Hôm nay,  

Nhà Thơ Tản Đà

21/05/201700:00:00(Xem: 6324)
Một nhà thơ lớn của dân tộc -- cụ Tản Đà -- cũng sinh ngày 19 tháng 5. Đa tài, viết trong nhiều lĩnh vực, và đã trở thành một ngọn núi văn học đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam.

Theo Tự Điển Bách Khoa Mở, nhà thơ Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 - mất ngày 7 tháng 6 năm 1939 -- tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại".

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.

Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao - Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này.

Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ Phó bảng và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, sau làm ở cục Tu thư, rồi Hiệu trưởng trường Tân Quy, Đốc học Vĩnh Yên. Tản Đà từ nhỏ sống với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô - Ninh Bình, Vụ Bản - Nam Định, Quảng Oai - Sơn Tây, Vĩnh Tường - Vĩnh Yên.

Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

Tản Đà hấp thụ nền Nho giáo từ nhỏ, được ông Tích nhiệt tình hướng vào con đường cử nghiệp. Theo hồi ký trong 1 bài thơ thì 5 tuổi ông học Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết,... 6 tuổi học Luận ngữ, kinh, truyện và chữ quốc ngữ, 10 tuổi biết làm câu đối, 11 tuổi làm thơ văn. Ông rất thích làm văn, lại được anh hết lòng chỉ dẫn, nên 14 tuổi đã thạo các lối từ, chương, thi, phú. Lúc còn học ở trường Quy thức - một trường học thực nghiệm cải cách của Pháp mở ở Hà Nội-, ông viết bài "Âu Á nhị châu hiện thế" bằng chữ Hán, được các báo ở Hồng Kông đăng trong mục xã thuyết. Năm 15 tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây.

Giai đoạn niên thiếu của Tản Đà phần lớn dành cho chuyện thi cử, đến năm 19 tuổi, ông mới có những rung cảm tình ái đầu đời. Đó là mối tình với con gái nhà tư sản Đỗ Thận. Năm sau ông lại yêu con gái ông tri huyện phủ Vĩnh Tường. Nhưng 2 mối tình này đều không được trả lời.

Năm 1909 (Kỷ Dậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định, rồi trượt trong lần đi thi đầu tiên này. Ông về lại nhà ở Phủ Vĩnh Tường ôn tập. Trong thời gian này, ông say mê một cô gái bán tạp hoá ở phố hàng Bồ. Vì nhà nghèo, không có tiền hỏi cưới, ông đành nuôi hy vọng bằng cách tiếp tục đường khoa cử. Kỳ thi xảy đến, ông dùng bằng Ấm sinh để thi hậu bổ, nhưng bị rớt vì môn vấn đáp bằng tiếng Pháp. Mùa thu năm ấy, ông lại đi thi hương, nhưng lại trượt. Chuyện tình với cô bán sách tan vỡ, cô đi lấy chồng. Ông chán nản bỏ về Hòa Bình tìm khuây lãng. Tại đây nhờ sự giới thiệu của anh rể là nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế, Tản Đà kết giao với nhà tư sản Bạch Thái Bưởi. Hai người bạn mới gặp đã như quen, cùng vào dãy Hương Sơn, ngọn Chùa Tiên, đêm ngày uống rượu, làm thơ, đọc sách, thưởng trăng, sống theo lối "tịch cốc". Lúc này lần đầu tiên ông đọc Tân thư, sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tìm hiểu về cách mạng Tân Hợi. Nhiều bài thơ và tư tưởng đặc biệt của ông ra đời trong giai đoạn này.

Năm 1913, anh cả Nguyễn Tài Tích mất. Tản Đà về Vĩnh Yên làm nghề báo, tờ báo ông cộng tác đầu tiên là "Đông Dương tạp chí" của Nguyễn Văn Vĩnh, phụ trách mục "Một lối văn nôm".

Đến năm 1915, ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con trai ông là Nguyễn Mạnh Hương tri huyện ở tỉnh Hà Đông, trở thành anh em cột chèo với nhà văn Phan Khôi. Ông Hương là thân sinh của nhà văn Nguyễn Tiến Lãng. Cũng năm này ông có tác phẩm hay, đăng trên "Đông dương tạp chí", nhanh chóng có được tiếng vang trên văn đàn. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông Đà, và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp.

Và từ đó, ông trở thành một văn tài lớn, thơ hay và văn hay. Có rất nhiều giai thoại đan xen trong đời Tản Đà, trong đó có 4 mối tình để lại các dấu ấn sâu sắc trong thơ.

Nơi đây, chúng ta ghi vài lời nhận xét.

Nhà văn Nguyễn Tuân:

“Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”

Nhà thơ Bùi Giáng viết:

“Nếu tiên sinh còn sống, ắt tại hạ xin được phép cùng tiên sinh nhậu nhẹt một trận lu bù. Thơ của tiên sinh làm, chẳng có chi xuất sắc. Nhưng bản dịch "Trường hận ca" của tiên sinh quả thật là vô tiền khoáng hậu.”

