Hôm nay,  

“Chống Đảng Cứu Nước”

01/11/200700:00:00(Xem: 10905)

Trong giai đoạn 1954-1975, đảng Lao động Việt Nam (CSVN) đã phát động cuộc "kháng chiến chống Mỹ cứu nước" để làm sức mạnh xâm lăng miền Nam. Khẩu hiệu chiến lược này đã làm bùng dậy ý chí đòi độc lập của dân tộc, trở thành yếu tố chính yếu dẫn đến chiến thắng quân sự của Cộng sản vào năm 1975.

Với bối cảnh đất nước đầy bất công, tham nhũng và khủng hoảng hiện nay, thực tế cho thấy rằng nhân dân Việt Nam bây giờ đã đồng loạt "chống Đảng cứu Nước" với những hình thức khác nhau. Nhân Dân đã chống Đảng để cứu nước bằng thái độ bất mãn công khai, bằng sự bất cộng tác một cách kín đáo, bằng những hành động tố cáo độc tài, thối nát, bất công, và bằng các nỗ lực đấu tranh đòi nhân quyền, đòi công lý, đòi tự do.

Đảng ở đây là đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức đang nắm toàn bộ quyền lực lãnh đạo và cũng đang là cội nguồn của những sai lầm nghiêm trọng trong các chính sách quản lý đất nước. Hầu hết nhân dân Việt Nam và thành phần đảng viên CS phản tỉnh đã công khai chỉ trích sự lãnh đạo thiếu hiệu quả, và trong nhiều trường hợp là hoàn toàn sai lầm, của đảng CSVN. Nhân dân cũng đã công khai tố cáo tình trạng tham nhũng và lạm dụng quyền thế mỗi ngày một trầm trọng hơn của nhiều cán bộ, cơ quan Nhà Nước. Trong chiều hướng này, vấn đề công khai đòi xoá bỏ quyền lãnh đạo độc tôn của đảng CSVN sẽ bộc phát trong một thời gian không xa, nếu như đảng CSVN vẫn tiếp tục ù lì, bảo thủ, cho dù đảng cầm quyền có ra sức trù dập những nỗ lực đối lập.

"Chống Đảng cứu Nước" không phải là chống lại Nhà Nước hay Tổ Quốc. Đảng CSVN chỉ là một tổ chức chính trị, một thành phần xã hội chưa đầy 5% dân số quốc gia. Lịch sử mai hậu có thể nhìn nhận rằng đảng CSVN có công phần nào trong cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, nhưng tất nhiên không phải chỉ có riêng đảng CSVN có công, và không phải vì một phần "công lao" đó mà đảng CSVN mặc nhiên được quyền tự xem mình là Nhà Nước hay Tổ Quốc.

Nhà Nước phải đúng là Nhà Nước Của Dân, Do Dân và Vì Dân. Tổ Quốc là lãnh thổ, là vận mệnh quốc gia, là hồn thiêng sông núi, và là sự liên hệ với sinh mệnh của Nhân Dân. Đảng CSVN đã xem thường Nhân Dân và anh linh tiền nhân khi tự xem mình là Nhà Nước và Tổ Quốc.

"Chống Đảng Cứu Nước" là chống lại sự độc tài, bảo thủ, và tham lam của đảng Cộng sản Việt Nam. Thái độ này khẳng định rằng Nhân Dân Việt Nam không chấp nhận đảng CSVN được độc quyền làm chủ đất nước; được làm giàu bất chính trên mồ hôi, nước mắt và xương máu của nhân dân; và được quyền tiếp tục đứng trên luật pháp.

Để giải quyết các vấn đề nghiêm trọng của đất nước do cơ chế độc tài chính trị gây ra, con đường duy nhất là dân chủ hoá xã hội, và xây dựng một chính quyền dân chủ đa đảng. Chỉ với một cơ chế tam quyền phân lập thì bộ mày chính phủ mới có khả năng vận hành và kiểm soát lẫn nhau một cách hữu hiệu. Với điều kiện đó, các vấn nạn của nước ta mới có cơ hội giải quyết một cách rốt ráo.

