Hôm nay,  

Món nợ... cái “Band-Aid”

06/04/202211:18:00(Xem: 4231)

Truyện ngắn

daihocHue

 

– Mau đi cô nàng, hôm nay có giờ của Thầy Hùng, nhớ không nhỏ? Mi mần chi mà cà rề từ nãy giờ?

 

– Dạ vâng, em đây ạ.

 

Tôi chạy ra hành lang cư xá, nơi cô bạn hiền đang đứng chờ, chắc hơn mười phút rồi. Ngày nào cũng vậy, không hiểu sao mình chậm ghê luôn. Mình đâu có trang điểm gì – nét đẹp hiện hữu trong sự đơn giản mà! Có lẽ vì cứ lấy áo này ra, nhìn trời, rồi lại chọn áo khác. Lúc xưa phải chạy theo cái đồng hồ để lãnh được bằng Tú Tài, nên đôi khi cái áo không thẳng nếp cũng cứ xỏ vô đại. Bi chừ thì mình phải "chải chuốt"một tí chứ!

 

Cư xá Jeanne d'Arc của các soeurs ở Huế không xa khu Đại học với nhiều phân khoa: Khoa Học, Văn Khoa, Sư Phạm, và ở lớp học bên Văn Khoa, trên lầu – ngày xưa là khách sạn Morin – có thể nhìn ra cầu Trường Tiền mộng mơ của đất Thần kinh, nên không ít cô cậu giành chiếm chỗ ngồi bên cạnh cửa sổ.

 

Trường Khoa Học. Hôm nay là giờ cuối của môn Hóa Vô Cơ là môn tôi không mê tí nào, vì nó quá phức tạp đi thôi! Nhưng thầy Hùng rất giỏi, mỗi năm thầy bay ra vô Huế-Saigon, thầy tốt nghiệp Đaị Học Dược Khoa bên Pháp với bằng Tiến Sĩ, nên các trường Đại Học Saigon và Huế đều mời thầy giảng dạy. Cộng thêm với những môn khó nuốt của thầy, thầy lại rất nghiêm khắc, không dễ tí nào, nên sinh viên thường gọi thầy là "Ông Kẹ". Kính thầy, con xin lỗi thầy.

 

Rồi Thanh và tôi cũng đến giảng đường, và kịp giờ các bạn đang lục đục vô lóp. Giờ học hôm nay tôi lại rất thích thú, có lẽ tôi áp dụng câu "Muốn là được", mình cố gắng thích môn học này vì nó rất quan trọng! Hay là vì tối nay có cuộc họp vui với mọi người bên cư xá bạn? Có lẽ cả hai. Giờ học cuối; sau vài ngày nghỉ lễ sẽ phải làm bài thi, mà không qua được môn này thì không được tí nào cả! Ba Me… Phải chăm chú thôi, Ti Lì ơi!

 

Chiều cuối ngày. Cả bọn trong cư xá lao nhao, mặc áo gì, quà cáp để trao đổi đã xong chưa? Trong phòng ba đứa như ba chị em một nhà.

 

– Nhóc, mi mặc áo khoác ni thì hợp với áo màu đỏ gụ bordeaux nè.

 

– Mi đeo xâu chuỗi này nhé? Hợp với làn da trắng của mi nè.

 

– Còn mụ da nâu thì sao? – Tôi phụng phịu giận dỗi vì chúng nó cứ lo cho nhau, bọn hắn da dẻ thật sáng, mặc màu nào cũng hợp, còn tôi?

 

Nhưng rồi, cũng xong.

 

Nguyên một đám sáu đứa trong số 43 của cư xá đồng ý đáp lời mời của cư xá nam láng giềng để dự buổi tiệc cuối năm Dương lịch bên giang sơn của họ. Chúng tôi là những người gần cuối bước vào căn phòng thư viện đã được dọn dẹp bài trí rất gọn gàng dễ thương. Bài diễn văn của anh Chủ tịch, rồi đại diện các cư xá, bài nào cũng thật hay, nhắc nhở bổn phận của mọi người ở xa gia đình nhưng cố chú tâm học hành để khỏi phụ lòng song thân và thầy cô trong kỳ thi cuối khóa, nhất là các anh chị sắp ra trường; và lời chúc may mắn. Ca hát, vui đùa thỏa thích.

