Hôm nay,  

Đà Lạt, một mùa xuân

03/01/202317:13:00(Xem: 4543)
Truyện

IMG_3987


Thuỷ chạy đến nhà tôi buổi chiều muộn, hớn hở:

 

– Công ty của anh tao có chuyến chiêu đãi nhân viên đi Đà Lạt năm ngày, mà phút cuối anh tao và bà chị dâu bận việc nên nhường hai chỗ cho tụi mình, mày muốn đi không?

 

Ôi, Đà Lạt, thành phố mộng mơ mà tuổi mười tám tôi chưa hề bước chân đến đó. Tôi thích lắm, hỏi Thuỷ:

 

– Bất ngờ quá, dĩ nhiên là đi rồi, nhưng tụi mình phải chuẩn bị gì đây, ngày nào lên đường, liệu có ảnh hưởng chuyện đi học?

 

Thủy hào hứng:

 

– Đi vào cuối tuần này, tụi mình chỉ nghỉ học 3 buổi, bây giờ sắp Tết, đi học cũng chẳng học gì đâu, thầy cô cũng thoải mái. Mình đi theo đoàn, được miễn phí tiền xe và tiền nhà nghỉ, đâu dễ gì có dịp khác.

 

Tối hôm đó, sau khi tôi xin phép gia đình, hai đứa bàn bạc đủ thứ chuyện và chuyện tài chánh eo hẹp của tuổi học trò cũng làm chúng tôi tính toán kỹ lưỡng. Vì muốn chụp thật nhiều hình cho chuyến đi mà không phải tốn tiền nhiều, chúng tôi quyết định mua hai cuộn phim trắng đen Kodak, thay vì một cuộn phim màu rất đắt tiền, khi lên tới Đà Lạt sẽ tìm một người chụp hình, nhờ họ chụp, trả tiền công, rồi đem về Sài Gòn rửa tại các tiệm chụp hình.

 

Vừa đến thành phố sương mù, nhận phòng là hai đứa tôi xuất phát ra đường vì muốn tận hưởng từng phút từng giây vẻ đẹp của Đà Lạt. Cao nguyên những ngày gần Tết thật lạnh nhưng rất thú vị theo từng cơn gió rít, chúng tôi được dịp diện áo khoác áo măng tô mà ở Sài Gòn chưa có cơ hội. Bước qua khu đồi nhà nghỉ là xuống con dốc, đi bộ vài trăm mét là đến trung tâm chợ Đà Lạt, chưa kịp ngắm phố phường xung quanh thì bốn năm người thợ chụp hình đã vây đến, chào hỏi chúng tôi chụp hình. Tôi nói với Thuỷ:

 

– Tụi mình ra góc chợ uống sữa đậu nành nóng rồi từ từ quan sát, chọn một thợ chụp hình mà mình tin tưởng và nói chuyện... giao kèo.

 

Vừa uống sữa, Thuỷ chỉ tay về phía bên kia đường:

 

– Hay là mình chọn anh chàng kia đi, nhìn anh ta trẻ trung nhanh nhẹn hơn mấy ông sồn sồn hồi nãy…

 

– Và đẹp trai nữa chứ!

 

– Hứ! Thì đó chỉ là một phần, cái chính là trẻ trung, mới đủ… sức khoẻ và vui vẻ trèo đèo xuống thung lũng với tụi mình cả ngày được.

Hai đứa tiến tới, anh chụp hình nhìn chúng tôi với một nụ cười chào hàng rất có duyên và thân thiện (ui chao, hễ ai có răng khểnh giống tôi là tôi có cảm tình liền hà!). Sau khi nghe chúng tôi trình bày, anh giới thiệu tên là Quang, đồng ý chấp nhận giá cả, chỉ thêm một điều kiện là tại các nơi thoả thuận, như Hồ Xuân Hương, Thác Cam Ly, Thung Lũng Tình Yêu, Đồi Cù… chúng tôi phải chịu khó chờ anh ấy chụp hình cho những người khách du lịch khác nữa (anh ấy đeo 3 máy trên mình, trong đó một máy chụp riêng hai cuộn phim chúng tôi).

