Hôm nay,  

Dân Kurd Kéo Thổ Vào Cuộc

26/10/200700:00:00(Xem: 8483)
Chuyện Iraq thêm rối bù vì yếu tố Thổ Nhĩ Kỳ...

Trong một giai đoạn khá lâu, xứ Turkey (Thổ Nhĩ Kỳ) là cường quốc ổn định giữa một khu vực nhiễu nhương trong vùng đất chiến lược của đại lục địa Âu-Á và hai thế giới Âu châu và Hồi giáo. Tình trạng ấy có thể đang chấm dứt ngay trước mắt chúng ta.

 Về địa dư chiến lược, Turkey là hậu thân của Đế quốc Thổ (Ottoman Empire), với đa số theo Hồi giáo, nhưng bao gồm nhiều sắc tộc và văn hoá khác biệt. Khi đế quốc Ottoman tan rã từ những biến động của Âu châu trong Thế chiến I (1914-1919), các cường quốc Âu châu đã xé vụn lãnh thổ của họ mà không kể đến thực tế sắc tộc ở từng địa phương. Đó là kết quả của Thỏa ước Sèvres ký kết vào năm 1920.

Nhờ vậy, Hy Lạp (Grece) và Armenia đã thừa hưởng nhiều vùng đất trước kia là của đế quốc Ottoman, và cũng thừa hưởng mối hiềm thù với dân Thổ của quốc gia Turkey. Grece và Turkey là hai nước kình địch, còn dân Armenia đã bị dân Thổ tàn sát, hay bỏ đói, trong những năm nhiễu loạn kéo dài, từ 1915 đến 1922.

Ngược lại, một sắc dân đông đảo là người Kurd thì không có quê hương hay lãnh thổ. Họ sống phân tán dưới sự cai trị của các thị tộc trên lãnh thổ của Turkey, Iraq, Iran và Syria, đông nhất là tại Turkey.

Khi Turkey tuyên bố độc lập và xây dựng lại quốc gia, vị anh hùng lập quốc Mustafa Kemal Attaturk muốn thoát khỏi quá khứ Hồi giáo của đế quốc Ottoman, ông canh tân xứ sở thành một quốc gia tân tiến, hiện đại, theo thế quyền và gần với quan điểm của Tây phương. Mô hình xây dựng và phát triển ấy của Turkey đã là mẫu mực cho nhiều xứ lân cận và cho những nước sau này giành lại độc lập từ chế độ thực dân của Âu châu.

Sau Thế chiến II, Turkey đứng hẳn về phe Tây phương, gia nhập Minh ước phòng thủ Bắc Đại Tây Dương NATO và là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ và Tây Âu. Ở vào vị trí bản lề của hai lục địa và nhiều nền văn hoá khác biệt, sự chọn lựa ấy của Turkey, và dân Thổ, là yếu tố ổn định quan trọng. Lý do là Turkey giữ vị trí bản lề, từ Địa trung hải của Âu châu qua Hắc hải của Liên Xô; từ vùng Balkan và Liên bang Nam Tư với biển Caspian và Vịnh Á Rập: giữa Âu châu da trắng và khối Hồi giáo tại Trung Đông.Nói vắn tắt là giữa Âu châu và Á châu, giữa hai khối Đông-Tây trong thời Chiến tranh lạnh...

Ở giữa các thế lực đối chọi ấy, Turkey chọn Âu châu và thế giới tự do của phương Tây: trí thức, tướng lãnh và chuyên gia của họ đều tốt nghiệp các đại học Tây phương và cố gắng xây dựng một nền dân chủ "mạnh" trong một xã hội mà đa số vẫn theo đạo Hồi.

Trong hơn nửa thế kỷ, Turkey trở thành thế lực ổn định và nhờ vậy đã tiến lên vị trí cường quốc kinh tế và quân sự trong khu vực. Turkey có nền kinh tế đứng hàng thứ 15 trên thế giới, trước Indonesia (một quốc gia Hồi giáo đông dân nhất), Saudi Arabia (một xứ Hồi giáo ngồi trên mỏ dầu khí) hay Pakistan, một cường quốc Hồi giáo khác tại Nam Á. Và là thành viên NATO, với những căn cứ quân sự cho phép Tây phương khống chế được một khu vực then chốt. Quân lực Turkey còn đóng chốt tại vùng đất tiếp giáp với Iraq.