 

Đến giờ ra về, thấy anh Trọng học Y3 (Y Khoa năm thứ 3) dẫn chiếc xe gắn máy nhỏ Caddy mà tôi rất thích, tôi liền hỏi mượn để chạy thử. Vừa đi được một đoạn, loay hoay thế nào, tôi lại té ngã ngay bùng bình trước cư xá. May mà lúc đó cũng hơi khuya, nên đường vắng. Trầy một chút ở cườm tay và đầu gối. Tôi được các soeurs chăm sóc vết thương cẩn thận.

 

Chiều hôm sau, vài đứa rủ nhau đi chợ để mua quà tặng các soeurs trông coi chúng tôi, vừa về đến phòng, tôi được thông báo là có người đang chờ ở phòng khách. Lại chạy xuống. Đó là người chủ của chiếc xe Caddy, anh đưa tôi một gói bông băng và nói:

 

– Chúc Lang nhớ chăm sóc các vết thương, nhất là vết ở đầu gối bị trầy nhiều, kẻo bị làm độc nhé! Anh Trọng xin lỗi Lang vì cái xe làm Lang đau.

 

– Đâu phải tại cái xe đâu, mà tại vì Lang giỏi quá mà! Ủa mà sao kỳ vậy, lúc nãy anh có nhờ sơ (soeur) trao lại cho Lang một gói rồi mà!

 

– Không phải của anh đâu, bây giờ anh mới đến, hôm nay bọn anh phải đi thực tập ở nhà thương mới vừa về.

 

Tôi trả lời qua loa mấy câu hỏi của anh về vết thương, về việc học. Anh dặn nhớ học kỹ hai môn Hóa Hữu Cơ và Vô Cơ nhe. (Lại còn biết tôi không thích hai môn này nữa ta! Sao hay vậy!) Anh về. Tôi lên phòng. Và mở gói kia ra: cũng những lời dặn như anh Trọng, nhưng bên dưới ký tên: Tôn Thất Khôi. Ah! Tôi nhớ ra rồi. Anh Khôi và anh Trọng học cùng lớp, tối hôm qua hai anh đại diện cho một cư xá đến chung vui đây mà. Hôm qua là lần đầu tôi gặp các anh, sao các anh lại biết cư xá của mình vậy ta?

 

Sau ba ngày nghỉ lễ cuối năm, hôm nay trở lại những ngày học bình thường. Chúng tôi học xong hai giờ đầu, giờ Toán của thầy Nhơn. Đến giờ thứ ba là giờ Anh văn, hôm nay thầy Ấm phải đi công tác đột xuất nên được nghỉ; vì còn tiết thứ 4 nên không về được, Kim Thanh và tôi bèn rủ nhau qua Hội quán Sinh viên ở bên kia đường để xem thử, từ hồi đầu năm đến giờ chưa dám ghé vô, vì nghe nói trong đó có rất nhiều nam sinh viên nên ngại. Thật vậy, quán có vài bàn có vẽ sẵn bàn cờ tướng, nên các anh thường thích vô đây để tỉ thí. Nhưng cũng có hai bàn có nữ sinh viên đang ngồi chuyện trò. Có lẽ các cô từ trường Văn Khoa hay Sư Phạm cũng ngay sát trường Khoa Học đây thôi, họ ghé uống cà phê. Hai đứa tôi vừa uống nước vừa nói chuyện thật thư giãn, làm như ở cư xá không thể tâm sự. Mà thật ra khi về phòng thì đứa nào cũng chúi mũi vào việc học.

Kim Thanh bỗng nhìn vào tay tôi và nói:

 

– Sao sáng ni mi băng tay không kỹ chi hết, thuốc thấm ra kìa! Tôi đưa tay lên, và thật vậy, cái Band-Aid đã bị nhuốm thuốc đỏ (vết thương này nhẹ nên tôi xem thường, chỉ chú trọng đến vết thương ở đầu gối bị trầy sâu hơn).