 

Phải công nhận anh ấy nhiệt tình, hẹn nhau chụp hình bốn buổi của hai ngày, mỗi lần đến chỗ hẹn là anh ấy luôn đứng chờ sẵn, nụ cười tươi rói túc trực trên môi. Anh hướng dẫn chúng tôi chụp đủ kiểu dáng, góp ý bối cảnh không thiếu góc chụp nào. Đáp lại, chúng tôi thong thả ngắm cảnh trong khi chờ anh ấy bận rộn ngang dọc quay cuồng với những du khách khác, và lần nào xong chúng tôi cũng mua cho anh ấy ly nước, miếng bánh như lời cám ơn.

 

Trước khi đến ngày hẹn giao phim, Thuỷ bỗng lo lắng:

 

– Ê, có khi nào anh ta… lừa tụi mình không? Anh ta làm bộ chụp bấm ào ào, rồi đưa mình cuốn phim hư cũ, làm sao mình biết được? Coi như anh ta vừa được tiền công vừa được hai cuốn phim mới, ngon lành!

 

Tôi cũng đâm lo:

 

– Thì lỡ leo lưng cọp phải chịu chớ sao! Tự dưng mày làm tao cũng bắt đầu lây rồi nè, lo thật!

 

Hôm sau, đến nơi, anh ấy trao cho chúng tôi hai cuộn phim và bất ngờ tặng thêm tấm hình màu của hai đứa chụp chung và riêng mỗi đứa một tấm hình màu:

 

– Tặng hai cô mấy tấm hình màu làm kỷ niệm xứ sương mù nhé, hai cô thiệt… dễ thương!

 

Tôi nhanh nhẩu:

 

– Ủa, anh chụp mấy tấm này lúc nào mà tụi tui không biết?

 

Anh ấy có vẻ mắc cỡ:

 

– Có mấy lúc thấy hai cô làm dáng xuất thần quá, tôi liền cảm xúc chuyển qua máy của tôi vì hình màu sẽ đẹp hơn nhiều.

 

Nhỏ Thuỷ làm tới:

 

– Vậy là anh vi phạm hợp đồng rồi nhé, chụp ảnh người ta ngoài dự định mà hổng… xin phép!

 

Thấy anh ấy bối rối, tội nghiệp quá chừng, tôi phải nhảy ra cứu:

 

– Nhưng ba tấm hình này quá đẹp, đúng như anh nói, nhìn hai đứa tôi rất tự nhiên và… dễ thương hết sức nên chúng tôi chịu… nhận, và không làm khó dễ anh nữa!

 

Sau khi trả tiền, nói lời cám ơn và chia tay, về nhà nghỉ, Thuỷ quả quyết:

 

– Vậy là anh ta lừa mình rồi Loan ơi!! Anh ta tặng mấy tấm hình màu để… nhẹ tội và mình khỏi nghi ngờ đó.

 

– Mày đa nghi quá, mà tao thấy anh ấy rất chân tình, dễ mến, yêu nghề say sưa, chỉ dẫn tụi mình từng li từng tí, sửa từng lọn tóc trên trán, cách đứng tạo dáng bên hồ, bao giờ đúng ý anh ấy mới chụp. Chưa kể anh ấy không ngại ngần giúp đẩy hai đứa lên yên ngựa chiều theo ý tụi mình muốn làm gái "cao bồi" khi đứa nào cũng lóng nga lóng ngóng vì con ngựa quá cao, rồi đến Thác Cam Ly mày suýt té vì đôi dép lưới bị vướng cây dại, nếu không có anh ta đỡ thì giờ này chắc mày còn nằm ở bệnh viện chớ còn thời giờ mà ngồi đây nghi ngờ lung tung.

 

– Tao vẫn biết thế, nhưng sao cũng vẫn lo lo. Thời buổi này kẻ xấu thiếu gì, mình lại là khách phương xa, chắc gì gặp lại lần thứ hai, nên họ cũng có đủ cách lừa đảo.

 

– Mà thôi, chúng mình chờ hạ hồi phân giải.

 

Buổi sáng ngày tạm biệt Đà Lạt, hai đứa vừa bước qua chợ, gặp ngay chàng chụp hình ngay cổng chợ, mừng rỡ:

 

– Chào hai cô, hôm nay hai cô về Sài Gòn phải không?