Cái giá phải trả cho sự ổn định ấy là xã hội dần dần bị tách đôi giữa thiểu số ưu tú thân Tây phương và đa số theo đạo Hồi và nghi ngờ giá trị phóng túng của Tây phương. Nạn tham nhũng và khủng hoảng kinh tế đã khiến xu hướng Hồi giáo thắng thế và thắng cử năm 2002, rồi tái đắc cử với một đa số còn lớn hơn vào tháng Bảy vừa qua.

Tuy nhiên, dù có ảnh hưởng Hồi giáo rất mạnh, đảng cầm quyền của Thủ tướng Recep Tayyip Erdogan vẫn chủ trương ôn hoà về tôn giáo - không đòi xứ sở trở lại chế độ thần quyền của đạo Hồi - và không muốn các tướng lãnh (thân Tây phương) bất mãn hay lo sợ mà tiến hành đảo chính để cướp chính quyền (như trường hợp Pakistan vào năm 1999).

Cái giá thứ hai của sự ổn định tại Turkey, dân Kurd phải trả.

Nỗi khát khao độc lập và lập quốc của họ coi như bị dập tắt từ 1920. Họ sống tập trung tại miền Nam Turkey và nhìn qua đồng bào tại Iraq, Iran và Syria, họ tiếp tục mơ ước sự hình thành một "quốc gia của dân Kurd", gọi là Kurdistan. Sự hình thành ấy trực tiếp đe dọa mối lo truyền thống của dân Thổ là thấy lãnh thổ Turkey bị xé làm đôi, phân nửa miền Nam trở thành một phần của xứ Kurdistan. Nếu lại sát nhập với dân Kurd ở miền Bắc Iraq, xứ Kurdistan này còn là một nước đáng nể, vì ngồi trên mỏ dầu! Sự hình thành ấy cũng đe dọa sự vẹn toàn lãnh thổ của Iraq, Iran và cả Syria, là nơi có nhiều người Kurd sinh sống.

Trong một chừng mực nào đó, Turkey, Iraq và Iran trở thành đồng minh khách quan vì có chung một mục tiêu là bóp nghẹt hy vọng lập quốc của dân Kurd. Chính quyền Ankara của dân Thổ còn mặc nhiên cộng tác với chế độ Baghdad của Saddam Hussein để triệt hạ các tổ chức đấu tranh giành độc lập của dân Kurd.
Từ xứ Turkey xuống tới Iraq, dân Kurd này có ba tổ chức mạnh nhất.

Đảng Công nhân Kudistan (PKK) là lực lượng cực đoan nhất, chủ trương đấu tranh võ trang và khủng bố trên lãnh thổ Turkey (và bị Hoa Kỳ đưa vào danh mục khủng bố). Tại phía Nam của vùng hoạt động của PKK - và trên lãnh thổ Iraq - là đất hùng cứ của đảng Dân chủ Kurd (KDP). Kế tiếp là khu vực tung hoành của Liên minh Ái quốc Kurdistan (PUK). Vì hoàn cảnh địa dư và chính trị tại từng nơi, mỗi lực lượng lại theo đuổi một chiến lược khác, cực đoan hay ôn hoà, và cố gắng tương nhượng lẫn nhau vì cùng chia sẻ một di sản Kurd.

Sau khi duyệt lại tình hình chung như vậy, chúng ta mới trở lại hiện tại.

Hiện tại ấy thực ra khởi sự từ 1991, khi Saddam Hussein tấn công xứ Kuweit và bị Hoa Kỳ thời Tổng thống George H. Bush (Bush 41) chặn đứng.

