Hôm nay,  

Nhà Thơ Tản Đà

21/05/201700:00:00(Xem: 6308)
Một nhà thơ lớn của dân tộc -- cụ Tản Đà -- cũng sinh ngày 19 tháng 5. Đa tài, viết trong nhiều lĩnh vực, và đã trở thành một ngọn núi văn học đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam.

Theo Tự Điển Bách Khoa Mở, nhà thơ Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 - mất ngày 7 tháng 6 năm 1939 -- tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại".

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.

Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao - Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này.

Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ Phó bảng và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, sau làm ở cục Tu thư, rồi Hiệu trưởng trường Tân Quy, Đốc học Vĩnh Yên. Tản Đà từ nhỏ sống với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô - Ninh Bình, Vụ Bản - Nam Định, Quảng Oai - Sơn Tây, Vĩnh Tường - Vĩnh Yên.

Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

Tản Đà hấp thụ nền Nho giáo từ nhỏ, được ông Tích nhiệt tình hướng vào con đường cử nghiệp. Theo hồi ký trong 1 bài thơ thì 5 tuổi ông học Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết,... 6 tuổi học Luận ngữ, kinh, truyện và chữ quốc ngữ, 10 tuổi biết làm câu đối, 11 tuổi làm thơ văn. Ông rất thích làm văn, lại được anh hết lòng chỉ dẫn, nên 14 tuổi đã thạo các lối từ, chương, thi, phú. Lúc còn học ở trường Quy thức - một trường học thực nghiệm cải cách của Pháp mở ở Hà Nội-, ông viết bài "Âu Á nhị châu hiện thế" bằng chữ Hán, được các báo ở Hồng Kông đăng trong mục xã thuyết. Năm 15 tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây.

Giai đoạn niên thiếu của Tản Đà phần lớn dành cho chuyện thi cử, đến năm 19 tuổi, ông mới có những rung cảm tình ái đầu đời. Đó là mối tình với con gái nhà tư sản Đỗ Thận. Năm sau ông lại yêu con gái ông tri huyện phủ Vĩnh Tường. Nhưng 2 mối tình này đều không được trả lời.

Năm 1909 (Kỷ Dậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định, rồi trượt trong lần đi thi đầu tiên này. Ông về lại nhà ở Phủ Vĩnh Tường ôn tập. Trong thời gian này, ông say mê một cô gái bán tạp hoá ở phố hàng Bồ. Vì nhà nghèo, không có tiền hỏi cưới, ông đành nuôi hy vọng bằng cách tiếp tục đường khoa cử. Kỳ thi xảy đến, ông dùng bằng Ấm sinh để thi hậu bổ, nhưng bị rớt vì môn vấn đáp bằng tiếng Pháp. Mùa thu năm ấy, ông lại đi thi hương, nhưng lại trượt. Chuyện tình với cô bán sách tan vỡ, cô đi lấy chồng. Ông chán nản bỏ về Hòa Bình tìm khuây lãng. Tại đây nhờ sự giới thiệu của anh rể là nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế, Tản Đà kết giao với nhà tư sản Bạch Thái Bưởi. Hai người bạn mới gặp đã như quen, cùng vào dãy Hương Sơn, ngọn Chùa Tiên, đêm ngày uống rượu, làm thơ, đọc sách, thưởng trăng, sống theo lối "tịch cốc". Lúc này lần đầu tiên ông đọc Tân thư, sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tìm hiểu về cách mạng Tân Hợi. Nhiều bài thơ và tư tưởng đặc biệt của ông ra đời trong giai đoạn này.

Năm 1913, anh cả Nguyễn Tài Tích mất. Tản Đà về Vĩnh Yên làm nghề báo, tờ báo ông cộng tác đầu tiên là "Đông Dương tạp chí" của Nguyễn Văn Vĩnh, phụ trách mục "Một lối văn nôm".

Đến năm 1915, ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con trai ông là Nguyễn Mạnh Hương tri huyện ở tỉnh Hà Đông, trở thành anh em cột chèo với nhà văn Phan Khôi. Ông Hương là thân sinh của nhà văn Nguyễn Tiến Lãng. Cũng năm này ông có tác phẩm hay, đăng trên "Đông dương tạp chí", nhanh chóng có được tiếng vang trên văn đàn. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông Đà, và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp.

Và từ đó, ông trở thành một văn tài lớn, thơ hay và văn hay. Có rất nhiều giai thoại đan xen trong đời Tản Đà, trong đó có 4 mối tình để lại các dấu ấn sâu sắc trong thơ.

Nơi đây, chúng ta ghi vài lời nhận xét.

Nhà văn Nguyễn Tuân:

“Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”

Nhà thơ Bùi Giáng viết:

“Nếu tiên sinh còn sống, ắt tại hạ xin được phép cùng tiên sinh nhậu nhẹt một trận lu bù. Thơ của tiên sinh làm, chẳng có chi xuất sắc. Nhưng bản dịch "Trường hận ca" của tiên sinh quả thật là vô tiền khoáng hậu.”

Xuân Diệu viết:

“Chính cái sầu trong thơ Tản Đà là đầu mối quỷ thuật chính yếu để dụ người ta.”

Ngô Tất Tố viết:

“Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử sau này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà là một người đứng đầu của thời đại này.”