 

– Đúng vậy anh ạ, xe chờ ở cuối đường, cho mọi người một tiếng để đi chợ.

 

– Hai cô mua sắm xong chưa?

 

– Tụi tôi đã mua xong từ hôm qua, giờ chỉ ra đây uống sữa đậu nành và ngắm núi đồi Đà Lạt lần cuối trước khi về với Sài Gòn nắng bụi. Mà anh đứng đây... chờ tụi tôi hả?

 

Anh thợ chụp hình bối rối:

 

– Đâu có! Tui ra đây tìm... khách chụp hình, hay là mời hai cô vào quán uống sữa nhé?

 

Nhỏ Thuỷ ghé vào tai tôi, thì thào:

– Thấy chưa, khi không anh ta mời mình đi uống sữa làm gì cho tốn tiền, chắc là "chôm" hai cuốn phim Kodak của chúng mình rồi.

 

Vào quán, nói loanh quanh chuyện Đà Lạt, anh ấy bắt chuyện:

 

– Lần đầu đến nơi đây, hai cô có sợ lạnh không?

 

Tôi mơ mộng:

– Không anh ạ, trái lại là rất mê khí hậu Đà Lạt, chiều qua tụi em đi dạo khắp các con đường xung quanh nhà nghỉ, ngắm những ngôi nhà bé bé xinh xinh có giàn hoa nơi cổng, dọc theo mấy ngọn đồi, đẹp như khung cảnh của xứ Châu Âu xa xôi, tuyệt vời lắm.

 

– Còn cô Thuỷ, sao không nói gì?

 

Nhỏ Thuỷ đỏ mặt:

 

– Tôi hả, tôi sẽ nhớ lúc đi lễ nhà thờ Con Gà, và cà phê nhà hàng thủy tạ ở Hồ Xuân Hương.

 

Anh ấy nháy mắt:

– Vậy là hai cô thích bài hát “Thành Phố Buồn” của Lam Phương có Đà Lạt “tiếng chuông chiều chầm chậm thê lương”.

 

Tôi cãi lại:

 

– Không hề anh ạ! Bài hát đó nghe buồn quá, dành cho mấy người lớn tuổi, thất tình, còn tụi em mới bước vào tuổi… yêu đời, ở Sài Gòn bây giờ các chàng trai thiếu nữ chỉ mê mẩn bài hát Mimosa của Đà Lạt mà thôi.

 

Anh ấy gật gù, bỗng cất giọng ngân nga:

 

– Mimosa... vì sao em tới, Mimosa... vì đâu em đến nơi này, Đà Lạt đồi núi chập chùng, Đà Lạt trời mây nước mênh mông?

 

Trời ơi! Hễ đến câu "Mimosa, từ đâu em tới" là anh nhìn lần lượt hai đứa chúng tôi, đến khi ảnh nhìn tôi, ánh mắt chan chứa tình cảm, như là đang hỏi... tôi vậy á!

 

Tôi reo lên:

 

– Ôi, anh hát hay quá, lẽ ra anh nên làm ca sĩ mới phải.

 

Nhỏ Thuỷ lườm tôi:

 

– Tại mày ca dở nên thấy ai hát cũng hay.

 

Bỗng anh hỏi:

 

– Tôi thỉnh thoảng cũng lên Sài Gòn, hai cô ở đâu, nếu không có gì phiền hà thì cho tôi địa chỉ để tiện dịp tôi ghé thăm được không?

 

Tôi và Thuỷ nhìn nhau, mấy cái vụ “cho anh xin số nhà” này ở Sài Gòn tụi tui gặp hoài, thường là chúng tôi từ chối, vì mấy thằng bạn chung lớp chung trường gạt ra còn không hết, kết thêm bạn mới làm gì, nhưng lần này nhìn vào mắt anh ấy, có gì đó níu kéo, thúc đẩy, làm tôi mềm lòng nhưng tôi không dám trả lời vì sợ nhỏ Thuỷ lại lườm tôi, ai dè nó còn mau mắn hơn tôi:

 

– Anh cứ đến Gò Vấp, hỏi Ngã Năm, rồi hỏi nhà máy Z.751 và hỏi hai tên này là tìm ra tụi tôi.