Nhằm khống chế Iraq và bẻ càng Saddam Hussein, Hoa Kỳ cho dân Kurd tại Iraq nhiều quyền tự trị hơn. Phân nửa mạn Bắc của Iraq được bảo vệ bởi quy chế "vùng cấm bay" - không cho không quân của Baghdad oanh tạc. Lực lượng bảo vệ khu vực ấy sử dụng căn cứ Incirlik (đọc là injurlik) của NATO nằm trong lãnh thổ Turkey!

Được Hoa Kỳ bảo vệ, dân Kurd tại Iraq giữ lập trường "thân Mỹ", tức là ôn hoà, và tìm cách giành thế mạnh. Bên kia biên giới, lực lượng PKK không chịu lép vế và tung đòn khủng bố trên lãnh thổ Turkey rồi rút lui về hậu cứ nằm trong vùng núi non hiểm trở của Iraq. Năm 1995, Ankara đã đưa ba vạn quân vào truy quét phiến loạn
PKK trong đất Iraq, nghĩa là dưới khu vực bảo vệ dân Kurd của Hoa Kỳ.

Nhìn từ Ankara, việc Hoa Kỳ tấn công Saddam Hussein và nâng đỡ dân Kurd tại Iraq lại đi ngược mục tiêu của Turkey. Thay vì là một đồng minh chiến lược góp phần ổn định như trong nửa thế kỷ, Hoa Kỳ trở thành siêu cường gây rối cho Turkey!

Vì vậy, sau khi đắc cử năm 2002, Chính quyền (thân Hồi giáo) Recep Erdogan mới chống lại quyết định tấn công Iraq của Chính quyền George W. Bush, không cho Mỹ mượn lãnh thổ làm bàn đạp tiến vào giải phóng mạn Bắc Iraq. Nhưng Turkey vẫn không thể trở mặt với đồng minh chiến lược: liên quân Mỹ vẫn sử dụng căn cứ không quân Incirlik làm trạm trung chuyển khoảng 70% số võ khí và quân cụ của Hoa Kỳ vào Iraq.

Tình hình trở thành rắc rối hơn khi hai lực lượng PUK và KDP sát cánh với Mỹ trong mối tranh chấp tay ba với sắc dân Sunni và Shia và các lãnh tụ Kurd gia nhập hệ thống lãnh đạo mới của Iraq tại Baghdad. Tổng thống Iraq ngày nay là lãnh tụ của lực lượng PUK, cầm đầu "Chính quyền địa phương Kurd" (KRG) là ông Massoud Barzani, thủ lãnh đảng KDP. Trong giấc mơ chung của dân Kurd, hai lực lượng PUK và KDP có thể đã đạt một phần, bằng đường lối ôn hoà, nghĩa là hợp tác với Mỹ, và đang giành được nhiều quyền hạn chính trị và quyền lợi kinh tế chưa khi nào họ có được.

Chiến lược ấy gây phản ứng bất an cho cả hai phía. Lực lượng PKK sợ bị cô lập trong chủ trương hiếu chiến và quá khích nên muốn phá vỡ cái thế thượng phong của hai đảng KDP và PUK trên lãnh thổ Iraq. Phía Turkey thì chẳng yên tâm với sự hình thành của một khu vực Kurd có dầu hoả ở bên kia biên giới. Dân Thổ càng thấy lo khi phe Kurd có khi thắng lớn nếu lãnh thổ Iraq bị chia thành ba quốc gia cho ba cộng đồng Kurd, Sunni và Shia.

Hoa Kỳ bị kẹt ở giữa những tranh chấp của hai đồng minh quan trọng như nhau là Turkey và phe Kurd tại Iraq. Lực lượng PKK bèn tung đòn khiêu khích để kéo Turkey vào cuộc bằng cách tấn công các đơn vị Turkey ngay sau khi Quốc hội Turkey cho phép đưa quân vào Iraq, ngày 21 vừa qua. Đòn khiêu khích đáng ngại của PKK còn được sự cổ võ bất ngờ của... Quốc hội tại Hoa Kỳ, khi Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Mỹ bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết lên án Turkey về tội diệt chủng khi tàn sát dân Armenia năm 1915!

