Hôm nay,  

Cứu Gạo Hại Dân

29/11/200600:00:00(Xem: 10156)

Cứu Gạo Hại Dân

...nếu lại bị thiên tai, thì một xứ bán gạo như Việt Nam vẫn bị khốn đốn vì yêu cầu tiêu thụ rất lớn trong nước...

Với viễn ảnh gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, một hồ sơ mà Việt Nam cần chú ý là chế độ trợ giá lúa gạo trên thế giới vì gạo là nông sản trọng yếu của Việt Nam và chi phối sinh hoạt của đại đa số dân chúng miền quê. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu bối cảnh của hồ sơ này qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, trong một kỳ trước, khi phân tích về Thượng đỉnh APEC và vòng đàm phán Doha của Tổ chức WTO, ông nói đến việc trợ giá nông sản của các nước công nghiệp khiến các quốc gia đang phát triển và sống về nông nghiệp bị thiệt thòi.

Kỳ này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ cùng tìm hiểu về hồ sơ trợ giá lúa gạo vì lúa gạo là lương thực và nguồn lợi tức xuất khẩu chính yếu của Việt Nam. Ông nghĩ sao"

- Đề tài này đáng quan tâm với viễn ảnh gia nhập WTO. Việt Nam xuất khẩu gạo thứ nhì thế giới, bằng 16,4% của toàn cầu từ ba năm qua, vậy mà vừa rồi, chính Thủ tướng của Hà Nội phải ra lệnh tạm ngưng xuất khẩu khi vựa lúa miền Nam ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bị thất thu hơn 640 nghìn tấn so với năm ngoái, một phần ba vì sâu rầy và dịch bệnh. Trong khi ấy, dân Việt Nam tiêu thụ gạo nhiều nhất thế giới, bình quân là 232 ký một người trong một năm, hơn gấp đôi Trung Quốc, và lúa gạo còn chi phối đời sống của ít ra là 70% dân số Việt Nam. Cảnh ngộ bất trắc ấy càng đáng ngại khi trên thế giới, lúa gạo là nông sản được bảo vệ kỹ nhất và trợ cấp nhiều nhất, đặc biệt là tại một nước công nghiệp tiên tiến như Hoa kỳ.

- Hỏi: Trước khi đi vào hiện tượng bảo vệ bằng trợ cấp, xin ông trình bày khái quát về nông sản rất đặc biệt này của Việt Nam và thế giới.

- Nói chung, gạo là lương thực chính của phân nửa dân số thế giới, là ba tỷ dân. Tại Việt Nam, nói đến bữa ăn, người ta nói là "ăn cơm", là gạo nấu chín. Năm 2005, thế giới sản xuất ra 628 triệu tấn thóc, xay ra 409 triệu tấn gạo. Gạo có nhiều loại, chính yếu là gạo hạt dài, gạo hạt tròn, gạo thơm và gạo nếp. Quan trọng là loại gạo hạt dài, chiếm khoảng ¾ sản lượng giao dịch trên thế giới, kế tiếp là hạt tròn và gạo thơm- một loại hạt dài - mỗi thứ 12%, thấp nhất là gạo nếp chỉ có 1% sản lượng buôn bán. Việt Nam bước vào thị trường gạo quốc tế với loại gạo hạt dài và phải cạnh tranh rất mạnh với Thái Lan và cả Ấn Độ về loại gạo thơm.

- Hỏi: Đó là về bối cảnh chung, còn về sản lượng và số xuất nhập khẩu thì sao"

- Câu hỏi này rất hay vì chỉ ra sự khác biệt giữa sản lượng rất lớn với lượng xuất nhập rất nhỏ, lại tập trung vào mươi nước mà thôi. Nếu có trợ cấp, giá cả bên ngoài dễ dội ngược về sản lượng và lợi tức của nông dân ở bên trong các nước nghèo. Và nếu lại bị thiên tai, thì một xứ bán gạo như Việt Nam vẫn bị khốn đốn vì yêu cầu tiêu thụ rất lớn trong nước.

Về sản xuất, bốn xứ trồng gạo nhiều nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Bangladesh. Sau đó mới tới Việt Nam rồi Thái Lan; Hoa Kỳ chỉ đứng hàng thứ 10, với sản lượng chỉ có 1,7% của thế giới, chưa bằng 1/3 của Việt Nam. Nhưng, về xuất khẩu, Thái Lan dẫn đầu với số lượng gần 32%, rồi Việt Nam 16,4%, và Ấn Độ, Mỹ và Pakistan. Năm nước trên cung cấp đến 80% lượng gạo buôn bán trên thế giới. Về nhập khẩu thì ta có một thị trường phân tán, có Indonesia và Nigeria đứng đầu với 5,2% số nhập toàn cầu, sau đó là Philippines, Liên hiệp Âu châu, Brazil, Bangladesh, v.v…. không nước nào mua quá 5%.

