Hôm nay,  

Kể Chuyện Thiền Sư

14/03/201400:00:00(Xem: 7338)
Trí tuệ cao hơn vương quyền? Đúng như thế, vì trí tuệ sẽ dẫn chúng ta tới nơi giải thoát, nhưng vương quyền nếu thiếu vắng trí tuệ sẽ buộc chúng ta vào mãi cõi tham sân si.

Hôm nay mới đọc một bài của Thiền sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh trên mạng Thư Viện Hoa Sen, xin trích lại như sau:

“THIỀN SƯ VÀ BẬC VƯƠNG GIẢ

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Đức vua Milinda quyền uy hiển hách, vang bóng một thời, khi đối thoại với tỳ-khưu Nagase?a, nhà vua đã tự tước bỏ cái lốt “vương giả” để xin được hầu chuyện như một bậc “trí giả”.

Ở Việt Nam ta vào thời Lý-Trần, các nhà vua đến thăm các vị thiền sư thường lấy tư cách của một người đệ tử, lại còn tâm đắc hơn là, trong lúc đàm thoại, các vị thiền sư của ta thường gửi gắm “thiền ý” rất văn hoa và thi vị. Và nếu đức vua là bậc căn cơ thượng trí, có khả năng vén lớp sương mù ngôn ngữ khái niệm, ông ta sẽ “tao ngộ” được cái “chân diện mục” của mình đã từ ngàn xưa lưu lạc.

Bây giờ, chúng ta hãy “trước đèn lần giở cảo thơm”, đọc lại cuộc đàm đạo giữa Thiền sư Thiền Lão và vua Lý Thái Tông thử xem.

Vào khoảng niên hiệu Thống Thụy (1034-1038), vua Lý Thái Tông nghe danh Thiền Lão là bậc cao tăng đắc đạo, môn sinh theo học hàng ngàn, bèn xa giá lên núi Thiên Phúc, Tiên Du bái yết.

Sau khi được diện kiến, vua thấy vị sư già có dung mạo, cốt cách như tòng như hạc, tuyết sương đã cỗi, lễ độ cung tay thưa rằng:

- Lão thiền sư ở núi này bao lâu rồi?

Khẽ đưa mắt ngước nhìn bậc vương giả: Oai nghi đường bệ, nhưng khí sắc trầm hùng, bình hòa.

Sư bèn thử “sự thâm chứng thiền học” của nhà vua, nên đáp:

“Đản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu”

(Chỉ biết tháng ngày này
Xuân thu thuở trước ai hay làm gì!)

Nhà vua ngơ ngác. Ông sư già này lẩm cẩm rồi, hỏi một đường, đáp một nẻo. Nhưng dẫu sao, bậc vương giả vốn hay thơ, nghe thiền sư đọc thơ thì cảm thấy thú vị, chẳng chấp gì, hỏi tiếp:

- Vậy thì hằng ngày, Lão thiền sư làm việc gì?

Thiền sư nhìn vua, rồi nhìn hoa cảnh viên môn, tủm tỉm cười, bắt đầu hai tứ thơ xuất hiện, dường như chưa đi qua sự khúc xạ của trí năng:

“Thúy trúc, hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân, minh nguyệt hiện toàn chân”

(Trúc biếc, hoa vàng-không ngoại cảnh
Trăng trong, mây trắng-hiện toàn chân).

Thật tiếc cho tâm huyết của vị thiền sư già. Bậc vương giả kia đã không hiểu, không thấy “thiền sư có ý chỉ gì”, hỏi, thì Thiền Lão không muốn nhiều lời.


Và, thiền sư không muốn nhiều lời là đúng. Nhiều lời là nhiều ý, nhiều ý là chất chồng khái niệm, là “đầu thượng trước đầu”, là “tuyết thượng gia sương”!

Kẻ đạt ngộ, bất cứ dòng phái nào, quốc độ nào, màu da chủng tộc nào, luôn sống trong giây khắc hiện tại. Chỉ có hiện tại là “thực”. Chỉ có cái hiện tại: “Ở đây và bây giờ”- đang chảy trôi, đang dịch hóa mới chính là cái “pháp hiện tiền” cho ta “hiện quán” để thâm ngộ duyên sinh, vô ngã tính:

"Đản tri kim nhật nguyệt.
Thùy thức cựu xuân thu".


“Chỉ biết tháng ngày này, giây khắc này”. Không truy tầm quá khứ, không vọng móng tương lai, xuân thu thuở trước ai hay làm gì! Còn gì rõ hơn thế nữa? Tuy đã quá rõ nhưng bậc vương giả của chúng ta vẫn cứ loay hoay, lăng xăng, muốn hỏi hằng ngày thiền sư làm việc gì! Sao phải làm việc gì! Có “cái gì” nữa sao? Cứ sống trong giây khắc hiện tiền thì “làm gì” hay “không làm gì” đều là đạo cả, đều sống trong thiền, thở trong thiền, đi đứng trong thiền cả...

"Thúy trúc, hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân, minh nguyệt hiện toàn chân".

Hoa vàng kia, trúc biếc kia đâu phải là cái ở bên ngoài tâm. Thực tại, “yếu tính của thực tại” không ở trong, không ở ngoài, chẳng có chủ thể, chẳng có khách thể. Trăng trong kia, mây trắng kia... tất cả chúng đều hiện ra như chân, như thực, đại mỹ, châu toàn... Kẻ mê thì tầm cầu Đông Tây Nam Bắc, những cảnh giới phi thực; kẻ đạt ngộ họ sống với các pháp đang là, với mọi hiện hữu tương quan muôn đời như thị...