 

Ngay lúc đó, có một anh từ bàn bên cạnh bước qua và đưa cho tôi một cái Band-Aid. Đó là anh Minh, bạn của anh của Kim Thanh. Tôi nói:

 

– Dạ Lang cám ơn anh, nhưng mà sao anh có sẵn băng hay vậy?

 

– Vì anh nghe nói có một cô bé hay bị ngã hoặc trầy xước tay nên thủ sẵn trong bóp!

 

Anh Minh học Y Khoa, và sắp ra trường. Tôi chỉ gặp anh một lần ở nhà Kim Thanh, khi vào Đà Nẵng thăm gia đình bác tôi, vài tháng trước đây. Chúng tôi phải trở về trường, để học giờ Lý. Khi về cư xá, Kim Thanh nói tôi là anh Minh sau khi gặp tôi ở nhà bạn, thường hay hỏi thăm về tôi. “Thanh ơi, tính tình Chúc Lang như thế nào? Ngoan không?” “Khỏi phải nói anh ạ, hắn ngoan lắm, chỉ có tội nghịch phá thôi!”

 

– Ha ha! Vàng thiệt sợ chi lửa cô nàng ơi? Nè, mà ta hỏi mi nè, nhìn mắt ta xem, sao "họ" cứ bảo mắt ta buồn hả?  

 

– Chứ còn chi nữa! "Người em sầu mộng muôn đời" mà! [2] Với lại, mi còn có cái răng khểnh nữa kia!

 

– Ah! Cái con ni! Thiệt không đó? Nè, muốn ta bao cái chi thì nói nhe, đừng cho ta lên mây, té đau lắm! Ở cư xá ni và cả Viện Đại Học, bao nhiêu người đẹp nổi tiếng, mình chỉ là con số zero mi à.

 

– Cái con khỉ! nhưng mà có lẽ họ thích cái tính chân thật không điệu đà của mi đó nhỏ à.

 

– Vậy sao? Cám ơn nhe!

 

Rồi Thanh còn nói anh Minh hỏi có nhiều người theo Chúc Lang không, Thanh nói thì cũng có thấy họ gởi thơ, họ nói chuyện với cô nàng, nhưng làm sao biết được con tim của hắn.

 

Sao mà khổ ghê! Hai người Sơn Tinh & Thủy Tinh đem băng bông quà cáp cho tôi thì tôi cho là bình thường. Hoặc ai đó cùng lớp làm thơ ướt át rồi tặng mà sao mình không nhớ chi hết. Tại sao cái Band-Aid nhỏ bé kia cứ làm mình suy nghĩ vẫn vơ.

 

Đến ngày Tất niên. Tết Nguyên Đán. Các trường Đại Học đều tổ chức Đêm Luật Khoa, Đêm Sư Phạm… Vài bạn học và bạn cư xá đi với tôi để dự Đêm Luật Khoa vì giờ tổ chức sớm hơn, rất phù hợp với bọn tôi vốn rất sợ ma. Đây là buổi trình diễn văn nghệ rất đa dạng do các sinh viên trình bày. Các anh chị, bạn, các em thật là đa tài! Có đủ tân cổ giao duyên, kịch là những màn rất tốn thì giờ để diễn tập, so với đơn ca hoặc hợp ca.

 

Đến sẩm tối, cũng còn một, hai màn nữa, nhưng chúng tôi phải về. Cả bọn sáu đứa chúng tôi ở hai phòng gần nhau nên rất thân nhau, thường tụ tập ở một phòng sau giờ học bài để nấu mì gói, dùng cái resistance điện để nấu nước sôi, lén các soeurs vì tất nhiên là món này bị cấm.

