Hôm nay,  

Chiến Tranh Và Kinh Tế

19/07/200600:00:00(Xem: 9107)

Kinh tế Mỹ có thể chỉ bị suy trầm nhẹ chứ các nước đang phát triển tại Đông Á sẽ bị suy thoái, thậm chí khủng hoảng như Nhật Bản đã bị năm 1990 và Đông Á đã bị năm 1997.

Thế giới đang e ngại nguy cơ suy trầm kinh tế thì đúng một tuần sau khi Bắc Hàn phóng hỏa tiễn tại Đông Bắc Á, quân khủng bố lại đánh bom tại Mumbai của Ấn Độ; thế rồi xung đột vừa bùng nổ tại Trung Đông và có thể suy đồi thành chiến tranh lan rộng. Diễn đàn Kinh tế Đài RFA sẽ tìm hiểu về hậu quả của cuộc chiến đối với kinh tế toàn cầu qua cuộc trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, chiến cuộc tại Trung Đông đã kéo dài một tuần và chưa có hướng lắng dịu khiến dầu thô đã vọt tăng giá và nhiều thị trường chứng khoán bị suy sụp. Với viễn ảnh bất trắc về kinh tế toàn cầu mà chúng ta đã đề cập tới từ ba tuần qua, kỳ này, xin đề nghị là chúng ta sẽ phân tích xem chiến tranh Trung Đông mà lan rộng thì sẽ ảnh hưởng thế nào đến sinh hoạt kinh tế toàn cầu. Chúng ta sẽ bắt đầu từ vùng hỏa tuyến ra thế giới.

- Thưa vâng, nếu đi từ Lebanon là nơi xuất phát biến cố châm ngòi là vụ lực lượng Hezbollah tấn công các đơn vị Israel và bắt giữ hai tù binh Do Thái làm con tin ngày 11 tháng Bảy khiến Israel trả đũa rồi đôi bên mở cuộc tấn công bằng đại pháo, không kích và hoả tiễn, thì hai quốc gia bị ảnh hưởng kinh tế nặng nhất sẽ là xứ Lebanon và sau đó là Israel.

- Hỏi: Từ hai xứ đó, ảnh hưởng bất lợi về kinh tế sẽ ra sao đến các xứ khác trong khu vực"

- Lebanon là nước nghèo và nhỏ không có tầm ảnh hưởng lớn đến thế giới trừ một lãnh vực. Đó là ma túy. Tôi xin giải thích, quốc gia này chưa có đến bốn triệu dân, có tổng sản lượng GDP tính theo tỷ giá mãi lực thì chỉ có chưa đầy 20 tỷ, bằng một phần mười của Việt Nam, dù lợi tức đồng niên một đầu người có thể cao hơn gấp 10, khoảng hơn năm nghìn Mỹ kim. Xứ này sống chủ yếu nhờ nông nghiệp và du lịch mà cũng là nơi chuyển ngân khá tự do của khu vực vì hệ thống ngân hàng thô thiển và thiếu kiểm soát.

- Hỏi: Xin hỏi ngay là ông vừa nói đến ma túy, vì sao lại như vậy"

- Ngòi nổ của vụ xung đột nằm tại thung lũng Bekaa, một vùng thuộc quyền kiểm soát của lực lượng Hezbollah và là một trung tâm chế biến ma túy từ thuốc phiện xuất phát từ Aghanistan. Việc quân lực Israel đang tấn công khu vực này và cả thủ đô Beirut tất nhiên ảnh hưởng đến nguồn cung cấp ma tuý, kinh tài và chuyển ngân lậu của quân khủng bố. Nhưng đây chỉ là ảnh hưởng thu hẹp nếu so với thiệt hại lớn lao hơn của Israel. Theo chiều hướng được thấy trong tuần qua, toàn lãnh thổ Israel đều có thể nằm dưới tầm hoả tiễn của quân khủng bố, kể cả Tel Aviv và Jerusalem nên sinh hoạt kinh tế tất nhiên bị thiệt hại nặng. Dù chỉ có bảy triệu dân, Israel có nền kinh tế giàu gấp đôi hai nền kinh tế lân bang gộp lại là Lebanon và Syria.

