Hôm nay,  

Ngày giỗ đầu của anh

06/08/202211:24:00(Xem: 4726)

Tùy bút

DinhCuong_BongMay
Bóng mây, tranh Đinh Cường.

 

Một người cháu cho tôi hay: “Lúc 2 giờ sáng nay, thứ 7 ngày 7 tháng 8-2021, Cậu Ba (anh tôi) thức dậy nhờ ‘người nuôi bịnh tại gia’ dìu đi tiểu. Xong, Cậu Ba vô giường nằm. Sau đó lúc 5 giờ sáng người làm vô giường xem thì thấy Cậu Ba ngừng thở. Vậy Cậu Ba ra đi khoảng từ 3 đến 5 giờ sáng. Chiều tối hôm thứ Bảy, xác Cậu Ba được liệm. Và 3 giờ chiều mai, Chủ Nhật, ngày 8 tháng 8-2021 tức là ngày Mùng 1 tháng 7 âm lịch sẽ chôn Cậu Ba tại Nha Trang. Mộ Cậu Ba nằm sát bên mộ Mợ Ba”.

 

Mặc dầu anh tôi qua đời không liên quan gì đến dịch bịnh Covid-19. Anh thọ đến 92 tuổi, anh qua đời vì biến chứng của tuổi già, sức khỏe yếu, trí tuệ bị hao mòn. Theo lời người cháu: “Ở Việt Nam hôm nay Nhà Nước đang thực hiện giãn cách. Ở Ninh Thuận cũng như Khánh Hòa đang thực hiện chế độ giãn cách theo đúng chỉ thị 16 của chính phủ về phòng chống Covid-19, nên mọi người không được đi đâu hết. Chị Biếc, con gái lớn, của Cậu mợ Ba ở Đà Nẵng, anh Đỉnh con trai út của Câu Mợ Ba đang ở Saigòn đều không thể về Nha Trang được, dù rất muốn về để tang. Gia đình cháu và các anh chị con Dì Tư ở Phan Rang cũng rất muốn ra Nha Trang  viếng Cậu Ba cũng không thể nào đi được. Việc mai táng Cậu Ba trong vòng 48 tiếng đồng hồ là theo yêu cầu của chỉ thị 16, của nhà nước phòng chống dịch bịnh Covid-19”. Mọi phúng điếu đều bị từ chối vì chính quyền cũng đang phòng chống tham nhũng.

 

Cách đây hơn 10 năm, hai vợ chồng tôi về thăm anh tôi ở Nha Trang. Lúc ấy anh chừng vừa ngoài 80 trông anh yếu hẳn đi, tóc anh bac phơ trông xác xơ. Xót cho anh, tôi nói:

– Sau gần mười năm bị vùi dập trong lao tù cải tạo, bây giờ sức khỏe anh yếu lắm rồi.

 

Anh tôi liền cười và cướp lời tôi:

 

– Đi tù cải tạo là tai trời ách nước. Người miền Nam, bên này vĩ tuyến 17 mà không đi tù cải tạo sau ngày 30-4-75 kẻ đó không phải là người miền Nam. Không phải bị ngược đãi hay bị vùi dập gì đâu, người anh gầy tóc anh bạc vì anh giống má từ hồi còn trẻ.

 

Nói xong anh cười phá lên hình như để khỏa lấp nỗi lòng trắc ẩn của anh suốt gần 10 năm trong lao tù cải tạo. Những lúc đó anh em tôi nói chuyện với nhau rất nhiều nhưng anh tôi tuyệt nhiên không nhắc nhở gì đến những năm anh sống trong lao tù cải tạo. Chị dâu tôi, vợ của anh, có vẻ ấm ức, muốn anh tôi nói rõ cho hai vợ chồng tôi nghe những chịu đựng gian khổ của anh trong lao tù cải tạo. Anh tôi nhìn chi dâu tôi, anh mỉm cười:

 

– Không ai có thể chia sẻ trọn vẹn sự chịu đựng đau đớn của người khác được. Và cũng không ai có thể nói hết được sự đau đớn của riêng mình. Họa chăng chỉ có thuyền mới hiểu được biển, chỉ có biển mới hiểu được thuyền, nhưng thuyền và biển đều câm nín cả. Đạo khả đạo phi thường đạo. Nói xong, một lần nữa anh tôi lại cười phá lên. 

