Hôm nay,  

Nhà Thơ Tản Đà

21/05/201700:00:00(Xem: 6305)
Một nhà thơ lớn của dân tộc -- cụ Tản Đà -- cũng sinh ngày 19 tháng 5. Đa tài, viết trong nhiều lĩnh vực, và đã trở thành một ngọn núi văn học đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam.

Theo Tự Điển Bách Khoa Mở, nhà thơ Tản Đà sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 - mất ngày 7 tháng 6 năm 1939 -- tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.

Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại".

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có nhiều đời làm quan dưới triều Lê. Sau Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.

Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao - Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Bà là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này.

Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ Phó bảng và ra làm quan. Ông là người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn, sau làm ở cục Tu thư, rồi Hiệu trưởng trường Tân Quy, Đốc học Vĩnh Yên. Tản Đà từ nhỏ sống với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô - Ninh Bình, Vụ Bản - Nam Định, Quảng Oai - Sơn Tây, Vĩnh Tường - Vĩnh Yên.

Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.

Tản Đà hấp thụ nền Nho giáo từ nhỏ, được ông Tích nhiệt tình hướng vào con đường cử nghiệp. Theo hồi ký trong 1 bài thơ thì 5 tuổi ông học Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi, Dương tiết,... 6 tuổi học Luận ngữ, kinh, truyện và chữ quốc ngữ, 10 tuổi biết làm câu đối, 11 tuổi làm thơ văn. Ông rất thích làm văn, lại được anh hết lòng chỉ dẫn, nên 14 tuổi đã thạo các lối từ, chương, thi, phú. Lúc còn học ở trường Quy thức - một trường học thực nghiệm cải cách của Pháp mở ở Hà Nội-, ông viết bài "Âu Á nhị châu hiện thế" bằng chữ Hán, được các báo ở Hồng Kông đăng trong mục xã thuyết. Năm 15 tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây.

Giai đoạn niên thiếu của Tản Đà phần lớn dành cho chuyện thi cử, đến năm 19 tuổi, ông mới có những rung cảm tình ái đầu đời. Đó là mối tình với con gái nhà tư sản Đỗ Thận. Năm sau ông lại yêu con gái ông tri huyện phủ Vĩnh Tường. Nhưng 2 mối tình này đều không được trả lời.

Năm 1909 (Kỷ Dậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định, rồi trượt trong lần đi thi đầu tiên này. Ông về lại nhà ở Phủ Vĩnh Tường ôn tập. Trong thời gian này, ông say mê một cô gái bán tạp hoá ở phố hàng Bồ. Vì nhà nghèo, không có tiền hỏi cưới, ông đành nuôi hy vọng bằng cách tiếp tục đường khoa cử. Kỳ thi xảy đến, ông dùng bằng Ấm sinh để thi hậu bổ, nhưng bị rớt vì môn vấn đáp bằng tiếng Pháp. Mùa thu năm ấy, ông lại đi thi hương, nhưng lại trượt. Chuyện tình với cô bán sách tan vỡ, cô đi lấy chồng. Ông chán nản bỏ về Hòa Bình tìm khuây lãng. Tại đây nhờ sự giới thiệu của anh rể là nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế, Tản Đà kết giao với nhà tư sản Bạch Thái Bưởi. Hai người bạn mới gặp đã như quen, cùng vào dãy Hương Sơn, ngọn Chùa Tiên, đêm ngày uống rượu, làm thơ, đọc sách, thưởng trăng, sống theo lối "tịch cốc". Lúc này lần đầu tiên ông đọc Tân thư, sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tìm hiểu về cách mạng Tân Hợi. Nhiều bài thơ và tư tưởng đặc biệt của ông ra đời trong giai đoạn này.

Năm 1913, anh cả Nguyễn Tài Tích mất. Tản Đà về Vĩnh Yên làm nghề báo, tờ báo ông cộng tác đầu tiên là "Đông Dương tạp chí" của Nguyễn Văn Vĩnh, phụ trách mục "Một lối văn nôm".

Đến năm 1915, ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con trai ông là Nguyễn Mạnh Hương tri huyện ở tỉnh Hà Đông, trở thành anh em cột chèo với nhà văn Phan Khôi. Ông Hương là thân sinh của nhà văn Nguyễn Tiến Lãng. Cũng năm này ông có tác phẩm hay, đăng trên "Đông dương tạp chí", nhanh chóng có được tiếng vang trên văn đàn. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông Đà, và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp.

Và từ đó, ông trở thành một văn tài lớn, thơ hay và văn hay. Có rất nhiều giai thoại đan xen trong đời Tản Đà, trong đó có 4 mối tình để lại các dấu ấn sâu sắc trong thơ.

Nơi đây, chúng ta ghi vài lời nhận xét.

Nhà văn Nguyễn Tuân:

“Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ suý, trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi hội chủ mà làng văn làng báo xứ này, ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”

Nhà thơ Bùi Giáng viết:

“Nếu tiên sinh còn sống, ắt tại hạ xin được phép cùng tiên sinh nhậu nhẹt một trận lu bù. Thơ của tiên sinh làm, chẳng có chi xuất sắc. Nhưng bản dịch "Trường hận ca" của tiên sinh quả thật là vô tiền khoáng hậu.”

Xuân Diệu viết:

“Chính cái sầu trong thơ Tản Đà là đầu mối quỷ thuật chính yếu để dụ người ta.”