- Hỏi: Và phải chăng vì Syria có liên hệ đến vụ xung đột nên có thể cũng bị lôi vào cuộc"

- Hezbollah được Iran yểm trợ về chiến lược và Syria về chiến thuật nên Syria có thể cũng sẽ bị Israel tấn công - như đã từng bị trong quá khứ. Trong giả thuyết đó, sản lượng xuất khẩu chừng 200 ngàn thùng dầu thô một ngày của Syria sẽ bị gián đoạn nếu giếng dầu bị tấn công hoặc hải cảng Banias bị phong toả. Điều ấy hơn là ma túy tại Lebanon mới trở thành mối lo toàn cầu nếu chiến tranh lan rộng và kéo dài. Trong khung cảnh vốn đã bất ổn vì Iran hăm dọa sử dụng dầu hỏa làm võ khí kinh tế, Bắc Hàn phóng hỏa tiễn và Nigeria bị khủng hoảng, dầu thô đã có lúc vượt mức 78 đồng một thùng và sẽ còn lên xuống rất thất thường đột ngột.

- Hỏi: Trước khi đi vào hậu quả chính yếu của chiến cuộc tại Trung Đông, vốn là nguồn cung cấp dầu khí lớn nhất của thế giới, xin hỏi ông thêm là còn những loại thương phẩm hay hàng hoá nào sẽ bị ảnh hưởng nữa"

- Có một nghịch lý ở đây là khi tình hình thế giới bất ổn như vậy, đồng Mỹ kim sẽ lên giá vì suy đi tính lại người ta thấy rằng lưu giữ tài sản bằng đô la Mỹ hoặc đầu tư vào Hoa Kỳ vẫn là nơi an toàn nhất. Kế tiếp là vàng cũng sẽ lên giá, nhất là ở những vùng không dễ đổi đô la. Khi dầu thô và đô la lên giá, đồng bạc của các xứ khác cũng mất giá nếu so với Mỹ kim. Và chìm bên dưới là một mối nguy khác là vật giá có thể gia tăng đồng loạt do hiện tượng gọi là "lạm phát vì phí tổn".

- Hỏi: Bây giờ ta nói đến chuyện dầu khí lên giá. Hậu quả chung sẽ là thế nào"

- Nói chung thì những nước xuất khẩu có lợi và nhập khẩu bị thiệt. Nhưng dù có xuất khẩu thì vẫn bị ảnh hưởng gián tiếp khi nhập khẩu hàng hoá với giá cao hơn vì cần tới nguyên nhiên liệu là dầu khí và vì chi phí bảo hiểm và vận chuyển cũng gia tăng. Mức độ thiệt hại vì vậy cũng tùy ở mức độ lệ thuộc vào dầu khí và ngoại thương nhiều hay ít.

- Hỏi: Trong trường hợp mà giao tranh kéo dài và có khi lan tới các cứ khác thì một cơn chấn động về dầu khí có thể ảnh hưởng thế nào đến các nền kinh tế"

- Mức độ ảnh hưởng nặng nhẹ cũng còn tùy mức lệ thuộc của từng nền kinh tế vào năng lượng dầu khí trong cơ cấu sản xuất mà ta có thể gọi là "hiệu năng tiêu thụ", cụ thể là cần bao nhiêu đơn vị dầu khí để sản xuất ra cùng một đơn vị hàng hoá. Ngoài Nhật Bản, các nước Đông Á đều có hiệu năng tiêu thụ kém, thua hẳn nền kinh tế của các nước công nghiệp Tây phương.

- Hỏi: Nói về từng khối kinh tế lớn thì hậu quả của một cơn chấn động dầu khí sẽ ra sao"

- Trên đại thể thì hậu quả ấy cũng còn tùy vào hoàn cảnh hiện thời của từng nền kinh tế. Nói chung thì cả ba khối kinh tế mạnh nhất đều bị thiệt hại và vì vậy cũng gây hậu quả cho các nước khác nếu xuất khẩu mạnh vào các thị trường này.

Trước tiên là kinh tế Âu châu hiện đang gặp nhiều vấn đề nhất. Các nước lớn nhất Liên hiệp Âu châu vốn đã có nhiều bất trắc về chính trị cũng lại có mức tăng trưởng bấp bênh nhất, chỉ bằng phân nửa tốc độ tăng trưởng của Hoa Kỳ. Mạnh nhất Âu châu là kinh tế Đức thì cũng là nơi mà niềm tin của giới đầu tư và tiêu thụ có chiều hướng suy sụp nhất. Với lãi suất ngân hàng đã tăng, một vụ chấn động về dầu khí sẽ gây ra suy trầm cho cả khu vực và ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu của các nước khác vào thị trường Âu châu, đồng thời càng đẩy mạnh phản ứng quốc gia cực đoan về kinh tế và duy trì tình trạng bảo hộ mậu dịch đầy bất lợi cho các nước nghèo.