 

Vừa ra khỏi giảng đường của trường được dùng làm "rạp hát", thì anh Minh đến, xin phép để tiễn chúng tôi một đoạn. Chúng tôi đi qua Cầu Mới, là cầu mới xây, sau năm 1968 khi cầu Trường Tiền bị người "tốt" giật sập mất một nhịp, khiến người Huế rất phẫn nộ đau buồn. Các bạn biết ý nên để anh và tôi đi phía sau. Tối hôm đó trời thật trong, ánh trăng lưỡi liềm chiều xuống mặt sông Hương đang gợn sóng li ti thật đẹp và thơ mộng. Anh kể chuyện vu vơ, chuyện học, chuyện ở quê Đà Nẵng của anh, tả những cảnh vật thật nên thơ bình dị.

Đến lúc sắp chia tay, anh nói:

– Chúc Lang cho anh viết thư cho bé nhe.

 

Tôi không biết phải trả lời như thế nào. Từ đó đến cuối năm học, tôi thường nhận được thư của anh, lời thơ thật dễ thương hiền hòa như con người của anh. Rồi mùa hoa phượng đến, hoa nhuộm đỏ thắm đoạn đường trước trường Văn Khoa, nhất là cây phượng ở góc nhìn ra cầu Trường Tiền.Thật là nên thơ, bảo sao thật nhiều vần thơ cho cây phượng này được những tâm hồn lãng mạn luôn trân quý, và thấy lòng mình lâng lâng khi đứng ngắm chúng trong buổi chiều tà.

 

Anh ra trường, đậu rất cao, tên anh đứng đầu bảng kết quả, nhưng không muốn về gần gia đình mà nhận nhiệm sở thật xa, vì anh nói muốn khám phá miền Nam.

 

Tôi về Cao nguyên của tôi. Rồi loạn lạc, bặt tin nhau. Nhiều năm trôi qua, mỗi khi bị trầy hoặc đứt tay, dùng Band-Aid, tôi cũng không còn nhớ đến cái Band-Aid năm xưa, vì bị lôi cuốn vào cuộc sống thời đắng cay tủi nhục đau khổ trăm bề.

 

Nhưng có một năm, khi về thăm lại thành phố thân yêu ấy, thăm trường xưa, cảnh cũ, đến cư xá "của chúng tôi" – bây giờ là một trường cấp hai – tôi lại chạnh lòng nhớ đến thời gian đáng yêu ấy. Ôi, những "người đi qua đời tôi". [3]

 

Đứng trước phòng khách, nhớ đến anh bạn cùng lớp hằng ngày làm chim xanh cho một người cùng phòng đem thư cho tôi, rồi một buổi chiều thật đau lòng, họ đến mà tôi không tiếp, vì tôi muốn hy sinh tình yêu mình cho người khác (để rồi cả hai đều đau khổ!!!) Nhớ đến "Sơn Tinh & Thủy Tinh" đem quà ô mai, búp bê da màu là món tôi rất mê cho đến bây giờ, mặc dù có bao nhiêu là búp bê thật, lớn nhỏ cứ đeo chân mình hàng ngày, rồi có anh tài xế máy bay ngày nào…

 

Những dòng ký ức cứ đua nhau hiện về.

 

Ra khỏi cư xá là ngôi trường mẫu giáo Lê Lợi, mà ngày ấy người viết thư bảo tôi luôn mãi là học trò của trường này thôi. Thật là dễ thương, vì tôi chỉ muốn làm con nít, làm người lớn sao mệt quá!

Đây rồi con đường Trương Định, đi ngang Hội Quán Sinh Viên, và bỗng nhớ đến cái Band-Aid của người xưa.

 

Hỡi "người Band-Aid", anh đang ở đâu? Có nhớ năm nào không?

 

Nhưng rồi, thời của tin học. Một hôm, đang lướt lưới tìm tài liệu cho công việc, tôi chợt thấy hàng chữ "blog của Đại Học Y Khoa Huế". Sự kỳ diệu của thế giới ảo! Tôi gởi thư hỏi thăm vài người bạn Y khoa năm xưa ở cùng cư xá. Khi nhìn thấy địa chỉ điện thư của tôi, anh ấy nhận ra ngay vì tên tôi rất đặc biệt, có lẽ chỉ có một tên như vậy. Qua chừng đó năm, dù có vài mối tình đến với anh, nhưng anh không thể quên cái "Band-Aid" đã đưa cho một người năm nào.

