Hôm nay,  

Kể Chuyện Thiền Sư

14/03/201400:00:00(Xem: 7343)
Trí tuệ cao hơn vương quyền? Đúng như thế, vì trí tuệ sẽ dẫn chúng ta tới nơi giải thoát, nhưng vương quyền nếu thiếu vắng trí tuệ sẽ buộc chúng ta vào mãi cõi tham sân si.

Hôm nay mới đọc một bài của Thiền sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh trên mạng Thư Viện Hoa Sen, xin trích lại như sau:

“THIỀN SƯ VÀ BẬC VƯƠNG GIẢ

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Đức vua Milinda quyền uy hiển hách, vang bóng một thời, khi đối thoại với tỳ-khưu Nagase?a, nhà vua đã tự tước bỏ cái lốt “vương giả” để xin được hầu chuyện như một bậc “trí giả”.

Ở Việt Nam ta vào thời Lý-Trần, các nhà vua đến thăm các vị thiền sư thường lấy tư cách của một người đệ tử, lại còn tâm đắc hơn là, trong lúc đàm thoại, các vị thiền sư của ta thường gửi gắm “thiền ý” rất văn hoa và thi vị. Và nếu đức vua là bậc căn cơ thượng trí, có khả năng vén lớp sương mù ngôn ngữ khái niệm, ông ta sẽ “tao ngộ” được cái “chân diện mục” của mình đã từ ngàn xưa lưu lạc.

Bây giờ, chúng ta hãy “trước đèn lần giở cảo thơm”, đọc lại cuộc đàm đạo giữa Thiền sư Thiền Lão và vua Lý Thái Tông thử xem.

Vào khoảng niên hiệu Thống Thụy (1034-1038), vua Lý Thái Tông nghe danh Thiền Lão là bậc cao tăng đắc đạo, môn sinh theo học hàng ngàn, bèn xa giá lên núi Thiên Phúc, Tiên Du bái yết.

Sau khi được diện kiến, vua thấy vị sư già có dung mạo, cốt cách như tòng như hạc, tuyết sương đã cỗi, lễ độ cung tay thưa rằng:

- Lão thiền sư ở núi này bao lâu rồi?

Khẽ đưa mắt ngước nhìn bậc vương giả: Oai nghi đường bệ, nhưng khí sắc trầm hùng, bình hòa.

Sư bèn thử “sự thâm chứng thiền học” của nhà vua, nên đáp:

“Đản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu”

(Chỉ biết tháng ngày này
Xuân thu thuở trước ai hay làm gì!)

Nhà vua ngơ ngác. Ông sư già này lẩm cẩm rồi, hỏi một đường, đáp một nẻo. Nhưng dẫu sao, bậc vương giả vốn hay thơ, nghe thiền sư đọc thơ thì cảm thấy thú vị, chẳng chấp gì, hỏi tiếp:

- Vậy thì hằng ngày, Lão thiền sư làm việc gì?

Thiền sư nhìn vua, rồi nhìn hoa cảnh viên môn, tủm tỉm cười, bắt đầu hai tứ thơ xuất hiện, dường như chưa đi qua sự khúc xạ của trí năng:

“Thúy trúc, hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân, minh nguyệt hiện toàn chân”

(Trúc biếc, hoa vàng-không ngoại cảnh
Trăng trong, mây trắng-hiện toàn chân).

Thật tiếc cho tâm huyết của vị thiền sư già. Bậc vương giả kia đã không hiểu, không thấy “thiền sư có ý chỉ gì”, hỏi, thì Thiền Lão không muốn nhiều lời.


Và, thiền sư không muốn nhiều lời là đúng. Nhiều lời là nhiều ý, nhiều ý là chất chồng khái niệm, là “đầu thượng trước đầu”, là “tuyết thượng gia sương”!

Kẻ đạt ngộ, bất cứ dòng phái nào, quốc độ nào, màu da chủng tộc nào, luôn sống trong giây khắc hiện tại. Chỉ có hiện tại là “thực”. Chỉ có cái hiện tại: “Ở đây và bây giờ”- đang chảy trôi, đang dịch hóa mới chính là cái “pháp hiện tiền” cho ta “hiện quán” để thâm ngộ duyên sinh, vô ngã tính:

"Đản tri kim nhật nguyệt.
Thùy thức cựu xuân thu".


“Chỉ biết tháng ngày này, giây khắc này”. Không truy tầm quá khứ, không vọng móng tương lai, xuân thu thuở trước ai hay làm gì! Còn gì rõ hơn thế nữa? Tuy đã quá rõ nhưng bậc vương giả của chúng ta vẫn cứ loay hoay, lăng xăng, muốn hỏi hằng ngày thiền sư làm việc gì! Sao phải làm việc gì! Có “cái gì” nữa sao? Cứ sống trong giây khắc hiện tiền thì “làm gì” hay “không làm gì” đều là đạo cả, đều sống trong thiền, thở trong thiền, đi đứng trong thiền cả...

"Thúy trúc, hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân, minh nguyệt hiện toàn chân".

Hoa vàng kia, trúc biếc kia đâu phải là cái ở bên ngoài tâm. Thực tại, “yếu tính của thực tại” không ở trong, không ở ngoài, chẳng có chủ thể, chẳng có khách thể. Trăng trong kia, mây trắng kia... tất cả chúng đều hiện ra như chân, như thực, đại mỹ, châu toàn... Kẻ mê thì tầm cầu Đông Tây Nam Bắc, những cảnh giới phi thực; kẻ đạt ngộ họ sống với các pháp đang là, với mọi hiện hữu tương quan muôn đời như thị...

