Hôm nay,  

Chiếc Nón Của Tình Yêu

17/08/200200:00:00(Xem: 5831)
Bạn,
Quảng Ngãi có một làng nghề làm nón nổi tiếng từ trước 1945. Đó là làng nón Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh. Nón của làng này nổi tiếng đẹp, bền, và đã có một thời gian dài, thương khách khắp nơi đến đây mua về bán. Không chỉ nổi tiếng về thương hiệu, hình ảnh nón Tịnh Bình đã đi vào dân gian qua những câu hò như “ai về nhắn với Tịnh Bình, chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Báo SGGP ghi như sau.
Cụ bà Nguyễn Thị Lương, người làng nón Tịnh Bình, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) biết chằm nón từ tuổi trăng tròn nay đã bước sang tuổi tám mươi mốt, giọng tiếc nuối: thời Pháp thuộc, ruộng đất địa chủ lấy hết, dân trong làng sống được cũng nhờ nghề làm nón. Nón Tịnh Bình nổi tiếng đẹp, bền trong Nam, ngoài Bắc đều đến đây mua về bán, vậy mà những năm gần đây nghề này dường như muốn mất đi, chẳng còn ai mặn mà với nó. Cụ Lương kể rằng, nghề làm nón không biết có ở đây từ bao giờ, chỉ biết rằng khi cụ bắt đầu ý thức được thì đã thấy nghề nón ở cái làng này rồi, lớn lên được gia đình truyền nghề và cứ thế mà làm. Cũng có cái hay là già trẻ, lớn bé đều có thể tham gia được tất. Đàn ông thì đốn tre vót tuyến (vành), đàn bà, con nít thì chằm lá, phơi lá. Những năm “ăn nên làm ra” mỗi buổi sáng tại chợ Đình, một chợ trung tâm của xã, tấp nập kẻ mua người bán.
Chị Đào, một người có hơn ba mươi năm buôn bán nón tại chợ cho biết, cứ mỗi phiên chợ là hàng trăm người chen nhau mua bán, cả chợ chỉ thấy toàn nón và nón. Bạn hàng các nơi ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu... về đây thu gom. Mỗi buổi chợ cả ngàn chiếc nón được bán ra. Nguyên liệu chính để làm nên chiếc nón là lá nón. Tịnh Bình không có loại lá này nên phải đi mua khắp nơi ở các huyện miền núi trong tỉnh như Trà Bồng, Sơn Hà và cả ngoài tỉnh như Quảng Nam, nơi không có nguyên liệu chính để làm nón nhưng lại là nơi nổi tiếng làm nón đẹp và bền. Còn cũng lá đó nhưng làm ở nơi khác thì chất lượng giảm hẳn.

Về thu nhập từ nghề này, sau khi trừ chi phí tiền vật tư, nguyên liệu như lá, tre, cước,... tiền công chưa đến ba ngàn đồng mỗi ngày, ít thế nên chẳng còn ai mặn mà với nghề, nhưng một số bà con không bỏ được. Một viên chức xã Tịnh Bình cho biết, toàn xã hiện nay có 2,400 hộ dân nhưng chỉ còn khoảng 100 hộ còn gắn bó với nghề nhưng cũng chỉ làm cầm chừng, số còn lại bỏ hết, do đó nón làm ra giờ rất ít.
Bạn,
Báo SGGP viết tiếp: Cụ Lương kể, ngày trước nhìn người con gái đi ngoài đường dù lạ hay quen là biết người ấy đã có chồng hay chưa. Vì nếu cô gái ấy có chồng rồi thường đội chiếc nón quai, còn chưa có chồng thì không. Người con gái ngày lên xe hoa về nhà trồng thường được mẹ hay chị trong nhà mua tặng chiếc nón lá, như một kỷ vật thân thiết của gia đình. Đàn bà, con gái ra đường đội nón được xem là người thùy mị, nết na, còn bây giờ con gái lên xe hoa về nhà chồng chẳng cần nón mũ gì ráo chỉ cần có cái dù cầm tay là được, ra đường chẳng biết cô ấy đã có chồng hay chưa, còn đàn bà con gái ra đường cũng rất ít đội nón lá chỉ toàn xài mũ vải. Nón lá chỉ còn dùng cho những bác nông dân ra đồng. Cụ Lương nói ngày trước trai chưa vợ, gái chưa chồng gặp nhau thường hò “Ai về nhắn với Tịnh Bình. Chằm chiếc nón lá tặng tình đôi ta”. Nhưng câu hò ấy bây giờ hầu như không còn ý nghĩa gì nữa, nghề làm nón Tịnh Bình cũng đang bị mất dần theo thời gian.

Tìm việc trong thời kinh tế suy thoáí cực kỳ gian nan, bất kể rằng đang có bằng cấp cử nhân, hay thạc sĩ...
Nghệ sĩ thời kinh tế suy thoái tất nhiên là thê thảm... Dĩ nhiên là cũng có những nghệ sĩ ăn nên làm ra, kiếm tiền dễ dàng, nhưng phần đông vẫn là gian nan khó sống.
Tiếng Việt là một ngôn ngữ chuyển biến qua từng thời kỳ, góp thêm những từ mới từng năm để làm phong phú thêm, và đẩy vào lãng quên nhiều từ cũ không còn được bao nhiêu người sử dụng. Nhưng đôi khi tình trạng mở cửa của ngôn ngữ đã bị lạm dụng, tới mức có thể gọi là mở toang cho cả rác rưởi phi-ngữ-học vào.
Thời buổi khoa học, chuyện gì cũng tìm cách đưa khoa học ra lý giải, hễ bệnh là đưa bác sĩ ra bàn luận... vậy mà nhiều người lại tin là cần thay đổi số mệnh tử vi để đời bớt khổ...
Có những chuyện tưởng như là đơn giản, nhưng lại cứ bị đưa vào danh sách tối mật. Thí dụ, danh sách các ca khúc còn bị chính phủ Hà Nội cấm hát... sau gần 4 thập niên vẫn chưa được nêu rõ. Cụ thể, có thể hỏi rằng, ca khúc nào của các nhạc sĩ Miền Nam đã được cho phép hát? Không có câu tar3 lời minh bạch.
Cái thời nữ sinh e ấp bây giờ không còn bao nhiêu nữa. Chuyện đau lòng là, tình hình nữ sinh mất đạo đức ngày một tăng.
Học sử, thế nào cũng nghiệm ra vài điều lý thú. Nhưng rất nhiều người tìm lại sử, có lẽ cũng chỉ vì không nói thẳng được những lời muốn nói cho chuyện thời nay.
Bạn thân, nhà nước đang than phiền rằng sách giả đang tràn lan tại Việt Nam. Và nhà nước vẫn đang lúng túng trước nạn sách giả lan tràn. Thế là, họ đòi “quản lý toàn diện.”
Tay không thì là hỏng, nhưng tay cầm phong bì lại là chìa khóa vạn năng, mở được vô số cửa dù là hóc hiểm tới đâu. Đó là chuyện của quê nhà.
Nhiều danh từ hiện nay đang bị tránh né tại Việt Nam, trong đó có chữ “đình công.” Có phải chữ này là cái gì ghê gớm hay không? Hay phải chăng, nhà nước VN bây giờ không còn đại diện cho giai cấp công nhân nữa? Đó là những câu hỏi liên tục gợi ra trong các bản tin về lao động.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.