Theo SGGP, các kiểu bảng hiệu của người Sài Gòn bây giờ là dùng hình tượng. Trước là dùng hình thay chữ, hoặc bảng hiệu hộp đèn chữ nổi hay sử dụng đèn huỳnh quang kéo sợi, thịnh hành trong khoảng 20 năm. Từ các thập niên đầu thế kỷ 20, bảng hiệu có kèm theo minh họa tượng trưng như kiểu hiệu kem Hynos của doanh nhân Huỳnh Đạo Nghĩa vẽ anh Bảy Chà Và da đen cười khoe răng trắng;
Theo ghi nhận của báo Lao Động, trong tuần qua, thành phố Đà Lạt, tỉnh lỵ tỉnh Lâm Đồng và các huyện của tỉnh này đang bị đại hán. Mực nước các sông suối trong tỉnh này hạ thấp hơn so với trung bình nhiều năm, các suối nhỏ có nguy cơ cạn kiệt. Báo LĐ ghi nhận thực trạng hạn hán tại Đà Lạt như sau. Đà Lạt nằm ở độ cao 1,500m so với mực nước biển.
Còn một tháng mới đến Tết nguyên đán, thế nhưng, tại các Trung tâm giới thiệu việc làm ở TPSG luôn đông nghẹt sinh viên đến tìm việc làm thêm trong ngày lễ này. Với mức lương cao gấp 2-3 lần ngày thường, các sinh viên hy vọng sẽ dành dụm được một ít tiền để đóng học phí cho học kỳ sau. Tin Nhanh VN ghi nhận tình cảnh của những sinh viên nghèo chạy tìm việc làm trong dịp Tết như sau.
Theo báo Tuổi Trẻ, trong tuần qua, tại tỉnh Phú Yên, chỉ trong chuyến ra khơi câu cá ngừ đại dương đầu tiên của vụ đánh bắt mới, làng biển phường 6 (thị xã Tuy Hòa) đã có đến bảy chiếc tàu gặp nạn. Tin tức từ ngoài biển liên tục gọi về xin ứng cứu. Qua máy truyền tin những tiếng kêu thét, hoảng loạn trên các con tàu đang lâm nạn từ ngoài khơi xa dội về càng khiến cái làng biển này hoang mang, căng thẳng.
Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, tại TPSG, tất cả các đường phố đều ngập tràn bảng hiệu quảng cáo, trung bình trước mặt tiền một cửa hàng bao giờ cũng có khoảng 2-3 bảng hiệu quảng cáo, thậm chí có dăm cửa hàng treo một lúc 6-7 bảng. Một bảng hiệu lớn giăng ngang trước mặt tiền nhà, chiều ngang bao giờ cũng kín từng tấc diện tích hiện hữu.
Như VB đã loan tin, Tòa án trọng tài thể thao quốc tế đã buộc Liên đoàn bóng đá VN phải bồi thường huấn luyện viên Letard người Pháp một số tiền lên đến 197 ngàn Mỹ kim. Ông Letard nguyên là huấn luyện viên đội tuyển túc cầu U.23 của VN ( gồm các tuyển thủ dưới 23 tuổi) , đã bị VN sa thải trước thời hạn kết thúc hợp đồng với lý do là khả năng huấn luyện yếu kém.
Theo ghi nhận của báo Thanh Niên, tại bến xe Miền Đông của Thành phố Sài Gòn, mỗi ngày gần cả ngàn lượt xe rời bến đều phải "gồng mình" cống nộp cho các nhân viên quản lý và điều hành bến xe. Chỉ riêng hai bộ phận phòng vé và điều độ với khoảng vài chục nhân viên, mỗi xe chỉ cần "đóng hụi chết" vài chục ngàn đồng/chuyến
Trên địa bàn thành phố SG, chỉ riêng quận 10 hiện có đến 52 lô chung cư, trong đó có 37 lô đã quá hạn sử dụng từ 10-15 năm với trên 4.000 gia đình cư ngụ. Thế nhưng, việc di dời hàng chục ngàn con người ra khỏi chung cư lại quá chậm. Người dân sống trong những chung cư cũ đang thấp thỏm trong nỗi lo nhà sập. SGGP ghi nhận thực trạng này như sau.
Tại VN, nghề múa Lân Sư Rồng, thường tập luyện cả năm nhưng chỉ biểu diễn vài ba ngày lễ tết, hay những dịp các cơ quan, đơn vị khai trương... Khi đã theo nghề này, nhiều người gọi đó là cái nghiệp. Từ niềm đam mê khi nghe tiếng trống rộn rã của những đoàn lân, nhiều người đã dấn thân theo nghề "ghiền không bỏ được". SGGP viết như sau.
Từ lâu, tại VN, trong suy nghĩ của nhiều người, nghề cửu vạn (bốc vác, tải hàng) tại các bến xe, thương cảng, nhà kho, chỉ dành cho nam giới, nhưng nay ngày càng nhiều phụ nữ tham gia vào nghề này. Và trên đường mưu sinh, phụ nữ làm nghề này cũng còn nhiều điều thảm thương. Báo Bình Định viết về những phụ nữ kiếm sống bằng nghề bốc vác hàng tại thành phố Qui Nhơn như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.