ quả quyết rằng tất cả chỉ là chuyện dàn dựng và bức hình này chỉ được chụp tại một sa mạc ở Nevada. Nhưng bằng chứng của vụ đổ bộ ấy đâu chỉ duy nhất một tấm hình? Tàu Appollo 11 phóng từ mũi Kennedy trước con mắt hàng chục ngàn người và hàng trăm triệu người qua ống kính truyền hình. Hàng trăm ngàn thước phim quay được và chụp được khi tàu Appollo vờn trên quỹ đạo quanh mặt trăng, cảnh tàu con rời tàu mẹ để đổ bộ, cảnh các phi hành gia đi bộ và cả những túi đất đá mang về từ Mặt Trăng v.v. Chúng ta thấy gì ở đây? Những bằng chứng xác thực thì nặng như núi nhưng, khi đã cố tình không tin, đã cố vạch ra những âm mưu thì chỉ cần mấy điểm khả nghi nhẹ tựa lông hồng.
Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…” Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực...
Năm 2012 Tập Cận Bình được bầu làm Tổng Bí Thư Trung Ương Đảng; năm 2013 trở thành Chủ Tịch Nước; đến năm 2018 tư tưởng Tập Cận Bình được chính thức mang vào Hiến Pháp với tên gọi “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Tập Cận Bình đem lại nhiều thay đổi sâu sắc trong xã hội Trung Quốc, mối bang giao Mỹ-Trung và nền trật tự thế giới...
Xem ra thì người Mỹ, không ít, đang chán tự do và nước Mỹ đang mấp mé bên bờ vực của tấn thảm kịch mà nước Đức đã sa chân cách đây một thế kỷ khi, trong cuộc bầu cử năm 1933, trao hết quyền tự do cho Adolf Hitler, để mặc nhà dân túy có đầu óc phân chủng, độc tài và máu điên này tùy nghi định đoạt số phận dân tộc. Mà nếu tình thế nghiêm trọng của nước Đức đã thể hiện từ trước, trong cương lĩnh đảng phát xít cả khi chưa nắm được chính quyền thì, bây giờ, với nước Mỹ, đó là Project 2025.
Từ 20 năm qua (2004-2024), vấn đề hợp tác giữa người Việt Nam ở nước ngoài và đảng CSVN không ngừng được thảo luận, nhưng “đoàn kết dân tộc” vẫn là chuyện xa vời. Nguyên nhân còn ngăn cách cơ bản và quan trọng nhất vì đảng Cộng sản không muốn từ bỏ độc quyền cai trị, và tiếp tục áp đặt Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh “làm nền tảng xây dựng đất nước”...
Cái ông Andropov (“nào đó”) nghe tên cũng có vẻ quen quen nhưng nhất thời thì tôi không thể nhớ ra được là ai. Cả ủy ban nhân dân Rạch Gốc và nhà văn Nguyên Ngọc cũng vậy, cũng bù trất, không ai biết thằng chả ở đâu ra nữa. Tuy vậy, cả nước, ai cũng biết rằng trong cái thế giới “bốn phương vô sản đều là anh em” thì bất cứ đồng chí lãnh đạo (cấp cao) nào mà chuyển qua từ trần thì đều “thuộc diện quốc tang” ráo trọi – bất kể Tây/Tầu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.