 

– Bé “Band-Aid” ơi, bé có người giữ sẵn băng trong bóp chưa? Bé có nhớ cái Band-Aid ngày nào không?

 

– Chúc Lang bị trầy xước nhiều lần, có khi phải băng nguyên cái băng bự to cơ đấy, nhưng không có ai có sẵn băng trong bóp cả, anh à.

 

– Chúc Lang có nhớ mình gặp nhau lần đi cứu trợ lũ lụt ở quận Phong Điền, Huế không? Sau khi giúp đồng báo ở đó, nhóm sinh viên thiện nguyện đã có một buổi sinh hoạt chung với nhau, ca hát, và khi đứng thành vòng tròn, bé đứng cạnh một nam sinh viên, lúc đó mọi người đang hát bài "Thử Hỏi" của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, anh nhìn Lang khi hát "Tay có bằng lòng cho tay nắm lấy?", và thấy anh ta đang cầm tay bé, anh buồn làm sao!

 

A, tôi mỉm cười khi đọc dòng thư điện tử này. Tôi nhớ ra anh chàng đó rồi, có lần đi trại cùng với liên lớp Pháp ở biển Thuận An, anh ta rất cảm kích khi thấy trên đường về từ kỳ trại, tôi ngồi xuống nhặt cá tươi từ một gánh cá của chị bán hàng bị đổ xuống đất. Hôm sau anh gởi cho tôi hàng chữ: Hình ảnh rất dễ thương mà anh không bao giờ quên, thể hiện lòng nhân ái của Chúc Lang. Time never waits, they often say/ But for Love, who knows, it may. (Thời gian không bao giờ chờ đợi, họ thường nói như thế/ Nhưng biết đâu, đối với Tình Yêu, điều ấy rất có thể).

 

Đâu có thấy thời gian có thể chờ đợi đâu ta?

 

Thư qua tin lại, anh đang sống ở một đất nước rất xa. Nhưng, cho dù sông có sâu, núi có cao, biển có bao la mấy đi nữa, thì cũng không thể chia cách chúng tôi được nữa. Đến kỳ họp mặt các cựu sinh viên nhân kỷ niệm 60 năm của Viện Đại Học Huế, được gặp lại các Thầy Cô kính yêu để dâng lên các vị những lời tri ân sâu xa, và gặp lại bao nhiêu anh chị em bạn bè ngày xưa thân ái, giờ đây ai cũng con đàn cháu đống. Mừng nhất là gặp được 4 người trong số 6 đứa thân thiết ở cư xá năm nào, lâu nay chúng tôi cũng có liên lạc nhau, cũng nhờ thời điện toán mà tìm ra nhau.

 

Mọi người đều rất vui mừng khi thấy anh Minh và tôi bây giờ được ở bên nhau.

 

Tôi nói với các bạn:

 

– Món nợ Band-Aid bây giờ đã trả được rồi nè các bạn ơi!

 

Nhưng tôi lại nói thêm: Phải chi hôm ấy đừng... đau/ Phải chi hôm ấy đừng trao... cho người. [4]

 

Một miếng băng dán nhỏ xíu mà dán được cả hai cuộc đời lại với nhau, mầu nhiệm thay!

 

Tháinữlan

(60 năm Viện Đại Học Huế)

 

[1] Tựa đề bài viết dựa theo tựa của truyện thật dễ thương "Món nợ dĩa bột chiên" của một huynh đệ Hướng Đạo của tác giả.

[2] Người Em Sầu Mộng (thơ Lưu Trọng Lư, nhạc Y Vân).

[3] Người Đi Qua Đời Tôi (thơ Trần Dạ Từ, nhạc Phạm Đình Chương).

[4] Mưa Bong Bóng (thơ Lý Quang Diệu: Phải chi hôm ấy đừng mưa/ Phải chi hôm ấy đừng đưa em về).