Một thời, thiền sư và bậc vương giả của chúng ta là thế ấy. Tuy ta không có được nhiều thông tin do sử liệu ít ỏi, nhưng chỉ cần một vài câu, một vài đoạn, ta có thể hình dung ra diện mạo văn học của một thời. Hãy thử tưởng tượng một ngàn đệ tử vây quanh, những cuộc đối thoại, nhàn đàm giữa thầy và trò, của người hỏi đạo, học đạo... đều hàm chứa văn, triết, thiền học. Chúng không chỉ cho ta thấy trình độ tri thức, kiến thức của họ mà còn toát lên nội lực tâm linh từ dòng thiền uyên áo; biết tiếp thu, chọn lọc, sáng tạo; biết giữ gìn và phát huy, tạo nên một bản sắc đặc trưng của Phật giáo Việt Nam ngay từ thời mới tự chủ, độc lập...

Ôi! Cao đẹp thay!
Minh Đức Triều Tâm Ảnh”

(Nguồn: http://thuvienhoasen.org/)

Cảm ơn một ngày tốt đẹp, với một bản văn hướng thượng.

Theo báo Đồng Nai trích dẫn tài liệu từ "Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức, vào hậu bán thế kỷ 17, trong cuộc hành trình phương Nam, các thế hệ di dân người Việt với phương tiện chính yếu là thuyền, ghe, xuồng... theo thủy triều ngược dòng Đồng Nai vào định cư ở các giồng đất hai bên bờ. Do đây là những nơi sẵn nước ngọt dùng cho sinh hoạt
Trên địa bàn các tỉnh miền Trung, có nhiều giáo đường, chùa cổ nổi tiếng. Riêng tại tỉnh Phú Yên, có chùa Đá Trắng là trong những 1 di tích lịch sử văn hóa. Nhiều câu chuyện xung quanh ngôi chùa này đã trở thành những điển tích không chỉ về mặt tôn giáo mà còn mang đậm bản sắc văn hóa.
Trong hệ thống sông ngòi thuộc miền Đông Nam phần, sông Thị Vải có chiều dài 76 km, chảy qua địa bàn các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu và TPSG. Con sông này từ bao đời đã cung cấp một lượng lớn nguồn lợi thủy sản. Theo người dân sở tại, từ khi các nhà máy công nghiệp mọc lên dọc theo dòng sông này,cũng là lúc cuộc sống và sức khỏe của họ bị đe dọa bởi sông Thị Vải
Theo ghi nhận của báo Pháp Luật TPSG, cho đến nay, cá ngựa vẫn là một trong những môn thể thao hiếm hoi được phép cá cược tại Việt Nam. Tại mã trường Phú Thọ, đại đa số "tuyệt phích" (ngôn ngữ chuyên môn trong giới cá ngựa đặt cho những tay đánh cá) vẫn là những người lao động bình thường ở địa bàn thành phố Sài Gòn và Long An.
Hàng ngày, tại các bến xe trên địa bàn thành phố Sài Gòn, trong số hàng ngàn hành khách từ các tỉnh đến, luôn có những lao động nghèo ở vùng quê. Họ đi một mình, hoặc mang theo cả gia đình. Đến Sài Gòn mưu sinh mỗi người mỗi nghề, và có những nghề thu hút cả gia đình, thân quyến như nghề bán vé số dạo, bán ve chai. Với họ, dù phải sống lam lũ
Theo báo Lao Động, tại các khu công nghiệp, khu chế xuất thuộc địa bàn thành phố Sài Gòn, các nữ công nhân không chỉ đối mặt với cảnh nghèo ngay trong môi trường sống, họ đã phải chống chọi với nhiều nỗi lo: lo trộm cắp như rươi trong khu công nhân, lo kiếm người yêu nhưng khổ thay thường bị lừa, lo thân gái đi làm về khuya, lo giải quyết hậu quả từ những cuộc tình vội vã.
Theo ghi nhận của báo Cần Thơ, nguy cơ bùng phát dịch cúm gia cầm vẫn đang treo lơ lửng ở nhiều địa phương vùng miền Tây Nam phần VN. Nhiều gia đình nông dân trước đây chuyên sống bằng nghề nuôi gia cầm- nhất là nuôi vịt đàn - vẫn đang khốn khó khi phải tạm ngưng chăn nuôi mà chưa biết chuyển sang nghề gì để mưu sinh.
Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên-Huế, có 1 ngôi làng cổ được thành lập hơn 530 năm. Đó là làng cổ Phước Tích nằm trong địa phận xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên- Huế. Theo sử sách và gia phả các dòng họ còn lưu lại thì làng Phước Tích ngày nay được thành lập từ năm 1470, dưới triều vua Lê Thánh Tông.
Theo báo Thanh Niên, trên địa bàn tỉnh Phú Yên có 1 xóm mà cư dân luôn có nét buồn buồn, chẳng ai cười cho thoải mái. Điều này là do răng của người dân nơi đây đều bị đen xỉn, ố vàng và dễ bị gãy, rụng. Cư dân địa phương gọi cái xóm nàyvới cái tên hóm hỉnh "xóm... cười mỉm", dù xóm này có tên theo địa danh hành chính là xóm Trường, thôn Phú Xuân B, xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên
Theo ghi nhận của báo Người Lao Động, tại thành phố Cần Thơ, nhiều dân mua gánh bán bưng trang bị ampli, thùng loa để tiếng rao càng xa hơn, to hơn; lời rao hàng được thu âm sẵn, mở liên tục. Có những người bán trở thành ca sĩ bất đắc dĩ, còn xe bán hàng giống như một sàn diễn ca nhạc di động. Báo NLĐ ghi nhận về cách tiếp thị"hiện đại" của dân bán hàng rong ở Cần Thơ qua đoạn ký sự như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.