- Hỏi: Bây giờ, ta mới nói đến tình hình trợ cấp trên thị trường toàn cầu. Ông có thể mô tả đại lược về hiện tượng ấy được không"

- Thế giới có hơn 200 quốc gia, trong số này, 24 xứ liên hệ đến lúa gạo đều có chính sách bảo vệ hay trợ cấp, tùy tư thế nhập khẩu hay xuất khẩu, và có là hội viên WTO hay không.

Đáng chú ý là Trung Quốc với biện pháp trợ cấp sản xuất, nhà nước độc quyền xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu. Kế đó, có Liên hiệp Âu châu là thuần nhập khẩu, vì tiêu thụ hơn sản xuất, nhưng vừa bảo vệ sản xuất nội địa vừa kiểm soát nhập khẩu. Nhật, Nam Hàn hay Indoniesia cũng là các nước thuần nhập và đang tháo gỡ dần các biện pháp trợ giá bên trong và hạn chế bên ngoài theo khuôn khổ của WTO. Trong số các nước gây vấn đề nhiều nhất có Hoa Kỳ, là nước thuần xuất khẩu và là hội viên WTO lại có chính sách trợ cấp nông nghiệp không kém gì Âu châu, và trong khu vực nông nghiệp lại bảo vệ ngành lúa gạo chặt chẽ nhất.

- Hỏi: Các quốc gia này bảo vệ lúa gạo của họ hay kỳ thị lúa gạo nhập khẩu như thế nào"

- Về đại thể, các nước có sáu hình thức can thiệp vào thị trường gạo.

Các nước thuần nhập khẩu thì nhân danh "an ninh về lương thực" hay bảo vệ nông gia mà lập hàng rào quan thuế, đặt hạn ngạch theo thuế biểu, nâng cao thuế suất theo độ chế biến xay sát của lúa và gạo nhập khẩu. Các nước sản xuất thì trợ cấp nông gia để tăng sản lượng và trợ giá lúa gạo gọi là để ổn định giá lương thực. Còn các nước xuất khẩu hay nhập khẩu đều can thiệp vào việc thu mua phân phối bằng các cơ sở kinh doanh hay quản lý của nhà nước.

Theo ước lượng của Ngân hàng Thế giới thì trong năm 2000, số bình quân gia trọng của giá biểu hải quan đánh trên gạo nhập khẩu vượt quá 43%. Còn Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD quy tụ hơn 20 xứ công nghiệp nhất địa cầu có tính ra là việc bảo vệ và trợ cấp lúa gạo đã nâng lợi tức của nông gia tại các nước giàu đến hơn 75%. Về dân số, thành phần nông gia này chỉ là thiểu số, nhưng biện pháp ấy gây thiệt hại cho cả tỷ người trên thế giới, là giới tiêu thụ và dân thọ thuế tại các nước giàu, và nông gia ở các xứ nghèo, sống chủ yếu nhờ canh nông.

- Hỏi: Xin ông giải thích thêm mối thiệt hại của việc trợ giá lúa gạo và chúng ta lấy ngay thí dụ là Hoa Kỳ, quốc gia công nghiệp tiên tiến và vẫn thường đề cao tự do mậu dịch trên thế giới.

- Hoa Kỳ có chế độ bảo hộ lúa gạo tinh vi mà cũng bất công nhất, nhìn trên quan điểm quyền lợi của cả người Mỹ lẫn nông gia các nước nghèo.

Mỹ có khoảng 9.000 nông gia sản xuất chừng 10 triệu tấn gạo tập trung trong sáu tiểu bang, 45% tại Arkansas, 18% tại California, còn lại là các bang Missouri, Mississippi, Louisiana và Texas. Xứ này xuất khẩu 40% sản lượng gạo qua Nam Mỹ, một số nhỏ từ California bán qua Đông Á và nhập khẩu 13% sản lượng, chủ yếu là gạo thơm từ Ấn Độ, Pakistan và Thái Lan.