 

Đến buổi ăn trưa tôi có cảm tưởng anh chị tôi thết đãi vợ chồng tôi, vì bữa ăn tại gia đình nhưng thịnh soạn. Chị dâu tôi nấu cơm gà Phan Rang thơm lừng, có mắm gừng, có bia Heineken. Hình như đọc được ý nghĩ của tôi, anh tôi bảo:

 

– Dù sao, có chú thím về anh chị cũng phải. Nhưng thật sự bữa ăn của vợ chồng tôi được cải thiện rất nhiều trong mấy năm qua, kể từ ngày các con vượt biên qua được Mỹ, ăn nên làm ra, tụi nó gửi tiền về... Đoạn, anh nhìn vợ tôi anh hỏi:

 

– Sau hơn 20 năm ở Mỹ, hôm nay lần đầu tiên thím ăn cơm trưa, chắc thím có cảm giác lạ lắm phải không? Thú thật với thím tôi cũng vậy, hồi năm 62 trở về nhà sau hơn một năm ở Mỹ, tôi ngạc nhiên hết sức khi thấy mình ngồi lại ăn cơm trưa với vợ con với gia đình chẳng khác nào người Mỹ ăn dinner vậy.

 

Câu chuyên anh tôi vừa nói làm tôi nhớ lại anh là một sỹ quan của không lực của quân đội VNCH, đã có hai lần sống ở Mỹ: 1961 và 1970. Ấy thế mà năm 1975 anh nhất định không đi. Anh yêu nước biết là dường nào!

 

Chị dâu tôi bảo:

 

–  Cầm đũa, mời hai em ăn đi ông, quá 12 giờ trưa rồi.

 

–  À mời chú thím. Mời bà... Anh tôi bảo.

 

Vì thương anh tôi, chị dâu tôi muốn vợ chồng tôi, nhất là tôi (được anh chị tôi nuôi từ hồi nhỏ cho đến ngày tôi ra trường làm bác sĩ) phải chia sẻ những gian khổ của anh trong hơn 20 năm sống dưới chế độ quản lý hà khắc của Chuyên Chính Vô Sản, chị dâu tôi nói trong giọng ngậm ngùi và cả nước mắt nữa:

 

– Khi ông ấy được lệnh tha, về với gia đình. Ở trong trại tù ông ăn đói, ốm nhom, gió xô cũng ngã. Bữa cơm đầu tiên mẹ con tôi nấu cơm gà cho ông ấy. Tay ông cầm đũa gắp miếng thịt gà mà cứ run run, ông đưa vào miệng ngậm, một hồi lâu mà nước mắt ông giàn giụa, ông ậm ực: “Gần mười năm”!

 

Anh tôi đưa tay vuốt lưng chị dâu tôi vỗ về:

 

– Thôi bà, đó là quá khứ. Quá khứ của nhầm lẫn. Chú thím cũng như nhà tôi, nên quên cái thời đó để mà vui sống. Bây giờ là thời mở cửa, thời cởi trói, đổi mới. Thời nào chúng ta sống theo thời đó cho nó ổn. Đâu chỉ có những người tù cải tạo như chúng tôi mới sống đói khát thiếu thốn. Việt Minh họ cũng vậy. Tháng 10-1955 bộ đội Việt Minh về tiếp thu Hà Nội, trong một bữa tiệc khoản đãi, cụ Phan Khôi cầm đũa chỉ vào miếng thịt gà nói một câu cay đắng; “Chín năm nay tau mới thấy mặt mày”.

 

Chị dâu tôi xem chừng vẫn còn ấm ức, chị nói:

 

– Ngày 24-3-1975 cả gia đình vợ chồng con cái đã lên ngồi trên chiếc DC-10 trong căn cứ Phi Long, Nha Trang, sắp sửa cất cánh. Ông nhất định kéo xuống hết và ông bảo với các con ở lại với đất nước, Viêt Nam dù sao đi nữa vẫn là quê hương, vẫn là thiên đàng. Sau ngày 30-4-75 ông khăn gói trình diện đi tù cải tạo. Ông còn nhớ không ông? Sau câu nói ấy mặt chị tôi sa sầm nước mắt. Anh tôi nhìn chị tôi yên lặng không nói được một lời. Lặng thinh một hồi anh tôi bảo:

 

– Có hai em về thăm... sau hơn 20 năm xa cách. Còn chuyện đó cũng đã gần 30 năm rồi. Tôi xin bà hiểu cho ai cũng có một lần vấp ngã.

 

Tôi nhớ hôm đó là ngày 21 tháng Chạp, vợ chồng tôi quyết đinh ở lại với anh chị những ngày cuối năm. Anh em tôi mang mùng mền ngủ với nhau trong một phòng riêng. Những câu chuyện trao đổi lúc tàn canh, những bạn bè của anh từ chối diện H.O. không đi Mỹ, ở lại với quê hương, họ chết dần, chết mòn trong cảnh cơ hàn, bịnh tật. Anh tôi nói “Anh cảm thấy cô đơn... may mà còn có chị của chú bên cạnh anh khuya sớm. Ngày mà anh nhớ nhất trong đời là ngày đươc chị của chú thăm nuôi trong lao tù cải tạo.”