- Hỏi: Còn trường hợp của các nước khác, thí dụ như Nhật Bản, là khối kinh tế thứ nhì thế giới"

- Hôm 14 vừa qua, Ngân hàng Trung ương Nhật đã nâng lãi suất, lần đầu tiên kể từ sáu năm nay và mặc nhiên chấm dứt thời kỳ lãi suất nằm ở số không vì nạn giảm phát và suy trầm.

- Hỏi: Việc ấy có là chỉ dấu cho thấy kinh tế Nhật đã hoàn toàn phục hồi hay không"

- Thưa phục hồi thì có nhưng hoàn toàn phục hồi thì chưa. Nhật Bản đã có chính sách tài trợ với lãi suất rất rẻ để sản xuất và xuất khẩu tối đa hầu chiếm thị phần mà bất cần lời lỗ, y hệt như trường hợp Trung Quốc ngày nay. Hậu quả của chính sách ấy đã thổi lên trái bóng đầu tư trên một núi nợ rất lớn, đa số là nợ khó đòi và sẽ mất. Khi trái bóng bị vỡ vào đầu thập kỷ 90, kinh tế Nhật bị khủng hoảng và Nhật phải bơm tiền vào nền kinh tế đến nỗi trong vòng có mấy năm đang là chủ nợ lớn nhất thế giới biến thành con nợ lớn nhất thế giới.

Ngày nay, nạn giảm phát đã bị đẩy lui và Nhật lại e ngại lạm phát nên mới phải tăng lãi suất ngân hàng thêm 25 điểm, là 0,25%, nhưng triển vọng vẫn chưa sáng sủa. Kinh tế Nhật bị bội chi ngân sách đến 6% của tổng sản lượng GDP và dân số lên tới đỉnh cao nhất vào năm 2004; từ nay mỗi năm sẽ giảm dần, thành phần ở tuổi lao động và đóng thuế cho ngân sách cũng vậy. Đã thế, Nhật Bản còn ở dưới tầm hoả tiễn của Bắc Hàn và nay lại bị nguy cơ chấn động về dầu khí nên năm tới có thể gặp hoàn cảnh của một con bệnh vừa hồi phục thì lại ngã bệnh.

- Hỏi: Còn trường hợp của Hoa Kỳ"

- Dù có hiệu năng tiêu thụ dầu khí cao nhất, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia tiêu thụ dầu khí mạnh nhất. Kinh tế Hoa Kỳ hiện đang bị hai nguy cơ song hành là vừa đình trệ vừa lạm phát, thuật ngữ kinh tế gọi là "stagflation", stagnation với inflation. Vì nguy cơ lạm phát, Hoa Kỳ đã tăng lãi suất 17 lần liên  tục, lần cuối vào ngày 29 tháng trước, và có thể sẽ còn tăng lãi suất thêm một lần nữa vào ngày mùng tám tháng tới. Trong khi ấy, hiệu ứng phồn thịnh của thị trường gia cư nhờ tài sản địa ốc tăng giá mạnh trong năm năm liền, hiệu ứng ấy đã hết vì thị trường địa ốc nay đã nguội. Giá nhà hết tăng khiến người ta có cảm giác như mình nghèo hơn và tần tiện chi tiêu hơn trước. Mức tin tưởng của giới tiêu thụ có sút giảm như một biểu hiện của tâm lý ấy. Vào đúng lúc này mà dầu thô lại lên giá và sẽ còn giữ giá cao cho đến năm tới thì kinh tế tất nhiên bị ảnh hưởng. Ngay trước mắt thì giá xăng tại Mỹ đã mấp mé ba đô la một ga-lông và có thể sớm vượt qua ngưỡng ấy nếu chiến tranh lan rộng tại Trung Đông khiến sức chi tiêu của dân chúng bị hao hụt có thể đến trăm tỷ. Khi kinh tế Hoa Kỳ, Nhật Bản và Âu châu đều bị đình trệ hoặc suy trầm cùng lúc thì kinh tế các nước khác tất nhiên sẽ lãnh hậu quả nặng vì nhập khẩu đắt hơn mà xuất khẩu lại ít hơn.