Lực lượng PKK muốn phá vỡ thế hợp tác để ổn định của Hoa Kỳ khiến hai phe PUK (của Tổng thống Talabani) và KDP (của Barzani) ở vào thế khó xử nếu không yểm trợ dân Kurd tại Turkey hoặc nếu thẳng tay diệt trừ phiến quân PKK theo lời đòi hỏi của Ankara (hay yêu cầu của Chính quyền Bush). Quốc hội Dân chủ cũng không muốn Chính quyền Bush đạt thành quả ổn định tại Iraq, một bất lợi cho đảng này trong cuộc tranh cử năm tới.

Đấy là những động lực ngoắt ngoéo của các phe liên hệ khiến lực lượng PKK giật đuôi cọp để kéo Turkey phá vỡ bàn cờ của Mỹ, trong khi cả Hoa Kỳ lẫn Ankara và dân Kurd tại Iraq đang cố trì hoãn những quyết định nguy hiểm cho toàn vùng.
Nhìn trên một viễn cảnh dài, là điều bất khả cho các chính khách Mỹ, Turkey phải kết luận là kỷ nguyên hợp tác với Hoa Kỳ nay đã kết thúc vì Mỹ lấy quyết định theo quyền lợi của Mỹ, bất kể tới mối quan tâm sinh tử của mình.

Nhưng, họ có thể làm gì"

Họ nhìn thấy nhiều chuyển động lớn trong thế giới Hồi giáo và sức cám dỗ của loại chủ trương cực đoan đang gây bất ổn cho mọi xứ có dân Hồi sinh sống, từ Philippines tới Pakistan về đến Saudi Arabia và Lebanon. Những bất ổn đó có thể gây nội loạn trong xứ sở, với đa số theo đạo Hồi và nghi ngờ thiện chí của các nước Tây phương.

Nhìn xa hơn nữa, sau khi Liên Xô tan rã và Liên bang Nga bị khủng hoảng, Vladimir Putin đang khôi phục ảnh hưởng truyền thống của đế quốc Nga, từ vùng Balkan ở phía Tây-Bắc qua biển Hắc hải (Ukraine) ở phía Bắc tới Georgia và Armenia ở phía Đông-Bắc. Nga cũng không che giấu ý định tái xuất hiện tại Địa trung hải và còn muốn bênh vực Iran trong mối quan hệ căng thẳng với Hoa Kỳ. Nếu Chính quyền Bush yếu thế mà phải nhượng bộ Iran tại Iraq, Turkey càng thêm lo. Và Hoa Kỳ mà củng cố thế lực Kurd tại Iraq để khỏi tuột tay trong cả khu vực rộng lớn này, Turkey có thể bị loạn to.

Ankara không muốn cắt dây đoạn tuyệt với Mỹ, nhưng biết rằng khi lâm nạn, Hoa Kỳ sẵn sàng bỏ rơi đồng minh  - truyền thống ngoại giao con buôn của Mỹ - nên họ phải tự lo lấy thân. Điều đáng ngại nhất khi dân Thổ tự lo lấy thân là... hợp tác với Nga và Iran, một chuyện không hẳn là phi lý. Turkey và Iran có chung một mối lo là dân Kurd. Và nếu một siêu cường ổn định như Hoa Kỳ lại cứ gây bất ổn như vậy, một sự thoả hiệp với Nga có thể là giải pháp an toàn cho Turkey tại nhiều cửa, từ vùng Balkan về tới Armenia!

Điều ấy càng là một cám dỗ lớn khi Turkey bị các cường quốc Âu châu từ chối không cho gia nhập Liên hiệp Âu châu.

Nhìn lại như vậy thì quyền lợi của Turkey đã tách rời khỏi những tính toán cổ điển của Hoa Kỳ và Âu châu cho nên cường quốc này phải cựa mình. Đúng lúc ấy, sự khiêu khích của lực lượng PKK cùng thái độ vô ý thức của Quốc hội Mỹ có thể làm Turkey nghiêng cánh trong một vùng đất mà dầu thô và võ khí là những sản phẩm thông dụng nhất.

Dầu thô vượt giá 90 đô la một thùng và hai đồng minh của Mỹ nã đạn vào nhau tại Iraq là những dấu hiệu tiên báo...

Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.