Hôm nay,  

Cá Orange Roughy Và Cholesterol

18/03/200900:00:00(Xem: 19578)
Cá ORANGE ROUGHY và CHOLESTEROL
DS Trần Việt Hưng
Gần đây, trong tháng 11/2008, có một số bài phổ biến trên các website, được huyển range Roughy Fish và Cholesterol
tiếp đến nhiều người , ghi rằng ' Chỉ cần ăn cá Orange Roughy liên tiếp 2 ngày, mỗi ngày 1 pound…là sẽ hạ được cholesterol từ 500 xuống mức bình thường"! và được giải thích là cá có tác dụng "clean up' sạch chất dầu mỡ trong người…vì khi đi đại tiện sẽ thấy đầy mỡ trong bồn cầu..!
Các điều ghi trên hoàn toàn không có căn bản khoa học và Orange Roughy không hề có tác dụng làm hạ cholesterol!
Orange Roughy hay Red Roughy, Deep sea perch là một loài cá lớn sống ở tầng đáy tương đối sâu (ở độ sâu từ 180 mét xuống đến 1,800 mét) nhiệt độ nước lạnh (từ 3-9 độ C) tại các vùng biển phía tây Thái bình dương, Đông Đại tây dương (từ Iceland đến Morocco), Namibia, Ấn độ-Thái bình dương (ngoài khơi Tân Tây Lan và Úc). cá đang được Tổ chức Bảo tồn Sinh vật biển (Marine conservation Society) xếp vào loài bị đánhy bắt quá mức có thể đưa đến nguy cơ tận diệt.
Orange roughy là một loại cá có giá trị kinh tế cao của Tân Tây Lan: Tân Tây Lan đã quảng cáo và đưa cá ra thị trường từ những năm cuối thập niên 70, và đặt tên cho cá dựa theo màu sắc và vảy của cá.
Theo thống kê của Cơ quan Quan Thuế -Thống Kê Hoa Kỳ thì Việt Nam chỉ nhập cảng vào năm 2000: 37 tấn cá (những năm trước đó chưa nhập và sau đó không nhập cá này nữa).
Tên khoa học và các tên khác.
Hoplostethus atlaticus thuộc gia đình cá trachichthyidae
Anh-Mỹ: Deep sea perch, Red roughy, Rosy soldier fish                                                                                          
Pháp: Hoplostète orange; Tây Ban Nha : Relojanaranjado; Đức : Granatbarsch; Nhật:
Huchidai, Orenzi-rafii.
Đặc tính  sinh học:
Thân hình bầu dục, khác dẹp. Cá có đầu to và tròn chiếm 1/3 toàn thân, mắt nhỏ chỉ chiếm khoảng 23% của đầu, phía đầu không có gai. Miện lớn và hơi nghiêng; phía trong miệng màu xanh lam-đen. Răng nhỏ. Vi lưng đơn độc có 4-6 gai và 15 đến 19 tia mềm. vi hậu môn có 3 gai và 10-12 tia mềm. Vi ngực có 17 đến 20 tia. Thân màu cam xậm; đầu đỏ hơn. Khi chết màu đổi nhanh thành cam-vàng nhạt. Vảy kha to. cá dài khoảng 75 cm (trung bình từ 20-30cm), nặng tối đa chừng 7 kg.

Cá ăn các loài giáp xác, tôm và cá nhỏ. cá có tuổi thọ khá cao, có thể sống đến 140 tuổi.
Orange roughy sống thành từng đàn tương đối day (trung bình 2.5 con trong một mét vuông. Cá di chuyển khá xa, có thể đến 200 km để đẻ trứng tại một số vùng giới hạn. Cá mái đẻ ít: chỉ từ 30 đến 50 ngàn trứng. Trứng hình cầu, đường kính 2.25 mm, được phóng trong nước để kết hợp với tinh trùng. Trứng sau khi thụ tinh, nổi trong vùng nước sâu 200m để phát triển và cá bột sau khi nở sẽ xuống sâu để sinh sống. Thời gian thụ tinh và nở kéo dài từ 10-20 ngày. Orange roughy tăng trưởng khá chậm, mất từ 2-30 năm để trưởng thành.
Tổng sản lượng đánh bắt trên thế giới, theo FAO, năm 1999 là 36 ngàn tấn, trong đó Tân Tây Lan chiếm 23 ngàn và Úc 7 ngàn tấn. Hoa Kỳ nhập mỗi năm 8,600 tấn.