- Hỏi: Dầu vậy, tuần qua Trung Quốc vừa cho biết là kinh tế xứ này đã đạt mức tăng trưởng bình quân là gần 11%, liệu xứ này có thoát được nguy cơ suy trầm của nhiều xứ khác chăng"

- Tôi e rằng không, có thể bị chậm hơn nhưng cũng sẽ nặng hơn là đằng khác. Chúng ta nhớ tới Nhật Bản 15 năm trước thì có thể sẽ thấy tái diễn trường hợp tương tự trong một hai năm tới. Trung Quốc đã có tăng lãi suất và tiết giảm tín dụng mà không có kết quả nên hôm Chủ Nhật Thủ tướng Ôn Gia Bảo chỉ thị cho bộ máy chính quyền phải triệt để quan tâm đến những thất quân bình và bất ổn kinh tế. Hơn một năm sau khi chính quyền đã ban hành biện pháp hạ nhiệt kinh tế mà vẫn tăng trưởng 2% cao hơn chỉ tiêu thì ta phải thấy ra khả năng quản lý rất kém của xứ này. Với nguy cơ lạm phát gia tăng, một cơn chấn động dầu khí vì chiến tranh tại Trung Đông có thể sẽ lây lan thành khủng hoảng vào năm tới. Đã thế, cuối năm nay Trung Quốc phải mở cửa cho hệ thống ngân hàng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài, núi nợ xấu của hệ thống ngân hàng sẽ đổ và khủng hoảng tài chính càng dễ xảy ra.

- Hỏi: Trong giả thuyết ấy, tình hình khu vực Đông Á sẽ ra sao"

- Kinh tế Trung Quốc cũng giống như người đi xe đạp, không đạp thì xe đổ. Khi gặp nguy cơ khủng hoảng ngân hàng vì mất nợ, họ sẽ càng cố đạp xe cho mạnh. Họ càng đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa, bất kể lời lỗ, tức là bán hàng dưới cả giá thành. Các nước trong khu vực sẽ bị cạnh tranh kịch liệt hơn về ngoại thương vào đúng lúc xuất khẩu của mình gặp khó khó khăn vì suy trầm toàn cầu.

Hậu quả thứ hai là chính quyền sẽ lại bơm tiền cấp cứu các doanh nghiệp nhà nước để khỏi gặp nạn thất nghiệp và động loạn xã hội, cho nên tranh chấp về mậu dịch sẽ càng gay gắt hơn. Sau cùng, luồng tư bản tháo chạy khỏi khu vực Đông Á đầy bất trắc này sẽ chảy ngược về Hoa Kỳ là nơi an toàn hơn cả. Kinh tế Mỹ có thể chỉ bị suy trầm nhẹ chứ các nước đang phát triển tại Đông Á sẽ bị suy thoái, thậm chí khủng hoảng như Nhật Bản đã bị năm 1990 và Đông Á đã bị năm 1997.

 