 

Thủy bắt anh "hỏi" mấy lần. Tôi tội nghiệp gỡ rối:

 

– Vì khu Z.751 chỉ có xóm nhỏ của tụi tôi, ai cũng biết nhau.

 

Trên xe trở về Sài Gòn, tôi hỏi Thuỷ:

 

– Nhà ngươi nghi ngờ người ta, sao còn chỉ đường tìm nhà làm gì?

 

Cô nàng ngượng ngùng chẳng dám trả lời. Tôi tiếp:

 

– Mày một vừa hai phải thôi! Anh ấy tặng mình ba tấm hình màu, giá không rẻ đâu nhe, rồi bữa nay mất hai ly sữa đậu nành và hai tô bún bò Huế, rồi anh ấy còn mất cả buổi sáng ngồi quán nói chuyện với mình, thì hai cuộn phim Kodak cũng chưa đủ cho anh ấy lấy lại vốn, thậm chí còn lỗ là đằng khác, ở đó mà nghi ngờ người ta.

 

Về tới Sài Gòn, chúng tôi đem phim đi rửa, nhưng phải chờ hai tuần mới có hình. Nôn nao, hồi hộp, lo sợ, rồi cũng đến ngày lấy hình. Các tấm hình đều đẹp, như ý, và đầy đủ không thiếu tấm nào. Hai đứa ngồi ngay công viên Nhà Thờ Đức Bà ngắm nghía xuýt xoa từng tấm hình. Nhỏ Thuỷ sau khi vài chục lần xem hết xấp hình, ngước lên nhìn tôi, mơ màng:

 

– Thì ra tao đã vu oan giá hoạ cho “người ta” …

 

Tôi được dịp chì chiết nó:

 

– Tao đã bảo rồi, “nhìn mặt mà bắt hình dong” thì anh ấy không thể nào là loại người lừa đảo, hơn nữa, chính mày là người lựa chọn anh ấy ngay từ phút đầu, phải không?

 

Suốt đoạn đường đạp xe về nhà, nhỏ Thuỷ cứ tủm tỉm cười, đôi má ửng hồng, có lúc còn e thẹn, ngập ngừng hỏi tôi:

 

– Tụi mình nói anh ấy đến khu Z.751, liệu ảnh có tìm ra không nhỉ?

 

Còn tôi ư, tôi còn nhớ cả khuôn mặt anh vừa chạy vừa vẫy tay chào chúng tôi khi chiếc xe lăn bánh rời Đà Lạt. Nhưng anh Quang ơi, anh thích ai trong hai đứa chúng tôi, chả lẽ anh thích…cả hai đứa, chả lẽ anh tặng hình màu, rồi bỏ thời gian “vô tình” gặp chúng tôi buổi sáng chia tay, mời đi uống sữa, ăn sáng, rồi xin điạ chỉ ở Sài Gòn, để muốn thăm… cả hai đứa??

 

Tôi lắc đầu, chẳng muốn nghĩ ngợi xa xôi, nhưng thật sự cầu mong “anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé”, để tôi mãi được thấy nhỏ Thuỷ bạn tôi xinh tươi “má đỏ môi hồng” khi nhớ về Đà Lạt, và để tôi giữa trời Xuân nắng hiu hiu của Sài Gòn, lòng vẫn phơi phới rạo rực, tiếp tục những vần thơ còn dở dang:

 

Tôi đến Đà Lạt một chiều Xuân

Bên thác Cam Ly dừng bước chân

Có ai theo tôi từng con dốc

Mai tôi về, Sài Gòn bâng khuâng!

 