Thành phần dinh dưỡng:
100 gram phần ăn được (bỏ xương) chứa:
- Calories 65 g 
- Chất béo 0.66g
- Bảo hòa vết  
- Chưa bão hòa mono 0.44 g
- Chưa bảo hòa poly vết 
- Cholesterol 18.7 gram
- Chất đạm 12.5 
- Sodium 54 mg
- Potassium 280 mg 
- Magnesium 28 mg
- Vitamin B12 1.87 mcg 
- Niacin 2.82 mg
- Vitamin B6 0.33 mg  
- Riboflavin 0.11 mg
- Thiamin 0.11 mg
Xét về phương diện dinh dưỡng, Orange roughy được xếp vào nhóm cá chứa ítcholesterol, cung cấp nhiều chất đạm và các vitamin như B6, B12. Lượng acid béo
omega-3 tương đối thấp.
Các nghiên cứu khoa học ghi nhận:
Da, xương và bong bóng của cá Orange roughy đề chứa một lượng chất béo khá cao (20% trọng lượng mỗi bộ phận). Chất béo này phần lớn thuộc loại esters sáp. Các esters này có dây Carbon dài đến 34-40 C. Trong khi đó gan và trứng của cá lại chứa các acid béo loại glycerolipids bình thường (Lipids số 18-1983)
Nghiên cứu tại Đại Học Otago (Tân Tây Lan) và Đại Học San Diego State University về Vấn đề biến dưỡng các esters-sáp trong cá Orange roughy ghi nhận chất béo từ các mô mỡ của cá thuộc loại hợp chất phức tạp trong các nhóm triacylglycerols vàphospholipids. các hợp chất này chứa nhiều palmitate và oleate, đồng thời được khử thành cac alchohols béo. Riêng nơi bong bóng cá các esters-sáp chứa lượng khá cao hợp chất palmitate (Marine Biology Số 105- 2005).
Khi tiêu thụ lượng cao Orange roughy (1 pound), cơ thể không thể tiêu hóa được các esters-sáp trong cá nên đã thải các chất béo này theo phân! (Cũng như trường hợp ăn cá Escolar 'Lepidocybium flavobrunneum'  và cá Oilfish 'Ruvettus pretiosus', sẽ dễ bị tiêu chảy do cơ thể khôïng tiêu hóa được các chất béo có phân tử lượng cao trong mỡ của cá).
Tài liệu sử dụng:
- FAO Fish Species Fact Sheets
- Orange Roughy: Monterey Bay Aquarium Seafood Watch
- Fish Base: Hoplostethus atlanticus
- Prevention Magazine Nutrition Advisor

Giác mạc (cornea) là một lớp mô cứng, trong suốt bao phủ phía trước mắt. Nó giúp tập trung ánh sáng vào võng mạc (retina). Nếu giác mạc bị tổn thương do bệnh tật hoặc chấn thương, nó có thể gây ảnh hưởng đến thị lực. Trên toàn thế giới, gần 13 triệu người bị mù do các vấn đề về giác mạc.
Các phòng khám ‘lang băm’ hô hào có bán các liệu pháp tế bào gốc (stem cell therapies) mọc lên nhan nhản khắp mọi nơi. Trên thế giới, có hàng ngàn phòng khám, cơ sở tuyên bố có thể chữa được bách bệnh, từ bệnh tự kỷ cho đến bại não. Những nơi có nhiều ‘phòng khám trị liệu tế bào gốc’ nhất là ở Hoa Kỳ, Mexico, Ấn Độ và Trung Quốc. Rất nhiều người đang đi khắp mọi nơi để tiếp cận những phương pháp điều trị này, dẫn đến một hiện tượng được gọi là du lịch tế bào gốc (stem cell tourism).
Cứ bốn năm ngàn bé trai ra đời là có một bé bị một chứng bệnh di truyền làm chúng bại liệt, yếu dần và tử vong sớm. Ngày 22 tháng 6, 2023 Cơ quan quản trị thực phẩm và thuốc của Hoa Kỳ FDA chuẩn thuận một trị liệu dùng gen (di thể) mới nhất, với giá cao chưa từng thấy là trên 3 triệu đô la cho mỗi liều thuốc (may mắn là chỉ cần một liều duy nhất). Trước hết chúng ta bàn về bệnh này. Tên của bệnh là “loạn dưỡng cơ Duchenne” dịch từ danh từ khoa học quốc tế: tiếng Anh là Duchenne Muscular Dystrophy (DMD). Duchenne là tên của một bác sĩ chuyên khoa thần kinh tiên phong thế kỷ thứ 18 công bố về bịnh này (sau vài người khác) và bs đầu tiên làm sinh thiết (biopsy) các cơ bắp trong những đứa trẻ bị liệt trong bịnh này.
