Hôm nay,  

Nhà Thơ Tản Đà

21/05/201700:00:00(Xem: 6349)
Một nhà thơ lớn của dân tộc -- cụ Tản Đà -- cũng sinh ngày 19 tháng 5. Đa tài, viết trong nhiều lĩnh vực, và đã trở thành một ngọn núi văn học đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam.

Theo Tự Điển Bách Khoa Mở, nhà thơ Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 - mất ngày 7 tháng 6 năm 1939 -- tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại".

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.

Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao - Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này.

Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ Phó bảng và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, sau làm ở cục Tu thư, rồi Hiệu trưởng trường Tân Quy, Đốc học Vĩnh Yên. Tản Đà từ nhỏ sống với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô - Ninh Bình, Vụ Bản - Nam Định, Quảng Oai - Sơn Tây, Vĩnh Tường - Vĩnh Yên.

Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

Tản Đà hấp thụ nền Nho giáo từ nhỏ, được ông Tích nhiệt tình hướng vào con đường cử nghiệp. Theo hồi ký trong 1 bài thơ thì 5 tuổi ông học Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết,... 6 tuổi học Luận ngữ, kinh, truyện và chữ quốc ngữ, 10 tuổi biết làm câu đối, 11 tuổi làm thơ văn. Ông rất thích làm văn, lại được anh hết lòng chỉ dẫn, nên 14 tuổi đã thạo các lối từ, chương, thi, phú. Lúc còn học ở trường Quy thức - một trường học thực nghiệm cải cách của Pháp mở ở Hà Nội-, ông viết bài "Âu Á nhị châu hiện thế" bằng chữ Hán, được các báo ở Hồng Kông đăng trong mục xã thuyết. Năm 15 tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây.

Giai đoạn niên thiếu của Tản Đà phần lớn dành cho chuyện thi cử, đến năm 19 tuổi, ông mới có những rung cảm tình ái đầu đời. Đó là mối tình với con gái nhà tư sản Đỗ Thận. Năm sau ông lại yêu con gái ông tri huyện phủ Vĩnh Tường. Nhưng 2 mối tình này đều không được trả lời.

Năm 1909 (Kỷ Dậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định, rồi trượt trong lần đi thi đầu tiên này. Ông về lại nhà ở Phủ Vĩnh Tường ôn tập. Trong thời gian này, ông say mê một cô gái bán tạp hoá ở phố hàng Bồ. Vì nhà nghèo, không có tiền hỏi cưới, ông đành nuôi hy vọng bằng cách tiếp tục đường khoa cử. Kỳ thi xảy đến, ông dùng bằng Ấm sinh để thi hậu bổ, nhưng bị rớt vì môn vấn đáp bằng tiếng Pháp. Mùa thu năm ấy, ông lại đi thi hương, nhưng lại trượt. Chuyện tình với cô bán sách tan vỡ, cô đi lấy chồng. Ông chán nản bỏ về Hòa Bình tìm khuây lãng. Tại đây nhờ sự giới thiệu của anh rể là nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế, Tản Đà kết giao với nhà tư sản Bạch Thái Bưởi. Hai người bạn mới gặp đã như quen, cùng vào dãy Hương Sơn, ngọn Chùa Tiên, đêm ngày uống rượu, làm thơ, đọc sách, thưởng trăng, sống theo lối "tịch cốc". Lúc này lần đầu tiên ông đọc Tân thư, sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tìm hiểu về cách mạng Tân Hợi. Nhiều bài thơ và tư tưởng đặc biệt của ông ra đời trong giai đoạn này.

Năm 1913, anh cả Nguyễn Tài Tích mất. Tản Đà về Vĩnh Yên làm nghề báo, tờ báo ông cộng tác đầu tiên là "Đông Dương tạp chí" của Nguyễn Văn Vĩnh, phụ trách mục "Một lối văn nôm".

Đến năm 1915, ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con trai ông là Nguyễn Mạnh Hương tri huyện ở tỉnh Hà Đông, trở thành anh em cột chèo với nhà văn Phan Khôi. Ông Hương là thân sinh của nhà văn Nguyễn Tiến Lãng. Cũng năm này ông có tác phẩm hay, đăng trên "Đông dương tạp chí", nhanh chóng có được tiếng vang trên văn đàn. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông Đà, và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp.

Và từ đó, ông trở thành một văn tài lớn, thơ hay và văn hay. Có rất nhiều giai thoại đan xen trong đời Tản Đà, trong đó có 4 mối tình để lại các dấu ấn sâu sắc trong thơ.

Nơi đây, chúng ta ghi vài lời nhận xét.

Nhà văn Nguyễn Tuân:

“Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”

Nhà thơ Bùi Giáng viết:

“Nếu tiên sinh còn sống, ắt tại hạ xin được phép cùng tiên sinh nhậu nhẹt một trận lu bù. Thơ của tiên sinh làm, chẳng có chi xuất sắc. Nhưng bản dịch "Trường hận ca" của tiên sinh quả thật là vô tiền khoáng hậu.”

Xuân Diệu viết:

“Chính cái sầu trong thơ Tản Đà là đầu mối quỷ thuật chính yếu để dụ người ta.”