– Kim Loan

Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ. Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại. Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như
Bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci sẽ được đưa sang một không gian trưng bày riêng tại Viện Bảo Tàng Louvre, trong một kế hoạch đại trùng tu lớn nhằm giảm cảnh chen chúc, tăng an ninh và sửa chữa hạ tầng tại viện bảo tàng đông khách nhất thế giới. Theo Christian Thorsberg, viết trên Smithsonian Magazine ngày 19 tháng 5 năm 2026, giới chức Pháp vừa chọn nhóm kiến trúc sư quốc tế đảm trách công trình được mô tả như một “thời Phục Hưng mới” cho Louvre. Dự án có thể tốn tới $1 tỷ, với mục tiêu giải quyết tình trạng quá tải kéo dài nhiều năm qua.
Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó 95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1% Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác. Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính. Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài
Nhiếp ảnh không còn là việc ghi lại thế giới như nó tồn tại. Trong thời đại đương đại, máy ảnh đã trở thành một công cụ tư duy, một phương tiện để người cầm máy đặt câu hỏi, phản biện, và kiến tạo ý nghĩa. Mỗi lần bấm máy là một lần người chụp lựa chọn: lựa chọn cái gì được nhìn thấy, cái gì bị cắt ra ngoài khung hình, khoảnh khắc nào xứng đáng tồn tại mãi mãi. Đó là một quyền lực nhỏ nhưng đầy tính triết học.
Có những bài hát viết để ru người ngủ. Có những bài hát viết để kể chuyện tình. Và có những bài hát viết để không ai có thể quên. Thời Hoàng Hôn Của Ý Niệm của Hà Thúc Sinh là ca khúc để nhớ, nhưng không phải vì nó đẹp đến mức người ta không thể quên, mà vì nó đau đến mức người ta không thể không nhớ. Đây là một bài hát mà nghe xong, người ta không muốn nghe lại, nhưng không thể nào xóa được khỏi tâm trí. Đây là loại nghệ thuật mà Adorno đã từng nói tới khi ông viết về văn học sau Auschwitz: nghệ thuật không còn để mua vui, mà để làm chứng cho những điều đáng lẽ ra không nên xảy ra.
Mới ngày nào chỉ là một ý tưởng, vậy mà VAALA Viet Book Fest năm nay đã bước vào năm thứ Năm.
Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại bắt đầu rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời, bọn người chiến thắng vẫn chưa vừa lòng!
Trong lãnh vực nghệ thuật, luôn có một câu hỏi khó trả lời, chưa hề có câu trả lời nào thỏa mãn. Đó là, Sáng tác làm cho thưởng ngoạn trì trệ, hay thưởng ngoạn làm cho sáng tác trì trệ? Nhạc, họa chậm phát triển là do sáng tác hay thưởng ngoạn? Văn, thơ lỗi thời là do thưởng ngoạn hay sáng tác? Người phu xe nên đi trước xe chở như trường hợp xe kéo? Hoặc nên đẩy sau xe như trường hợp xe xích-lô? Sáng tác luôn là kẻ phục vụ. Thưởng ngoạn luôn là người ngồi trước hay ngồi sau thích thú. Tôi nghĩ, câu trả lời tùy mỗi giai đoạn, mỗi địa dư, mỗi trường hợp, không có câu trả lời chung. Câu trả lời lần này bắt đầu từ mệnh đề: Hầu hết người Việt thưởng ngoạn hay sáng tác đều yêu thích nhạc tình. Trên thế giới cũng vậy. Đa số người nghe đón nhận, ủng hộ ca khúc tình yêu.
“Ngựa phi, ngựa phi đường xa Tiến trên đường cát trắng trắng xóa Tiến trên đường nắng chói chói lóa Trên đồng lúa theo cánh chim trời bay trên cao…” Đó là tiếng vó ngựa vang lên giữa khu phố Little Saigon vào một ngày giáp Tết Bính Ngọ tại quán Cà Phê Factory do ban nhạc NTM hợp ca bản “Ngựa Phi Đường Xa” của nhạc sĩ Lê Yên trong buổi chiều tất niên của Việt Báo và ra mắt sách “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” của nhà văn Phan Tấn Hải hôm 13 tháng 2 năm 2026.
Ca khúc “Nguyệt Cầm” của Cung Tiến là một hiệu quả đồng cảm với bài thơ “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu. Cả hai là sự đồng cảm với câu chuyện Bến Tầm Dương của nhà thơ Bạch Cư Dị. Chuyện Bến Tầm Dương nơi Bạch Cư Dị gặp gỡ một kỹ nữ cao niên. Ông nghe bà đàn hát kể lại thân phận trong cuộc sống nổi trôi. Đồng cảm “Cùng một lứa bên trời lận đận / Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau,” (1) qua lời kể với tiếng đàn dưới trăng, Bạch Cư Dị đã viết tác phẩm “Tỳ Bà Hành.” Một tuyệt tác của thi ca cổ điển Trung Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.