Hôm nay,  

Làng Giữa Vùng Núi Đá

28/12/200100:00:00(Xem: 6475)
Bạn,
Ngôi làng được nhắc dến trong lá thư này là một làng nghèo nhất của huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên. Làng ở giữa vùng núi đá, chỉ có một con đường độc đạo, không có trường học, không có công trình thủy lợi, mỗi năm dân trong làng chỉ đủ ăn 8 tháng, 4 tháng còn lại là những ngày đói khổ. Vừa qua, phóng viên NLĐ đến thăm làng và ghi lại tình cảnh của dân làng qua đoạn ghi chép như sau.

Đá Kẹp là tên xưa của làng. Ngôi làng nằm khuất giữa núi Đá Kẹp và sông Đá Kẹp. Bây giờ làng có tên mới là Phú Hải nhưng người dân vẫn gọi tên cũ của làng. Đá Kẹp thuộc xã Lộc Vĩnh, Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Từ bao đời qua, Đá Kẹp vẫn đói nghèo. Ở Đá Kẹp, ai cũng túng thiếu, mặt mày da dẻ cứ nhăn nhúm lại. Trước đây, mấy năm, phụ nữ ở làng Đá Kẹp muốn đi chợ phải dậy từ lúc ba, bốn giờ sáng gánh rau lội sông Đá Kẹp nước sâu đến ngang cổ rồi mới qua được phía bên kia để bán. Lúc nào mưa lớn, lũ về, cả làng không đi đâu được. May nhờ có chương trình của Liên Hiệp Quốc đầu tư làm chiếc cầu qua sông nên từ năm 1994, giao thông đi lại của người dân mới khỏi bị động.

Ở Đá Kẹp cái gì cũng không có. Gần 300 làng đã sống cách biệt như vậy nhưng không có trạm y tế. Không có trường cho học sinh tiểu học. Muốn đến trường các đứa bé từ lớp 1 phải đi bộ đến năm, sáu km. Lớp mẫu giáo không có phòng để học, phải mượn tạm nhà dân. Trời mưa, nước dội xuống nhiều, cô trò nhìn nhau mà chảy nước mắt. Thương cho con trẻ, bà con trong làng góp tiền xây trường nhưng mới xây được bốn bức tường thì phải dừng lại, vì hết tiền. Tối đến, cả làng dùng đèn dầu thắp sáng vì chưa có điện. Phó thôn Hồ Trọng Vinh cho biết, từ sau năm 1975 đến nay, Đá Kẹp chưa bao giờ được tỉnh đầu tư xây dựng công trình thủy lợi. Mùa màng thất bát liên tục. Cả làng có gần 50 ha đất nông nghiệp vừa làm lúa vừa trồng màu. Ruộng xấu nên năng suất lúa rất thấp. Mỗi năm, người dân làng Đá Kẹp chỉ đủ sống trong tám tháng là mừng lắm rồi.

Sống nhờ vào cây lúa không đủ, đa số người dân Đá Kẹp phải nhờ rừng dẻ của làng. Anh Trần Đình Tuấn, một nông dân của làng, mời phóng viên báo NLĐ vào nhà uống nước, chỉ tay vào đống củi nói: "Mỗi ngày hái củi vất vả cũng chỉ bán được 10 ngàn đồng, thế nhưng cả nhà đã mừng lắm". Ngoài đi củi, người dân ở đây không biết làm gì để sống.

Bạn,
Cũng theo ghi nhận của phóng viên NLĐ, trong khi sản lượng lúa gạo thu hoạch từ mỗi vụ mùa rất ít, đất đai canh tác cũng quá ít, Thế nhưng người dân Đá Kẹp sinh đẻ quá nhiều. Nhà nào cũng có bảy, tám đứa con. Nhà phó thôn Vinh cũng có bảy đứa con. Đứa lớn nhất mới học xong lớp 6 phải nghỉ học, ở nhà. Trong làng trẻ em nhiều hơn người lớn. Mới đây, ủy ban xã Lộc Vĩnh hứa lập dự án kéo điện về cho Đá Kẹp với tổng mức đầu tư 500 triệu đồng, trong đó dân làng phải góp vào 90 triệu đồng. Tin vui thật, nhưng cả làng Đá Kẹp không biết kiếm đâu ra một khoản tiền lớn như vậy để góp chung với xã. Hai mùa liên tiếp đi qua dân làng đã thất bát rồi. Rừng dẻ nghe đâu đã được ngành du lịch quy hoạch đưa vào khu du lịch sinh thái. Vậy là củi dẻ cũng hết luôn, và người dân Đá Kẹp phải đối mặt với đói nghèo quanh năm.

Văn bằng đại học trên nguyên tắc sẽ mở ra nhiều cánh cửa thành công, vì nó không chỉ làm cho người giữ văn bằng niềm tự hào vì đứng biệt lập với đám đông đa số, nhưng cũng chứng tỏ một tri thức cần thiết cho một số việc chuyên môn.
Đó là một chữ lạ, “truyện ngôn tình.” Thực ra, thể văn chương này không lạ. Nhưng lạ chỉ là, khi thể truyện này tạo thành một niềm say mê cho tuổi trẻ Việt Nam một cách bất thường. Chúng ta có thể thắc mắc: tại sao tuổi trẻ quay đầu với xã hội, và để rồi vùi đầu vào trang sách truyện ngôn tình?
Có những chuyện không thể cứ để xảy ra hoài. Bởi vì, người xưa nói, như chim thoát chết sau khi bị tên bắn, từ đó về sau hễ gặp cành cong là nghĩ tới cung. Người tất nhiên cũng có những nỗi quan tâm tương tự.
Công ty nào cũng thế, luôn luôn đòi hỏi người lao động phải có khả năng hoàn tất công việc được giao phó. Nghĩa là, đúng nghề, đúng việc.
Cuộc đời luôn luôn đổi dời. Không có gì bất biến, trường cửu. Tuổi thanh xuân của chúng ta rồi già, rồi suy yếu. Những ngôi làng tại Việt Nam cũng thế, những nét truyền thống mờ nhạt dần. Tất nhiên là, đổi mới phaỉ có tốt và cả xấu, ai cũng biết.
Một thời chúng ta nhìn các thầy giáo, cô giáo như những vị thần linh... nhưng bây giờ thì không như thế nữa.
Một thời, chúng ta từng ngồi đọc sách ở các thư viện Sài Gòn. Nơi đó, thời đó, chữ nghĩa còn là cái gì rất mực thiêng liêng.
Hãy hình dung rằng, khi các em bé tiểu học đọc sử, nhìn hình Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân... cỡi voi, chỉ huy quân binh ra chiến trường... và rồi sẽ hỏi, xem con thú gì khổng lồ lạ kỳ, đang sử dụng thay cho ngựa chiến...
Có những điều như dường bất khả vẫn xảy ra trong đời naỳ. Không, chúng ta không bàn chuyện phép lạ, hay bất kỳ những gì siêu nhiên nơi đây. Chỉ bàn về cõi người của mình thôi.
Chúng ta đang sống trong một thời lắm bệnh, và do vậy để chữa lắm bệnh tất phải có thuốc đa dụng, đa năng... Làm sao tìm ra phương thuốc đa dụng,đa năng?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.