Hôm nay,  

Chiếc Nón Của Tình Yêu

17/08/200200:00:00(Xem: 5785)
Bạn,
Quảng Ngãi có một làng nghề làm nón nổi tiếng từ trước 1945. Đó là làng nón Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh. Nón của làng này nổi tiếng đẹp, bền, và đã có một thời gian dài, thương khách khắp nơi đến đây mua về bán. Không chỉ nổi tiếng về thương hiệu, hình ảnh nón Tịnh Bình đã đi vào dân gian qua những câu hò như “ai về nhắn với Tịnh Bình, chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Báo SGGP ghi như sau.
Cụ bà Nguyễn Thị Lương, người làng nón Tịnh Bình, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) biết chằm nón từ tuổi trăng tròn nay đã bước sang tuổi tám mươi mốt, giọng tiếc nuối: thời Pháp thuộc, ruộng đất địa chủ lấy hết, dân trong làng sống được cũng nhờ nghề làm nón. Nón Tịnh Bình nổi tiếng đẹp, bền trong Nam, ngoài Bắc đều đến đây mua về bán, vậy mà những năm gần đây nghề này dường như muốn mất đi, chẳng còn ai mặn mà với nó. Cụ Lương kể rằng, nghề làm nón không biết có ở đây từ bao giờ, chỉ biết rằng khi cụ bắt đầu ý thức được thì đã thấy nghề nón ở cái làng này rồi, lớn lên được gia đình truyền nghề và cứ thế mà làm. Cũng có cái hay là già trẻ, lớn bé đều có thể tham gia được tất. Đàn ông thì đốn tre vót tuyến (vành), đàn bà, con nít thì chằm lá, phơi lá. Những năm “ăn nên làm ra” mỗi buổi sáng tại chợ Đình, một chợ trung tâm của xã, tấp nập kẻ mua người bán.
Chị Đào, một người có hơn ba mươi năm buôn bán nón tại chợ cho biết, cứ mỗi phiên chợ là hàng trăm người chen nhau mua bán, cả chợ chỉ thấy toàn nón và nón. Bạn hàng các nơi ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu... về đây thu gom. Mỗi buổi chợ cả ngàn chiếc nón được bán ra. Nguyên liệu chính để làm nên chiếc nón là lá nón. Tịnh Bình không có loại lá này nên phải đi mua khắp nơi ở các huyện miền núi trong tỉnh như Trà Bồng, Sơn Hà và cả ngoài tỉnh như Quảng Nam, nơi không có nguyên liệu chính để làm nón nhưng lại là nơi nổi tiếng làm nón đẹp và bền. Còn cũng lá đó nhưng làm ở nơi khác thì chất lượng giảm hẳn.

Về thu nhập từ nghề này, sau khi trừ chi phí tiền vật tư, nguyên liệu như lá, tre, cước,... tiền công chưa đến ba ngàn đồng mỗi ngày, ít thế nên chẳng còn ai mặn mà với nghề, nhưng một số bà con không bỏ được. Một viên chức xã Tịnh Bình cho biết, toàn xã hiện nay có 2,400 hộ dân nhưng chỉ còn khoảng 100 hộ còn gắn bó với nghề nhưng cũng chỉ làm cầm chừng, số còn lại bỏ hết, do đó nón làm ra giờ rất ít.
Bạn,
Báo SGGP viết tiếp: Cụ Lương kể, ngày trước nhìn người con gái đi ngoài đường dù lạ hay quen là biết người ấy đã có chồng hay chưa. Vì nếu cô gái ấy có chồng rồi thường đội chiếc nón quai, còn chưa có chồng thì không. Người con gái ngày lên xe hoa về nhà trồng thường được mẹ hay chị trong nhà mua tặng chiếc nón lá, như một kỷ vật thân thiết của gia đình. Đàn bà, con gái ra đường đội nón được xem là người thùy mị, nết na, còn bây giờ con gái lên xe hoa về nhà chồng chẳng cần nón mũ gì ráo chỉ cần có cái dù cầm tay là được, ra đường chẳng biết cô ấy đã có chồng hay chưa, còn đàn bà con gái ra đường cũng rất ít đội nón lá chỉ toàn xài mũ vải. Nón lá chỉ còn dùng cho những bác nông dân ra đồng. Cụ Lương nói ngày trước trai chưa vợ, gái chưa chồng gặp nhau thường hò “Ai về nhắn với Tịnh Bình. Chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Nhưng câu hò ấy bây giờ hầu như không còn ý nghĩa gì nữa, nghề làm nón Tịnh Bình cũng đang bị mất dần theo thời gian.

Chuyện chi phí khổng lồ này là của các lớp mầm non. Có những em học lớp mầm non tại VN với học phí trung bình gần 1.000 đôla mỗi tháng. Nghĩa là học phí một em bé cao gấp hàng chục lần lương của một công nhân trung bình làm việc mệt nhọc suốt cả tháng.
Đó là những chuyện lạ nhất trần gian này, nhưng lại đang xảy ra tại Việt Nam.
Nói tới Sài Gòn, tất phải nói tới Bùi Giáng, một nhà thơ bước đi xiêu vẹo giữa đời, và đã ném thơ lên giữa trời để rồi biến thành mưa hoa bay khắp phố phường.
Có một đặc điểm hẳn là bạn còn nhớ: dân Sài Gòn mình ngồi đâu cũng nhậu được, từ trong nhà ra tới hàng quán cũng thoải maí, từ tiệm sang hèn đủ cấp cho tới hè phố hay bờ bụi công viên...
Có vẻ như bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan thời đầu thế kỷ 19, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802 và dời thủ đô về Huế, là cũng muốn nói về Chùa Một Cột, nơi bây giờ chưa thành phế tích nhưng đã gây bất bình cho những người quan tâm về sự chăm sóc di tích lịch sử này.
Lúc nào cũng luôn luôn có chuyện chữa bệnh kiểu kỳ lạ. Hết kiểu thầy bùa đánh đá bệnh nhân để chữa bệnh, rồi bây giờ tới kiểu thầy vuốt chữa bệnh.
Trong khi nhà nước Hà Nội luôn luôn nói rằng chế độ điều hành theo phương pháp “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách...” thì có một nhân vật mới thăng lên chức Bộ Trưởng, liền được ca ngợi là “ảnh quyết ngay, khỏi cần bàn...” Nghĩa là, không có chuyện tập thể lãnh đaọ nào hết.
Nền văn hóa đọc tại Việt Nam bây giờ èo uột quá, tuy là sách in quá nhiều nhưng lại với lượng ấn bản quá ít, khi so với dân số. Vấn đề đau đầu nữa là vì tuổi trẻ trong trường học không được khuyến khích đọc,
Dân tộc Việt có nhiều truyền thuyết tuyệt vời, rất mực nhân bản... Nhiều, nhiều lắm.
Sau nhiều xì căng đan về đạo văn bùng nổ, thậm chí tới bậc Tiến sĩ cũng bị liên hệ, một cơ quan thông tấn trong ngành đạị học Việt Nam bắt đầu tuyên chiến với hành vi đaọ văn, nghĩa là hành vi copy công trình nghiên cứu hay sáng tác của người khác và đề tên mình vàò. Trễ, nhưng cũng thật là cần thiết.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.