Từ ngày chị dâu tôi qua đời cách đây ba năm, tinh thần anh tôi suy sụp thấy rõ. Các con của anh ở Mỹ muốn đưa anh sang Mỹ, anh vẫn từ chối. Anh quyết tâm ở lại với chị đến hơi thở cuối cùng. Và anh tôi đã được toại nguyện được mai táng bên cạnh mộ phần của chi dâu tôi.

 

Đào Như

Tôi tự hỏi có phải anh không có ai để nói chuyện nên buồn quá muốn tiêu hóa những suy nghĩ từng nung nấu?...
chữ nghĩa nổi trôi theo sóng biển / ngày ươm nắng trên cánh chim thiên thần / da trời màu xanh đem lại bình an / thời gian như dừng lại / một khoảng không gian lắng đọng...
Người xa, để lại hương đời / Giấc mơ chốn cũ hồn vời vợi trông / Bóng đa, cánh bướm, dòng sông / Mở trang nhạc cũ, ngút lòng ca dao...
Âm nhạc của Nhạc Sĩ Cung Tiến đã chinh phục cả hai, ba thế hệ người thưởng ngoạn, suốt từ thập niên 50 cho đến ngày nay; và có lẽ trong một tương lai rất lâu nữa, người ta vẫn nghe nhạc của ông. Tuy đã khá trọng tuổi, nhưng sự ra đi của ông mới đây vẫn là sự bất ngờ đến bàng hoàng đối với những người thân yêu và mến mộ ông. Nỗi niềm thương tiếc này được biểu hiện bằng đôi lời chia biệt với ông và gia đình từ khắp nơi. Việt Báo trích đăng lại. Cầu mong Ông yên nghỉ.
Cái chết làm nên đời sống của chúng ta. Cũng như mất mát làm nên âm nhạc. Cái chết của một người, một nghệ sĩ, một quê hương...
buổi chiều nào se lạnh / mưa đổ muộn xuống mùa hè miền đông bắc / như trận mưa ở saint paul năm nào / ngày thanh tâm tuyền chết./ buổi chiều tôi biết muộn / cái chết của cung tiến...
Di sản nghệ thuật của nhạc sĩ Cung Tiến không nằm ở số lượng, mà đầy ở phẩm chất. Ngoài những ca khúc, tấu khúc thuần tuý giá trị về âm nhạc, ông còn để lại những bài viết, tiểu luận dưới nhiều đề tài văn học, kinh tế, và truyện dịch. Chúng ta đã đọc, đã nghe khá nhiều về tài hoa và khả năng sáng tác của Cung Tiến từ tuổi 15 cho đến những năm tháng sau cùng. Trong những quà tặng ông để lại tôi đặc biệt yêu thích nghệ thuật phổ thơ thành nhạc của ông, chẳng những cho chúng ta thưởng thức giai điệu bán cổ điển tây phương, ngủ âm đông phương, mà còn mang thơ Thanh Tâm Tuyền, một trong vài thi sĩ hàng đầu trong thời đại của ông đến giới thưởng ngoạn nhạc nghệ thuật và lưu trữ vào kho tàng âm nhạc Việt. Thơ Thanh Tâm Tuyền không dễ phổ thành nhạc.
Như những tiếng cầu xin cứu vớt linh hồn chúng tôi / ngoài khơi bí mật đến tự một con tàu biển; / qua những mảnh danh từ dệt nên hồn mầu nhiệm / em vẫn chỉ là tóc mây cổ nõn và môi./ Sau áo len danh từ là thế giới xa vời, / là đêm không trăng sao là trùng dương thăm thẳm; / qua những chuỗi ngọc cười, em vui nước mất đẫm / vai anh, em buồn. Đêm hồn anh dài không nguôi.
Phiến đá là một vầng trán nơi những giấc mơ hiền than thở/ Không một dòng nước uốn quanh và những cây tùng bách giá băng / Phiến đá là một cánh vai trần để chở đi thời gian / Với những cây nước mắt những dải băng và những tinh cầu / Tôi đã thấy những trận mưa xám chạy dài theo những đợt sóng / Giơ cao lên những cánh tay ngọt ngào lỗ chỗ / Để không cho phiến đá duỗi dài với được / Phiến đá chặt tay chân ra thành từng mảnh mà không thèm hút máu
Cung Tiến là một tên tuổi lớn của âm nhac Việt Nam, nhưng ông cũng là một tác giả có nhiều đóng góp vào hai mươi năm văn học miền Nam và văn học hải ngoại. Vào những thập niên 1950 và 1960, với bút hiệu Thạch Chương, Ông đã sáng tác, nhận định và phê bình văn học, cũng như dịch thuật, cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan điểm, và Văn. Hai trong số các truyện ngắn ông dịch và xuất bản ở Việt Nam là cuốn Hồi ký Viết Dưới Hầm của Dostoievsky và cuốn Một Ngày Trong Đời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn. Mời đọc lại một bài viết về Hermann Hesse của Thạch Chương, tức nhạc sĩ Cung Tiến.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.