Hôm nay,  

Ngôi nhà

02/07/202209:45:00(Xem: 4327)

Truyện ngắn

DinhCuong_(10)

 

 Nàng đi qua một căn nhà có vườn đằng sau, đẩy cửa bước qua hàng rào trắng bằng gỗ, đi sang khu vườn bên cạnh. Một chiếc áo sơ mi sọc ca-rô nâu đỏ khá mới vắt vẻo trên một móc treo trên hàng rào gỗ như còn ướt hơi sương sớm.

 

Đột nhiên nàng đứng trước một ngôi nhà hai tầng xây góc xéo ở điểm giao giữa hai con đường tráng nhựa, người ta cố tận dụng một khoảng không gian hẹp, một điều hơi lạ lùng trong các thành phố rộng lớn ở Bắc Mỹ, nhưng hoàn toàn có lý ở đây, nơi cuộc sống đắt đỏ nhất và nhà cửa đắt nhất ở đất nước này. Căn nhà xéo dốc xây gạch màu vàng nâu hình chữ V, như một chiếc bánh đúc cắt hẹp, một miếng lego xéo góc con gái nàng hay bày ra giữa sàn nhà. Mặt ngoài, ở gần tầng một, có một tấm băng-rôn lệch mép của một hàng bún cua. Bún cua? Ở đây? Nàng ngạc nhiên.

 

Một bông anh đào rớt xuống chạm nhẹ vào tay. Hoa ở đâu? Nàng nhặt lên, có hai đứa bé trai trạc tuổi nhau chạy giỡn xô vào nàng. Một đứa lí nhí nói lời xin lỗi đứa kia vẫn đang cười hớn hở. Chắc có chuyện gì vui lắm.

 

Cánh cửa trắng ở góc xéo nhất của ngôi nhà mở ra. Một người đàn bà đẹp xuất hiện, mỉm miệng cười gượng gạo nhìn nàng, nhưng cũng mời nàng vào nhà. Người đàn bà lấy từ trong kệ sách ra một quyển sách dày và bắt đầu ký tên ở trang đầu, bằng cây bút Montblanc Platinum nàng được tặng nhân ngày tốt nghiệp. Bút của tôi, nàng định nói nhưng không mở miệng được. Chăm chú nhìn vào trang sách. Nét chữ đẹp và mảnh khảnh. Marilyn, một cái tên đẹp. Một ngọn gió lùa ngang và trước mắt nàng hai chữ "Mari" biến mất. Người đàn bà ngẩng lên nhìn nàng một cách kiêu hãnh: "Tôi là Lyn".

 

Nàng đưa tay định cầm lấy cây bút của mình, dẫu người đàn bà chẳng hề có ý định đưa cho nàng quyển sách. Chợt một người đàn ông xuất hiện cầm lấy quyển sách và cây bút từ tay người đàn bà, vui vẻ chào hỏi: "Bút đẹp lắm, của em phải không?" Lại đặt tất cả lên kệ sách. "Ơ, tại sao?" Người đàn ông lấy từ trong túi ra một chiếc khăn mùi xoa màu xanh đậm tự nhiên buộc lên cổ nàng, ngắm nghía, khen đẹp rồi vuốt tóc nàng. Nàng không phản đối. Người đàn bà có vẻ khó chịu ra mặt. Người đàn ông lại nói: "Thật là nhớ em!"

 

Một đứa bé gái trạc 7, 8 tuổi níu tay nàng nhìn người đàn ông vẻ nghi ngại. Kéo tay nàng chỉ vào cánh cửa mở ra đường cái. Người đàn ông đưa cho nàng một xấp giấy in đầy bảng biểu. Cây bút đã biến mất, quyển sách yên lặng nằm trên kệ sách ngăn cao nhất. Nàng ngạc nhiên cứ tưởng lẽ ra mình được nhận quyển sách đó. Đứa bé gái thánh thót: "Đi đi, mẹ ơi!" Người đàn bà đột nhiên thốt lên giọng đầy cay đắng. "Cô biến khỏi nơi này và đừng bao giờ trở lại". Nàng ngạc nhiên "Nhưng tôi chưa bao giờ đến đây". Người đàn bà chỉ vào những khung tranh trên tường "Cô nhìn xem, có phải ảnh của cô không?" Những bức tranh trong vùng tối mờ như một cái gì che giấu, nàng nghĩ thầm, nếu cô ta không thích thì cứ dẹp đi tại sao lại phải treo tranh. Tranh rất nhòe, nàng không nhìn ra gì cả, tuy nhiên có một bức vẽ trực diện cô gái nhìn thẳng, cổ quấn khăn choàng với mái tóc vừa kéo thẳng và một nụ cười rạng rỡ. Giật mình, hình như là mình. Nàng chưa bao giờ có tranh treo ở đâu cả, thậm chí chưa hề làm mẫu cho một bức tranh nào. Không ai vẽ nàng cả. Có lẽ chỉ là một sự trùng hợp, nàng nghĩ.

 

Người đàn ông nắm lấy tay nàng, "Giờ làm việc của anh có thay đổi. Đi, chúng ta đi xem ngôi nhà mới". Mười lăm phút lái xe sang một khu vực gần đó. Khu VF. Nhà hẹp, không mới. Cửa màu xanh. "Tại sao anh lại dắt em đến đây?" "Đây không phải nhà chính của chúng tôi, chỉ là nhà cho thuê, vừa mua vào năm ngoái, nhưng tôi không muốn đưa em về nhà mình". "Chẳng phải ngôi nhà vừa rồi là nhà anh đấy sao?" "Đó chỉ là ngôi nhà cũ trong quá khứ, em vừa nhìn thấy một hình ảnh thoáng qua thôi". Số nhà 1394. Thật không?

 

Anh ta bắt đầu hôn nàng. Nàng cố cưỡng lại, rồi không cưỡng lại nữa và bắt đầu nồng nhiệt hôn anh ấy. Như trong một giấc mơ hoang đường nhất. Tan chảy. Xấp giấy bảng biểu trong tay rơi xuống, không hiểu sao nàng nhớ con số 747,040. Có vẻ là một số tiền. Có vẻ là một mật mã. Khung cửa số 4. Một tờ báo có tên "Ngày Mới" mực đã xỉn màu, cũ lắm, cũ lắm, rơi ra cùng xấp giấy. "Trước khi anh lấy vợ." Người đàn ông nói, như giải thích. Và lại hôn nàng. Tất cả, nhòe đi, nhòe nhạt, tan loãng.

 

Nàng phát hiện mình đang gục đầu trước bàn ăn cá nhân trên máy bay. Một quyển tiểu thuyết bên cạnh, "Mùa vĩnh cửu", hay là “Mùa vĩnh hằng nhỉ”, nàng dụi mắt. Có những thành phố được đặt tên theo những loài hoa. Người đàn ông đã biến mất. Những đứa trẻ đã biến mất. Tờ giấy có con số ở trước mặt nàng. Nhìn kỹ, là số 767,040. Là số tiền. Doanh thu của một doanh nghiệp nào đó. Ước lượng. Nàng lúc lắc đầu. Tại sao. Giấc mơ. Hay sự thật. Người đàn ông đó là ai. Hình như là một người quen thuộc lắm. Người yêu? Nàng không nhớ ra.

 

Tiếng loa vang lên "Chúng ta đang hạ cánh xuống sân bay Victoria Airport. Đề nghị hành khách ngồi yên tại chỗ và thắt dây an toàn đến khi máy bay ngừng hẳn". Thành phố chữ V.

 

Trần Hạ Vi

 

LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.