Xuân Diệu viết:

“Chính cái sầu trong thơ Tản Đà là đầu mối quỷ thuật chính yếu để dụ người ta.”

Ngô Tất Tố viết:

“Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử sau này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà là một người đứng đầu của thời đại này.”

Gần đây, tại các tỉnh miền Tây, hàng loạt các vụ ngộ độc, chết vì rượu xảy ra khiến dư luận không thể không để ý đến một lĩnh vực mà lâu nay ít được đề cập. Vì không được phép quảng cáo dưới bất kỳ hình thức nào nên những thông tin về rượu đối với người sử dụng gần như không có. Người uống trước đó chỉ biết chất lượng rượu thông qua người bán lẻ, người bán lẻ thì dựa vào người bỏ mối...
Tại quận 6 TPSG, có 1 khu phố nghèo với hàng trăm cư dân kiếm sống bằng công việc đào, đãi đất tìm sắt vụn.Từ rạng sáng đến chạng vạng tối, hàng trăm người hì hục đào, đãi, nhặt nhạnh từng chút sắt vụn. Mỗi ngày, một người có thể kiếm 60 ngàn-80 ngàn đồng, có khi "trúng ổ" được 300 ngàn- 400 ngàn đồng. Báo Lao Động ghi nhận về kế mưu sinh của những người dân khốn khổ này qua đoạn ký sự như sau.
Tại miền Trung, trên địa bàn tỉnh Bình Định, có xã Tây Giang thuộc huyện Tây Sơn tập trung nhiều cư dân nghiện ma túy, hơn hai phần ba số dân nghiện này lại chuyên đi đào đãi vàng, và đã có không ít gia đình tan nát vì vàng. Báo Thanh Niên ghi nhận những thảm kịch bi thương tại xã này qua đoạn ký sự như sau.
Theo báo quốc nội, tại VN, có lẽ ít có thành phố nào mà lại rối rắm nhiều loại dây điện giăng như mạng nhện như ở các khu phố của Hà Nội. Chỉ cần dừng lại ở bất kỳ một con phố nào đó cũng có thể thấy những cột điện chằng chịt những dây là dây. Nào là dây điện cao thế, hạ thế, đường cáp điện thoại, cáp truyền hình, đường truyền internet.
Tại các khu công nghiệp trên địa bàn các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và TPSG, giới công nhân thuê phòng trọ có cuộc sống không lấy gì làm ổn định. Họ phải đối mặt với chuyện mưu sinh như: tiền phòng, tiền điện, tiền chợ... và cả an ninh cho chính mình. Khó khăn là vậy nhưng nhiều thanh niên vẫn phải sống và số lượng lao động rời bỏ quê nhà để đến các khu công nghiệp kiếm việc ngày càng tăng.
Theo báo quốc nội, có lẽ trên thế giới, không ở nước nào cái vỉa hè lại được sử dụng triệt để vào mục đích kiếm tiền như VN. Tại các thành phố, đối với nhiều người, cái vỉa hè thực sự đã trở thành "vỉa tiền".Song chủ nhân thực sự của vỉa hè thì lại rất ít, đó chính là chủ nhân của những căn nhà mặt tiền. Với những người có nhà mặt tiền
Theo ghi nhận của báo quốc nội, tại VN, bác sĩ nào cũng có thể làm giải phẫu thẩm mỹ, từ bác sĩ ngoại khoa, tai mũi họng, mắt, nhi khoa đến... nội khoa, chỉ cần một chút khéo tay và vài lần nhìn "đàn anh" thực hành là có thể ra nghề. Vì thế mới có chuyện một bác sĩ ngoại khoa tim mạch nổi tiếng từng đặt túi ngực cho một nữ thư ký xinh đẹp
Tại miền Tây, có 1 loại rượu đế nổi tiếng từ hàng trăm nay. Loại rượu đế này được sản xuất tại khu vực Gò Đen, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Thường rượu từ đây được chở đi bỏ mối bằng can, thùng lớn, bán khắp các tỉnh miền Nam VN. Các tiệm bán lẻ lại chiết ra bình nhỏ rồi chế biến. Nhiều người tiếp tục pha chế lại để kiếm lời.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, chương trình dạy tạo ngoại ngữ ở các trường đại học VN vẫn còn nhiều điều bất cập, và sự yếu kém về ngoại ngữ đang trở thành rào cản đối với sinh viên khi bước vào môi trường lao động cạnh tranh. Báo Người Lao Động ghi nhận về thực trạng học ngoại ngữ tại các trường đại học VN như sau.
Theo báo quốc nội, tại Việt Nam, tình trạng ca sĩ trẻ nhép theo đĩa nhạc ngày càng nhiều và càng tinh vi hơn với nhiều kiểu đối phó, đại loại như: không tắt micro, hát chồng lên ở đoạn cao trào để khán giả biết mình có hát, còn phần khác cứ nhép môi theo lời hát từ đĩa thu sẵn. Đặc biệt, không rõ báo nhà nước có thù ghét gì ca sĩ hải ngoại hay không
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.