Chế độ bảo vệ của Hoa Kỳ gồm hai mặt trong ngoài, thể hiện dưới nhiều hình thức. Với gạo nhập thì họ có hàng rào quan thuế áp dụng ngay cả cho các nước đã được hưởng quy chế tối huệ quốc là mậu dịch bình thường. Với bên trong, họ có ba chế độ trợ cấp cho nông gia như trực tiếp cấp tiền, trợ giá khi bị trái chu kỳ và tín dụng nhẹ lãi cho việc tiếp thị.

- Hỏi: Xin đề nghị ông trình bày thêm cho thính giả về ba chế độ trợ cấp ấy cho nông gia Mỹ.

- Thứ nhất, chế độ cấp tiền có mục tiêu tưởng thưởng nông gia và cả chủ đất - dù chẳng là nông gia - căn cứ trên diện tích canh tác và thu hoạch bình quân đã qua. Thứ hai, chế độ trợ giá là khi giá sụt dưới chỉ tiêu thì nông gia vẫn được bù lỗ để tiếp tục sản xuất. Thứ ba, chế độ tài trợ tiếp thị là nông gia có thể dùng sản lượng lúa gạo làm tài sản cầm thế để vay tiền mà giá cả lên hay xuống vẫn không bị thiệt hại. Tính bình quân thì ba chế độ ấy khiến chính quyền chi ra chừng một tỷ Mỹ kim một năm.

Ngoài ra, Hoa Kỳ còn giúp nông gia trồng lúa và xuất khẩu gạo qua chế độ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và thu mua để viện trợ lương thực cho các nước nghèo trong khuôn khổ của đạo luật PL480 hay Tiết II của Đạo luật Lương thực Phụng sự Hoà bình. Các loại viện trợ ấy thực tế giúp nông gia bán lúa cho nhà nước theo điều kiện ưu đãi.

- Hỏi: Và kết quả của chế độ trợ cấp ấy lợi hại ra sao"

- Trên diễn đàn này, ta hay nói đến quy luật kinh tế là "cái lợi thì dễ thấy mà cái mất lại khó nhìn." Chuyện trợ cấp lúa gạo tại Mỹ có thể minh diễn điều ấy.

"Được" ở đây không phải là nông dân nghèo khổ mà là một số nông gia hay doanh gia canh tác và chế biến nông nghiệp Mỹ. Ngoài ra là một số chủ đất may mắn có đất đang hay đã từng là đất trồng lúa. Tức là khoản trợ cấp cho nông gia đã lọt qua giới chủ đất nhiều khi chăng liên hệ gì đến việc canh tác nhưng tác động rất mạnh vào giới làm luật và soạn thảo ngân sách.

- Hỏi: Đấy là khoản "được" cho một thiểu số, bây giờ ta nói đến khoản "mất", cho những ai" 

- Từ 1998 đến năm ngoái, hàng năm chính quyền liên bang đã chi từ 473 triệu đến một tỷ 774 triệu cho việc trợ cấp, hơn bù kém là một tỷ Mỹ kim một năm. Cái mất đầu tiên là dân thọ thuế phải chi thêm một tỷ cho một thiểu số chưa tới một vạn người. Kế tiếp, giới tiêu thụ bị mất tiền vì phải mua gạo hay nhập gạo với giá cao hơn vì hàng rào quan thuế.

Rộng lớn hơn vậy, và nhìn trên toàn cảnh của việc sung dụng tài nguyên, chế độ trợ cấp lúa gạo ấy khiến đất đai, lao động, tư bản và các nhập lượng khác bị dồn cho một mức sản xuất cao hơn yêu cầu bình thường của thị trường. Nói cho dễ hiểu, nếu không có trợ cấp thì tư liệu canh tác và sản xuất đã được dùng cho việc khác có ích hơn. Cái mất ấy là điều ít ai muốn tính ra, nhưng là một thất thu thực tế. Mà đấy không phải là những thiệt hại duy nhất…

- Hỏi: Ông nói như vậy tức là còn nhiều thiệt hại khác cũng đáng kể nữa hay sao"

- Kỳ trước, ta nói đến sự tan vỡ của vòng Doha vì lãnh vực nông nghiệp dù nông sản chỉ chiếm 8% trong giá trị trao đổi trên thế giới và bế tắc Doha lại gây thiệt hại cho các ngành ở ngoài nông nghiệp như công nghiệp và dịch vụ. Chế độ trợ cấp lúa gạo có làm giảm uy tín và sức thương thảo của Hoa Kỳ về các lãnh vực ngoại thương khác. Đấy cũng là những cái "mất" ta khó tính ra. Đây là chưa nói đến cái "mất" của các ngành nông nghiệp khác cũng của Hoa Kỳ nếu sau này bị các nước khác trả đũa, như trường hợp bông vải chẳng hạn.