Một thời, thiền sư và bậc vương giả của chúng ta là thế ấy. Tuy ta không có được nhiều thông tin do sử liệu ít ỏi, nhưng chỉ cần một vài câu, một vài đoạn, ta có thể hình dung ra diện mạo văn học của một thời. Hãy thử tưởng tượng một ngàn đệ tử vây quanh, những cuộc đối thoại, nhàn đàm giữa thầy và trò, của người hỏi đạo, học đạo... đều hàm chứa văn, triết, thiền học. Chúng không chỉ cho ta thấy trình độ tri thức, kiến thức của họ mà còn toát lên nội lực tâm linh từ dòng thiền uyên áo; biết tiếp thu, chọn lọc, sáng tạo; biết giữ gìn và phát huy, tạo nên một bản sắc đặc trưng của Phật giáo Việt Nam ngay từ thời mới tự chủ, độc lập...

Ôi! Cao đẹp thay!
Minh Đức Triều Tâm Ảnh”

(Nguồn: http://thuvienhoasen.org/)

Cảm ơn một ngày tốt đẹp, với một bản văn hướng thượng.

Theo báo Tuổi Trẻ, tại tỉnh Hưng Yên thuộc miền Bắc VN có một xã mà cư dân nghèo đã kiếm sống bằng nghề nấu cơm nắm. Xã này hiện thu hút 3 ngàn - 5 ngàn lao động thường xuyên, chính yếu là gia đình nghèo, vừa nắm cơm vừa đi bán. Giờ đây những nắm cơm muối vừng của xã này đã có mặt khắp nơi ở Hà Nội, khách mua chính yếu là công nhân viên chức, học sinh, sinh viên nghèo.
Theo ghi nhận của Thời báo Kinh Tế VN, từ sau Tết Bính Tuất, các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Sài Gòn và các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai đã phải đối mặt với tình trạng thiếu công nhân. Không chỉ các doanh nghiệp trong nước mà ngay cả các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp và khu chế xuất đều chung nỗi lo tìm lao động.
Theo tài liệu báo Lao Động, từ những năm đầu thế kỷ 15 -16, theo chân những lưu dân Bắc Việt mở cõi về phương Nam, nhiều ngành thủ công mỹ nghệ ra đời và phát triển trên vùng đất Quảng Nam. Hàng trăm năm thịnh vượng, thăng trầm, nhưng một số làng nghề Quảng Nam vẫn được gìn giữ theo truyền thống cha truyền con nối cho đến ngày nay.
Theo báo quốc nội, tại tỉnh Bình Định, bánh tráng có từ lâu lắm, tương truyền khi dẫn quân thần tốc tiến ra Bắc, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã nghĩ ra cách để chế ra thứ lương khô quân vừa ăn vừa hành quân, không phải nấu nướng...
Theo báo quốc nội, tại Tây nguyên, có nhà thờ Chánh tòa Kon Tum được người dân gọi gần gũi là nhà thờ Gỗ. Nhà thờ này được xây dựng ở trung tâm thị xã từ năm 1913, tới năm 1918 thì hoàn thành. Công trình này là sự kết hợp giữa phong cách châu Âu và nét văn hóa Tây Nguyên. Báo Bình Định viết về nhà thờ này như sau.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, xích lô ở Huế có những đặc trưng khác với xích lô tại một số thành phố của VN. Một nhà nghiên cứu về Huế nhận xét rằng: "Xích lô Huế vừa phải, chừng mực, không cao quá để bị gió lật, không thấp quá để chẳng thấy lấp lánh dòng sông, không rộng quá để đôi lứa lắc đầu, không hẹp quá để ngại ngùng ai đó.
Tại trung tâm thành phố Sài Gòn, có một con phố không bao giờ ngủ, đó là khu "Tây balô" thuộc khu vực phường Phạm Ngũ Lão, quận 1. Suốt đêm luôn dập dìu những người trẻ tuổi, có người tìm đến phố này như một nhu cầu giao tiếp, nhưng cũng có kẻ xem như một chốn ăn chơi, tìm cảm giác lạ. Ban đêm ở khu phố này còn có nhiều dân nghèo kiếm sống.
Theo báo Thanh Niên, những năm gần đây, tại miền Bắc VN, con mèo trở thành một món thương phẩm thuộc loại "hàng độc", quý hiếm với một cái giá rất cao so với mức sống khốn khổ của thường dân. Mèo đang bị săn lùng, thu gom tại miền Trung và theo những chuyến xe về phương Bắc. Nhiều người gọi mèo bằng cái tên "tiểu hổ"
Theo báo quốc nội, tại ngoại ô thành phố Đà Lạt, có 1 thác nước nằm cách quốc lộ 20B khoảng 2.7km về phía đông, thuộc ấp Túy Sơn, xã Xuân Thọ. Có nhiều tên gọi khác nhau dành cho thác nước này: Thác Đạ Sar, Long Nhân, Hang Cọp, Thiên Thai. Cạnh thác có hang đá rộng mà người sắc tộc Chill gọi là Hang Cọp vì tương truyền có cọp ở đây.
Miền Tây Nam phần được xem là một trong những vựa trái cây lớn nhất của cả VN. Bên cạnh những loại cây ăn trái nổi danh, thời gian gần đây, một số nhà vườn ở miền Tây đã tìm tòi nhân giống để tạo ra những loại cây ăn trái lạ.Trong dịp Tết Nguyên đán vừa qua, những loại trái cây lạ này đã được các thương lái và những nghệ nhân tạo hình trái cây "săn" đón để thiết kế mâm ngũ quả chưng trên bàn thờ tổ tiên.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.