Từ ngày nước Mỹ lập quốc, chưa bao giờ nụ cười của một ứng cử viên tổng thống lại bị đối thủ mang ra mổ xẻ, tấn công với những lời lẽ không phù hợp với tư cách một người tranh cử vị trí lãnh đạo quốc gia. Nhưng ngược lại, cũng chưa bao giờ nụ cười của một ứng cử viên tổng thống lại trở thành niềm hy vọng cho một đất nước đang đối đầu với mối nguy hiểm “duy nhất suốt 248 năm” (theo lời cựu Phó Tổng Thống Dick Chenny.) Đó là nụ cười của Kamala Harris – Một nụ cười đang ngày càng thay hình đổi dạng cuộc tranh cử tổng thống kinh điển của nước Mỹ.
Cựu Tổng Thống Donald Trump đã trình bầy kế hoạch kinh tế của ông tại Economic Club of New York trước đám đông các kinh tế gia, lãnh đạo doanh nghiệp và nhà báo vào 5-9-2024 vừa qua. Buổi nói chuyện này nằm trong chiến dịch tranh cử. Kế hoạch kinh tế trong nhiệm kỳ 2 nếu ông thắng cử bao gồm nhiều chính sách mà ông đã thi hành trong bốn năm đầu cầm quyền. Ông tuyên bố sẽ loại bỏ nhiều chương trình của chính quyền Biden. Ứng cử viên tổng thống của Cộng Hòa quảng cáo chương trình của ông với thuế nội địa thấp, thuế nhập cảng cao chưa từng thấy, giảm bớt luật lệ, và kinh tế phát triển mạnh. Nhưng nhiều chuyên viên đã nghi ngờ giá trị của chương trình kinh tế này. Nhiều người đã lên tiếng chỉ trích đề xuất kinh tế của Trump như chúng ta sẽ thấy trong những phần dưới đây của bài báo này.
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 sắp tới không chỉ định hình tương lai chính trị của quốc gia trong vài năm tới mà còn đặt ra những câu hỏi căn bản về bản sắc và tương lai của chính nước Mỹ. Trong khi kết quả bầu cử sẽ quyết định nhiều vấn đề quan trọng, những xung đột sâu sắc về bản chất của nước Mỹ đã được phản ảnh rõ nét qua đường lối, chính sách nêu ra tại hai đại hội Đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vừa qua.
Tôi đã xem qua cả trăm bài viết với với nội dung và ngôn từ (“đầu đường xó chợ”) tương tự nhưng chưa bao giờ bận tâm hay phiền hà gì sất. Phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, các bạn DLV đều không quen cầm bút nên viết lách hơi bị khó khăn, và vô cùng khó đọc. Họ hoàn toàn không có khái niệm chi về câu cú và văn phạm cả nên hành văn lủng củng, vụng về, dài dòng, lan man trích dẫn đủ thứ nghị quyết (vớ vẩn) để chứng minh là đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước luôn luôn đúng đắn. Họ cũng sẵn sàng thóa mạ bất cứ ai không “nhận thức được sự đúng đắn” này, chứ không thể lập luận hay phản bác bất cứ một cáo buộc nào ráo trọi.
Ngày 20/7/1969, hai phi hành gia Neil Armstrong và Edwin Aldrin đi vào lịch sử như là hai người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng thế nhưng sự kiện này bị một số nhà “lý thuyết âm mưu” lên tiếng phủ nhận. Căn cứ vào những điểm “khả nghi” trong tấm hình chụp Armstrong đứng cạnh lá cờ cắm trên Mặt Trăng, họ quả quyết rằng tất cả chỉ là chuyện dàn dựng và bức hình này chỉ được chụp tại một sa mạc ở Nevada. Nhưng bằng chứng của vụ đổ bộ ấy đâu chỉ duy nhất một tấm hình? Tàu Appollo 11 phóng từ mũi Kennedy trước con mắt hàng chục ngàn người và hàng trăm triệu người qua ống kính truyền hình. Hàng trăm ngàn thước phim quay được và chụp được khi tàu Appollo vờn trên quỹ đạo quanh mặt trăng, cảnh tàu con rời tàu mẹ để đổ bộ, cảnh các phi hành gia đi bộ và cả những túi đất đá mang về từ Mặt Trăng v.v. Chúng ta thấy gì ở đây? Những bằng chứng xác thực thì nặng như núi nhưng, khi đã cố tình không tin, đã cố vạch ra những âm mưu thì chỉ cần mấy điểm khả nghi nhẹ tựa lông hồng.
Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…” Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực...
Năm 2012 Tập Cận Bình được bầu làm Tổng Bí Thư Trung Ương Đảng; năm 2013 trở thành Chủ Tịch Nước; đến năm 2018 tư tưởng Tập Cận Bình được chính thức mang vào Hiến Pháp với tên gọi “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Tập Cận Bình đem lại nhiều thay đổi sâu sắc trong xã hội Trung Quốc, mối bang giao Mỹ-Trung và nền trật tự thế giới...
Xem ra thì người Mỹ, không ít, đang chán tự do và nước Mỹ đang mấp mé bên bờ vực của tấn thảm kịch mà nước Đức đã sa chân cách đây một thế kỷ khi, trong cuộc bầu cử năm 1933, trao hết quyền tự do cho Adolf Hitler, để mặc nhà dân túy có đầu óc phân chủng, độc tài và máu điên này tùy nghi định đoạt số phận dân tộc. Mà nếu tình thế nghiêm trọng của nước Đức đã thể hiện từ trước, trong cương lĩnh đảng phát xít cả khi chưa nắm được chính quyền thì, bây giờ, với nước Mỹ, đó là Project 2025.
Từ 20 năm qua (2004-2024), vấn đề hợp tác giữa người Việt Nam ở nước ngoài và đảng CSVN không ngừng được thảo luận, nhưng “đoàn kết dân tộc” vẫn là chuyện xa vời. Nguyên nhân còn ngăn cách cơ bản và quan trọng nhất vì đảng Cộng sản không muốn từ bỏ độc quyền cai trị, và tiếp tục áp đặt Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh “làm nền tảng xây dựng đất nước”...
Cái ông Andropov (“nào đó”) nghe tên cũng có vẻ quen quen nhưng nhất thời thì tôi không thể nhớ ra được là ai. Cả ủy ban nhân dân Rạch Gốc và nhà văn Nguyên Ngọc cũng vậy, cũng bù trất, không ai biết thằng chả ở đâu ra nữa. Tuy vậy, cả nước, ai cũng biết rằng trong cái thế giới “bốn phương vô sản đều là anh em” thì bất cứ đồng chí lãnh đạo (cấp cao) nào mà chuyển qua từ trần thì đều “thuộc diện quốc tang” ráo trọi – bất kể Tây/Tầu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.