- Hỏi: Đã thế, vì sao Hoa Kỳ vẫn duy trì" Đâu là những lý do biện minh cho chế độ này"

- Một lý luận then chốt là Hoa Kỳ phải có "an ninh về lương thực", nôm na là để phòng ngừa bị xứ khác bắt bí nên bị đói gạo! Lý luận kỳ quái ấy vẫn được một Dân biểu đảng Dân chủ nêu lên gần đây.

Lý do chính là các chính trị gia chỉ nhìn thấy quyền lợi cục bộ ở địa phương và lấy quyết định có lợi cho thành phần ta gọi là "được" của họ mà bất cần đến thiệt hại của thành phần ta gọi là "mất". Và họ được các nhóm nông gia hay doanh nghiệp lúa gạo ủng hộ rất mạnh về tiền. "Mạnh vì gạo, bạo vì tiền" là như vậy!

- Hỏi: Câu hỏi cuối thưa ông, các xứ nghèo lãnh hậu quả ra sao vì chế độ trợ cấp lúa gạo ấy"

Trợ cấp lúa gạo tại Mỹ làm giá gạo sút giảm trên thế giới từ 4 đến 6% và gây thiệt hại lợi tức cho hàng trăm triệu nông gia ở các nước nghèo. Đấy là điều dễ thấy nhất, đáng nói nhất và được nói lên trên nhiều diễn đàn quốc tế. Ngoài ra, chế độ bảo hộ cũng khiến các nước khó bán gạo vào Mỹ. Trợ cấp lúa gạo còn khiến giá gạo hết là tín hiệu có giá trị về cung cầu khiến nông gia Mỹ cứ tiếp tục sản xuất và được bảo vệ dù giá đã sụt trên thế giới, như điều đã xảy ra khi Đông Á bị khủng hoảng sau năm 1997.

Khi lợi tức nông dân ở các xứ nghèo gia tăng, cuộc sống của họ, gia đình và con em có được cải thiện như ta thấy ngay tại Việt nam trong những năm sau đổi mới. Vì vậy, người ta mới cần chú ý đến hồ sơ lúa gạo này vào năm tới, khi Quốc hội Mỹ sẽ thảo luận lại về Đạo luật Nông nghiệp, là điều chúng ta có thể sẽ tìm hiểu trong một kỳ khác.