Ngô Tất Tố viết:

“Trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử sau này, dầu sao mặc lòng, ông Tản Đà là một người đứng đầu của thời đại này.”

Tại 1 trường trung học phổ thông (lớp 10-12) ở thành phố SG, mỗi khi tiếng trống tan học vang lên, cũng là lúc hàng loạt các chuông điện thoại di động (ĐTDĐ) của nhóm học sinh nhà giàu í ới gọi nhau với đủ các loại âm thanh. Phần lớn đó là các tin nhắn, các cuộc gọi hò hẹn. Báo Ngôi Sao gọi đây là trò chơi dế và ghi nhận như sau.
Chuyện trong lá thư này là chuyện những người dân ở vùng Bảy Núi, tỉnh An Giang, kiếm sống bằnng nghề leo hái cây thốt nốt ở độ cao 10 đến 15 mét. Đây là nghề hết sức nguy hiểm. Người làm nghề leo thốt nốt không có bất kỳ dụng cụ bảo hộ nào, vậy nê n nguy cơ "sinh nghề tử nghiệp" rất cao... Báo Pháp Luật TPSG viết như sau.
Theo báo quốc nội, tại vùng biên giới VN-Trung Quốc, khu chợ Đông Hưng thuộc địa phận TQ có một "trung tâm thương mại" chuyên phục vụ cho dân chơi, nhân viên là các cô gái Việt Nam với những trang phục rất mát mẻ. Trong tòa nhà trước đây là một trung tâm thương mại, các "giai nhân" đứng, ngồi lố nhố trước cửa từng ki-ốt. Cô nào ăn mặc cũng hết sức "mát mẻ"
Hơn 2 tháng qua, khu vực Bắc phần hầu như không có mưa. Mưa ít nên lượng nước các dòng sông suối hiện chỉ còn bằng 45% so với trung bình nhiều năm. Hơn 1 triệu ha ruộng ở đồng bằng Bắc phần đang cạn khô nằm phơi mình chờ mưa. SGGP ghi nhận về thực trạng hán hạn tạo miền Bắc VN như sau. Dọc quốc lộ 1 ven theo 3 tỉnh, thành phố đồng bằng sông Hồng là Hà Nội, Hà Tây
"Hung thần trên biển" là biệt danh mà ngư dân Phan Thiết, Hàm Tân và Tuy Phong đặt cho thuyền làm nghề giã cào của các tỉnh khác đến Bình Thuận khai thác. Với công suất từ 400-500CV, các "hung thần" này không chỉ khai thác hải sản không đúng địa phận mà còn làm thiệt hại tài sản cho các tàu thuyền nhỏ của ngư dân địa phương, ảnh hưởng đến sản lượng đánh bắt hải sản.
Tại miền Bắc VN, mỗi năm sông Hồng có một mùa nước cạn. Nhưng năm nay, nhiều đoạn trên sông Hồng cạn đến trơ đáy, dân địa phương có thể lội qua được. Hiện trạng này đã gây khốn khổ cho những gia đình nghèo các xóm chài ven sông Hồng, kiếm sống bằng công việc đánh bắt cá trên sông. Những ngày hạ tuần tháng 12 này, nhiều dân chài chỉ còn biết ngồi chờ con nước lên.
Trên địa bàn TPSG, dòng kênh Nhiêu Lộc được mở chạy dài qua nhiều quận nội thành, và cũng từ khi "con kênh đen đen" này hình thành thì hàng loạt quán nhậu cũng theo đó mà xuất hiện, chủ yếu là về đêm. Từ khu vực cầu Thị Nghè (dọc đường Hoàng Sa, quận 1) chạy dọc theo bờ kè đến khu vực chung cư Miếu Nổi có quá nhiều quán nhậu đêm. Báo Ngôi Sao viết như sau.
Tại VN, các phòng trà bây giờ như nấm mọc sau mưa. Đó là mảnh đất để các ca sĩ mới vào nghề có cơ hội thể hiện giọng hát của mình. Tuy nhiên không ít phòng trà đã trở thành điểm hẹn của các cuộc tình chớp nhoáng giữa ca sĩ và những kẻ lắm tiền.Những sự việc xảy ra liên tiếp gần đây liên quan đến các ca sĩ có danh cũng như vô danh khiến nhiều người thất vọng.
Hàng năm cứ đến mùa Noel, nhiều sinh viên nghèo đã kiếm tiền bằng những công việc làm thêm như làm ông già Noel, gửi qua, trang trí... Vốn lận lưng chỉ khoảng vài trăm nghìn đồng, vừa mua quà vừa chi trả khoản mướn quần áo ông già Noel và chi phí đi lại. Ai kêu gì thì đặt ở cửa hàng rồi đi giao theo yêu cầu ngày giờ, địa điểm của khách hàng, món quà giá trị bao nhiêu.
Theo báo quốc nội, tại VN, chuyện nhiều thiếu niên tụ tập thành băng nhóm đua đòi ăn chơi, quậy phá đã không còn là hiện tượng riêng biệt. Sự hư hỏng và tính chất côn đồ còn tăng lên ở mức độ báo động khi thiếu tiền xài, mua sắm. Các nhóm thiếu niên này sẵn sàng lao vào con đường trộm cắp, cướp của, thanh toán theo kiểu xã hội đen chỉ để chứng tỏ mình là "người lớn", là dân "anh chị.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.