Ngô Tất Tố viết:

“Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử sau này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà là một người đứng đầu của thời đại này.”

Theo thông cáo của Bộ Giáo dục-Đào tạo CSVN, kỳ thi tuyển sinh viên vào các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp tại VN niên khóa 2005-2006 sẽ diễn ra từ 4/7 đến 22/7/2005 với 3 đợt thi cho các ngành học và các loại trường. Ngay từ tháng 4, các lò luyện thi đã "vận hành" tối đa tốc lực để thu hút học sinh theo học các lớp luyện thi cấp tốc.
Theo báo quốc nội, thành phố Vũng Tàu hiện nay tràn ngập nạn hàng rong. Cấm cứ cấm, dẹp cứ dẹp, nhưng tồn tại vẫn cứ tồn tại. Còn hơn thế, hàng rong ngày càng phát triển hơn, hàng trăm gánh hàng rong, xe đẩy hàng rong, xe đạp hàng rong và... xe nổ hàng rong mỗi ngày túa ra khắp các Bãi Trước, Bãi Sau, Bãi Dâu, Bãi Dứa. Người ta gọi đó là "chợ" chạy. Báo Bà Rịa-Vũng Tàu viết như sau.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, thời gian gần đây, các đoàn kiểm tra liên ngành của thành phố Sài Gòn đã phát giác nhiều vụ in lậu sách giáo khoa dành cho học sinh trung học. Báo quốc nội dẫn báo cáo của Nhà Xuất bản Giáo Dục (NXBGD) tại thành phố Sài Gòn cho biết tình trạng in lậu sách của nhà xuất bản này trong thời gian qua ở mức báo động. SGGP ghi nhận thực trạng này như sau.
Trên địa bàn quận 8 thành phố Sài Gòn, có 1 đội công nhân chuyên vớt rác trên sông rạch. Vớt những mảng rác đặc quánh trên dòng kênh không làm cho các công nhân đội này ngán bằng ngâm mình dưới làn nước vừa lạnh vừa bẩn để cắt cỏ dại bám rễ từng mảng lớn không thể vớt được. Mà đã lội trong rác thì chuyện đạp phải đinh, miểng chai
Theo báo quốc nội, luật doanh nghiệp hiện hành tại VN có rất nhiều thiếu sót về pháp lý, tạo cơ hội cho nhiều gian thương lợi dụng để cho ra đời hàng loạt các công ty "vô trách nhiệm vô hạn" với những giám đốc "cuội", không kinh doanh mà chỉ lừa đảo. Báo Công An ghi nhận hiện trạng này qua một trường hợp như sau.
Tại miền Tây Nam phần VN, các tỉnh duyên hải đồng bằng sông Cửu Long được thiên nhiên ưu đãi với những bãi nghêu trù phú giúp nhiều nông dân mưu sinh thoát nghèo. Tuy nhiên, khoảng một tháng nay "mỏ nghêu" rộng lớn ở vùng này xuất hiện dịch bệnh làm nghêu chết hàng loạt, gây thiệt hại lớn. Hàng ngàn gia đình nông dân đang mất ăn mất ngủ, và khi mà nghêu vẫn tiếp tục chết.
Theo báo quốc nội, cư dân Sài Gòn ăn suốt ngày suốt đêm, ăn tận hang cùng ngõ hẻm đến các nhà hàng sang trọng, có cả những khu ăn tập trung như: phố đêm chợ Bến Thành, đường Phan Xích Long, khu Miếu Nổi dọc kênh Nhiêu Lộc quận Phú Nhuận hay đường Tản Đà quận 5... Và quận huyện nào cũng có những "làng" ăn. Báo Thanh Niên viết như sau.
Tại VN, những sinh viên trọ học xa nhà luôn luôn phải vật lộn với hàng trăm khoản tiền như học phí, tiền ăn, tiền ở, tiền quán xá Đó là chưa kể những khoản vặt vãnh không tên khác. Nhiều sinh viên đã mắc nợ như"Chúa Chổm", lâm vào tình cảnh khốn đốn. Báo Thanh Niên ghi nhận tình cảnh của một số sinh viên khốn đốn vì nợ nần như sau.
Trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, cách thị xã Phan Rang khoảng hơn 40km có ngôi chợ khá lạ, có thể nói là hiếm trong hàng ngàn ngôi chợ ở miền Trung bởi hàng bán ở chợ chỉ độc một món duy nhất: cỏ. Đặc biệt, người bán cỏ tại chợ này đều là nông dân. Họ đi cắt cỏ chở về chợ bán. Miếng ăn hằng ngày của các gia đình ở đây chính yếu từ cỏ.
Theo ghi nhận của báo Sài Gòn Tiếp Thị, tỉnh Thừa Thiên-Huế là địa phương có nhiều chùa chiền vào hàng nhất VN, hơn 400 chùa và 230 niệm phật đường. Về nông thôn mỗi làng cũng có chùa, gọi là chùa làng. Vì thế, số người ăn chay hàng tháng không phải nhỏ. Thời nhà Nguyễn, hoàng tộc đã ăn chay, các hoàng thân quốc thích đều xây chùa riêng để làm công đức.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.