Dân chủ hoá xã hội không có nghĩa là xoá đi sự ổn định xã hội. Trong một xã hội đa nguyên pháp trị và một chính phủ dân chủ đa đảng, sự tự do trong ý thức và luật pháp sẽ ngăn ngừa và loại trừ các khuynh hướng lạm dụng dân chủ để phá hoại đất nước. Bản Hiến Pháp mới và các luật pháp mới trong thời gian tới sẽ đóng vai trò chỉ đạo và chế tài, để xã hội nước ta mai này được ổn định, hài hoà và tiến bộ thực sự.

Sau hơn 30 năm kể từ ngày chiến tranh bom đạn chấm dứt, một số thành phần dân tộc vẫn còn hiềm khích lẫn nhau, nặng nề nhất là thái độ của đảng cầm quyền đối với những tổ chức đối lập. Điều này gây thêm sự mâu thuẫn trong lòng dân tộc và đã là một cản trở lớn cho tiến trình hoà giải và đoàn kết. Sự hiềm khích đó đồng thời cũng là yếu tố gây trở ngại cho công cuộc phát triển đất nước trong suốt thời gian qua.

Trong công cuộc đấu tranh vì dân chủ và phát triển ngày nay, chúng ta không khích động hận thù và bạo lực. Tuy nhiên, thiện chí đó không thể được quan niệm một cách đơn giản là chỉ chờ đợi đảng CSVN đổi mới nhiều hơn. Ngược lại, các tổ chức đấu tranh vẫn cần phải tiếp tục tạo áp lực bằng mọi cách để buộc đảng CSVN phải nhượng bộ một cách cụ thể.

Nhân Dân đã, đang và sẽ từng bước đứng lên chống lại Đảng để cứu nước, cũng có nghĩa là cứu lấy chính gia đình cùng các thế hệ con cháu trong tương lai. Đồng thời những người tiến bộ trong đảng CSVN cần phải đấu tranh quyết liệt hơn, phải thúc đẩy Đảng CS nhanh chóng đổi mới thực sự để cứu lấy Đất Nước, và cũng là cứu Đảng, nếu như vẫn muốn Đảng tồn tại.

Các tổ chức đấu tranh dân chủ ôn hoà đều không chủ trương lật đổ Nhà Nước Việt Nam bằng bạo lực và trả thù cán bộ, đảng viên Cộng sản khi thành công. Mục đích dân chủ hoá Việt Nam đều nhằm chấm dứt tình trạng độc tài toàn trị hiện nay và xây dựng một chính thể dân chủ đa đảng. Trong đó, nếu chứng tỏ được thiện chí và được nhân dân chấp nhận như một chính đảng trong cơ chế chính quyền mới, chắc chắn là Hiến Pháp và luật pháp mới sẽ bảo đảm sự tồn tại hợp pháp của đảng CSVN trong tương lai.

"Chống Đảng Cứu Nước" là con đường đúng đắn và hữu hiệu nhất để giải quyết các vấn nạn của nước ta, cho đến khi thành phần lãnh đạo đảng CSVN thực sự đổi mới và trả lại quyền lãnh đạo đất nước cho Nhân Dân. Ngày nào đảng CSVN còn độc tài, bảo thủ và thối nát, thì ngày đó nhân dân sẽ tiếp tục chống Đảng để cứu Nước./.

(Trích Tập san Hoa-Mai #19-  ấn hành tháng 11/2007.

Tập San Hoa Mai là cơ quan ngôn luận của Đảng Vì Dân, phát hành bí mật ở Việt Nam hàng tháng bằng bản in; đồng thời được gửi đến thân hữu khắp nơi qua mạng toàn cầu và điện thư.

Mọi liên lạc xin gửi email đến: [email protected]Truy cập bản để in số báo này hay xem các số đã phát hành: www.dangvidan.net.)

Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.