Việc nhà hoạt động dân chủ Trần Huỳnh Duy Thức được nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do trước thời hạn có lẽ là một trong những vấn đề đã được nội các chính quyền Biden-Harris quan tâm và vận động từ năm 2021.
Đối với triết gia Immanuel Kant, lời nói dối là “cái ác bẩm sinh sâu xa trong bản chất con người” và cần phải tránh xa ngay cả khi đó là vấn đề sống còn1. Trong tác phẩm “Deciphering Lies”, Bettina Stangneth, 2017, viết rằng: “Trong số những lý do khiến người ta nói dối vì điều đó có thể giúp họ che giấu bản thân, ẩn náu và tránh xa những người xâm phạm vùng an toàn của họ.” Stangneth cho biết thêm, “cũng không khôn ngoan khi thả trẻ em ra thế giới mà không biết rằng người khác có thể nói dối chúng.” The Wasghington Post, ban kiểm tra sự thật, cho biết: Trong bốn năm làm tổng thống thứ 45, từ 2017-2021, đến cuối nhiệm kỳ, Trump đã tích lũy 30.573 lời nói dối trong suốt nhiệm kỳ tổng thống - trung bình khoảng 21 lời tuyên bố sai lầm mỗi ngày. Từ khi thua cuộc tái ứng cử vào tay tổng thống Joe Biden cho đến giờ này, tranh cử với bà Harris, ông Trump càng gia tăng khẩu phần nói dối, phong phú đến mức độ không thể đếm cho chính xác.
Câu chuyện hoang tưởng “di dân ăn thịt chó, mèo” của Donald Trump và JD Vance gây ra nỗi sợ hãi, tạo ra nhiều kích động tiêu cực, vì nó được nói ra trước 81 triệu dân Mỹ, từ một cựu tổng thống. Những lời vô căn cứ tràn đầy định kiến và thù hận đó như một bệ phóng cho con tàu “Kỳ Thị” bay vút vào không gian của thế kỷ 21, thả ra những làn khói độc. Nó như một căn bệnh trầm kha tiềm ẩn lâu ngày, nay đúng thời đúng khắc nên phát tán và lan xa. Nói như thế có nghĩa, con tàu “Kỳ Thị” này, căn bệnh này, vốn đã có từ rất lâu đời. Nó âm ỉ, tích tụ, dồn nén theo thời gian, chực chờ đến ngày bùng nổ. Một tuần qua, người Haiti, là nạn nhân của cơn bùng phát này. Gần nửa thế kỷ trước, và cho đến tận nay, là cộng đồng người gốc Việt.
Sự trỗi dậy của những nhóm cực hữu đang làm sống lại làn sóng kỳ thị chủng tộc, một căn bệnh trầm kha chưa bao giờ thực sự chấm dứt ở Hoa Kỳ. Để thực hiện những chương trình nghị sự của mình, những người theo chủ nghĩa thượng tôn da trắng đã thực hiện nhiều chiến lược, chiến thuật khác nhau. Trong những năm gần đây, nhiều nhà hoạt động đã cảnh báo các nhóm cực hữu đang cố sử dụng nền tảng giáo dục làm công cụ để bảo vệ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Một bài viết trên trang mạng lithub.com của tác giả Jason Stanley đã phân tích sâu sắc về đề tài này.
Nhìn ở bề ngoài thì ông Benjamin Netanyahu, Thủ tướng Do Thái, đang làm cái việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu từng làm với cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ 1968. Năm đó ông Thiệu bị cáo buộc là hành động để đảng Dân Chủ thua đảng Cộng Hòa còn bây giờ thì, xem ra, ông Netanyahu lại đang tháu cáy với nước cờ tương tự tuy nhiên bản chất hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Khi còn tại chức, không ít lần, T.T Nguyễn Xuân Phúc đã khiến cho dân tình hoang mang hay bối rối khi nghe những câu chữ rất lạ kỳ: “Quảng Ninh là đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Vĩnh Phúc sẽ vươn lên trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Long An phải trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước’, ‘Hải Phòng là đầu tàu quan trọng của cả nước’, ‘Bình Dương phải là đầu tàu phát triển kinh tế mạnh nhất của cả nước …”
Nhưng 64 năm sau (1960-2024), đảng đã thoái hóa, biến chất. Đảng viên thì tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống tự diễn biến và tự chuyển hóa, bài bác Chủ nghĩa Mác-Lênin và cả “tư tưởng Hồ Chí Minh” nữa...
Một tuần sau, sau khi dư luận nổi sóng về phát biểu của thiếu niên Chu Ngọc Quang Vinh (“tôi coi đảng như một thế lực xấu chỉ biết lừa gạt dân”) tạm lắng – hôm 7 tháng 9 vừa qua – nhà văn Phạm Đình Trọng kết luận: “Sự việc cho thấy người dân, nhất là thế hệ trẻ đã có nhận thức sâu sắc về pháp luật, có ý thức về sự có mặt của cá nhân trong cuộc đời, trong xã hội”.
Nội dung phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ngày 27/08/2024 về đường lối khóa đảng XIV cho thấy ông không dám đi ra khỏi quỹ đạo một người Cộng sản bảo thủ để được tồn tại...
Kamala nhắc lại Donald Trump đã cảm ơn Tổng Thống Tập Cận Bình về những gì ông ta đã làm trong thời gian đại dịch COVID. Bà nhớ cả nội dung Trump đã viết trên Twitter: “Thank you, President Xi” và đọc lại cho chục triệu người dân Mỹ đang xem màn hình. “Khi chúng ta biết rằng Tập Cận Bình phải chịu trách nhiệm vì không cung cấp và cung cấp không đầy đủ cho chúng ta sự minh bạch về nguồn gốc của COVID.” Kamala nhắc lại cả việc Donald Trump đã mời Taliban đến David Camp, “là một nơi có ý nghĩa lịch sử đối với chúng ta, với tư cách là những người Mỹ, một nơi mà chúng ta tôn vinh tầm quan trọng của ngoại giao Hoa Kỳ, nơi chúng ta mời và tiếp đón các nhà lãnh đạo thế giới được kính trọng. Và cựu tổng thống này với tư cách là tổng thống đã mời họ đến David Camp vì ông ta, một lần nữa, không biết tầm quan trọng và trách nhiệm của tổng thống Hoa Kỳ. Và điều này quay trở lại vấn đề ông ta đã liên tục hạ thấp và coi thường các quân nhân của chúng ta, những người lính đã hy sinh...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.