 

Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Phế tích của ảo ảnh, nhan đề một tập thơ của nhà thơ Trịnh Y Thư, do Nhà xuất bản Văn Học Press ấn hành năm 2017 tại Hoa Kỳ. Một nhan đề chất chứa không biết mấy lớp không gian và thời gian, không biết mấy thức của cảm xúc; nó như một sợi chỉ mà khi kéo ra chỉ thấy vô tận. Điều gì làm hoang mang và quyến rũ tôi đến vậy? Chữ “Phế tích” tác giả dùng cho “Ảo ảnh” khiến cảm xúc cuốn theo chiều hút của vực thẳm, trong đó nỗi hoài niệm treo lơ lửng trên dốc thời gian, lịch sử và thân phận, như một thách thức...
Chiều thứ Bảy 23 tháng 8 sắp tới đây, chúng ta sẽ được xem màn trình diễn Hợp Xướng "Chinh Phụ Ngâm" lần đầu tiên ở Hoa Kỳ. Nhà hát Rose Center Theater chuyên dùng cho các buổi hoà nhạc hay nhạc kịch ở Quận Cam sẽ là nơi vở hợp xướng trang trọng này được diễn ra. Cùng với màn hợp xướng, Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng sẽ giới thiệu Chương Trình Ca Vũ Nhạc Kỷ Niệm 50 năm viễn xứ "Cánh cò xa xứ" tại đây. Rất phấn khởi với tin tức này, tôi lại có cơ duyên quen biết và tiếp xúc với Nhạc Sĩ Vũ Đình Ân, tôi tìm gặp ông để tìm hiểu thêm về vở hợp xướng "Chinh Phụ Ngâm".
TÔI LÀ AI? Dường như mãi mãi là một câu hỏi cho cuộc sống của con người tại thế. Và câu trả lời của nó, hẳn nhiên, không thể và không chỉ là một cụm từ, cho dù có thể sâu xa đến đâu. Phùng Thanh Hà, một phụ nữ tôi quen biết, tuy cùng ở một thành phố nhưng phải đánh một vòng đến Thuỵ Sĩ, qua một người bạn (đạo diễn Síu Phạm), tôi mới gặp được cô ấy. Tôi kể điều này để muốn nói rằng, tương ngộ là tuỳ duyên, không chỉ trong các mối quan hệ mà còn là những vấn đề liên quan, những cơ sự sắc tướng hoặc vô sắc tướng nơi mỗi cá nhân.
Độc giả Việt Báo hẳn đã quen với Bùi Chát – nhà thơ – qua nhiều thi phẩm đặc sắc từng đăng tải trên trang báo này suốt bao năm qua. Tuần rồi, Việt Báo vừa giới thiệu tập thơ mới Chúng Ta Đang Trôi Đi Đâu với bài viết của Nguyễn Đức Tùng. Hôm nay, mời bạn đọc gặp lại một Bùi Chát - người họa sĩ. Anh đang có cuộc triển lãm tranh mang tên “đang trôi” khai mạc từ hôm nay và kéo dài đến hết ngày 24 tháng 7, tại Sài Gòn – một dịp hiếm quý dành cho các độc giả Việt Báo hiện đang có mặt tại Tân Định.
Nay ăn nhờ ở đậu nơi đất nước người, lấy chi mà “những điều trông thấy” kiểu như ngày xưa ấy. Nhưng thấy ý kiến của “bà hàng xóm” là một giải pháp khả dĩ, tôi nghĩ phải làm sao cho ra một bài viết vui vui thích hợp với xã hội đang sống. Trăn trở mãi rồi cũng eureka. Tôi đặt cái khung cho những bài mà tôi gọi là “phiếm”. Thứ nhất, đề tài bám vào những chuyện thời sự, nhất là những chuyện có liên quan nhiều tới cộng đồng người Việt sinh sống rải rác khắp nơi trên thế giới. Thứ hai, phải viết với lối văn vui vui, tếu tếu nhưng vẫn giữ chừng mực. Thứ ba, phải có hơi hướm văn chương bằng cách dùng những giai thoại hoặc/và những chuyện thực nhưng vui khi tiếp xúc với các bạn văn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.