Một loại thuốc hứa hẹn mới sẽ là phương pháp đầu tiên trên thế giới giúp người lớn có thể mọc lại răng một cách tự nhiên, hoặc giúp trẻ em mắc chứng “anodontia” bẩm sinh có thể mọc răng như bình thường. Nghiên cứu mới do các khoa học gia tại Trường Kyoto và Trường Fukui thực hiện, dẫn đầu bởi Katsu Takahashi. Ông cho biết: “(Phương pháp) làm mọc răng mới là giấc mơ của mọi nha sĩ. Tôi đã nghiên cứu nó từ khi còn là sinh viên. Tôi tin rằng mình có thể làm được điều đó.”
Hiện nay, có khoảng 10% người dân Hoa Kỳ mắc bệnh ù tai (tinnitus) dạng nặng. Chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi trong tai luôn có tiếng ù ù và o o dù không có bất kỳ tác động nào từ môi trường bên ngoài. Tuy nhiên, giờ đây, những người bị ù tai sẽ có thêm niềm hy vọng, bởi sắp có một phương pháp điều trị kết hợp sử dụng âm thanh và kích thích điện từ.
Trong thời đại khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ nhanh hơn sự ứng đối của con người như hiện nay không ít người quan ngại về nguy cơ các sản phẩm trí thông minh nhân tạo có thể thoát khỏi tầm kiểm soát của con người. Điều trớ trêu là sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật cũng từ con người mà ra. Hay nói cách khác, chính con người là tác nhân của các sản phẩm khoa học kỹ thuật tân tiến đó lại lo ngại tạo vật của mình. Tuy nhiên, thực tế còn có một nghịch lý khác, đó là cho đến ngày nay, con người thông qua sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật vẫn chưa biết rõ, hay nói chính xác hơn là vẫn chưa chứng minh được bằng phương thức khoa học khách quan ai là tác nhân thực sự của các sản phẩm khoa học kỹ thuật tân tiến đó: tâm trí hay não bộ hay cả hai?
Là cơ quan lớn nhất của cơ thể, da luôn cần được giữ cho khỏe mạnh và sạch sẽ. Thêm vào đó, một làn da khỏe đẹp luôn hấp dẫn trong mắt mọi người và là điều mà bất kỳ ai cũng muốn sở hữu. Ngành chăm sóc da (skincare) đã bùng nổ, đạt giá trị 133.9 tỷ MK vào năm 2018, và dự kiến sẽ đạt mức 200.25 tỷ MK vào năm 2026. Danh sách các sản phẩm chăm sóc da thì ngày càng dài ra với vô số thành phần gây tranh cãi. Thật khó để tìm ra những gì làn da của chúng ta thật sự cần. Trong bài này, các chuyên gia sẽ giải thích cách làn da bảo vệ chúng ta, cách giữ gìn da dẻ và những thói quen tốt đối với làn da của quý vị.
Bờ Tây Hoa Kỳ đang ở trong một tuần lễ nhiệt độ tăng cao, và các nhà dự báo thời tiết hôm đầu tuần đã cảnh báo nhiệt độ vào cuối tuần này sẽ lên quá cao tại một số khu vực đông dân cư nhất ở Arizona, đồng thời cảnh báo cư dân ở các vùng của Nevada và New Mexico nên ở trong nhà tránh nhiệt.
Bước tiến lớn tiếp theo trong điều trị ung thư có thể là vắc xin. Sau nhiều thập niên miệt mài làm việc, các khoa học gia cho biết nghiên cứu đã đạt đến một bước ngoặt quan trọng, dự đoán sẽ có thêm nhiều loại vắc xin trong 5 năm tới. Tuy nhiên, đây không phải là những loại vắc xin truyền thống giúp ngăn ngừa bệnh tật, mà là những mũi tiêm để giúp thu nhỏ khối u và ngăn chặn ung thư tái phát. Các phương pháp điều trị thử nghiệm này nhắm mục tiêu vào những loại ung thư như ung thư vú và ung thư phổi, nhưng cũng đã có một số thành tựu đối với ung thư tế bào hắc tố (melanoma) và ung thư tụy tạng được thử nghiệm trong năm nay.
Đa xơ cứng, (Multiple Sclerosis, MS), là một bệnh thần kinh thường bắt đầu ở độ tuổi từ 20 đến 40. Bệnh này phổ biến ở phụ nữ hơn ở nam giới. Bệnh đa xơ cứng xảy ra do hệ thống miễn dịch rối loạn tấn công nhầm vào não và tủy sống. Mặc dù có những điều trị mới và hiệu quả hơn, hầu hết những người bị chứng bệnh này vẫn ngày càng bệnh nặng hơn theo thời gian.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.