Hôm nay,  

Sống để yêu thương

14/01/202313:06:00(Xem: 4084)
Tùy bút

couple-in-love

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn người đến chốn lao xao.

("Nhàn" – Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Tìm một nơi vắng vẻ để sống cho chính mình không phải là khó. Ở đất Mỹ này, nơi nào cũng có tu viện, tu viện Phật Giáo, tu viện Công Giáo, nơi nào cũng thích hợp cho người tu thiền trong một thời gian ngắn. Hãy lên đường, lên đường đi ngay, đừng chần chờ. Nhớ ngày xưa khi ở Pháp, chiều thứ sáu tôi lên xe lửa đi, sáng hôm sau đến Luân Đôn, ở đó bằng hữu đón tôi về nhà, và sau đó đi thăm khắp nơi, những thắng cảnh nổi tiếng ở Luân Đôn. Khi học ở Canberra, thủ đô của Úc Châu, chiều thứ sáu lên xe lửa, 2 giờ sáng thứ bảy đến Sydney, bằng hữu đón về nhà, lên lầu ngủ một giấc tới sáng, ăn sáng xong lên đường đi tiếp, thăm viếng viện bảo tàng, những nơi có danh lam thắng cảnh đẹp nhất, đi và đi mãi không ngừng nghỉ.

 

Một cô bạn người Úc, xinh đẹp, học giỏi nhưng nhà nghèo, không có xe hơi, cô đứng ven đường xin người qua lại cho quá giang, và cô đi khắp nơi trên nước Úc bình yên vô sự. Sau đó, cô yêu một thanh niên lãng du, tốt nghiệp đại học, và họ tiếp tục đi lang thang như thế.

 

Đi đâu cũng được miễn là đi cùng nhau.

 

Có một mối tình rất đẹp, một thanh niên tốt nghiệp đại học nhưng thích bôn tẩu giang hồ, đi khắp nơi trên thế giới. Anh có vợ, có con, có gia đình ấm cúng nhưng thích đi. Mỗi năm về nhà với vợ con một thời gian ngắn rồi lên đường đi tiếp. Mãi mãi người nghệ sĩ này sống với thiên nhiên, với núi rừng nhiều hơn sống với gia đình. Một ngày kia, xe anh rớt trên 5 ngọn núi, bão táp mạnh, xe hơi của người trẻ này lao xuống chân núi. Vào những giây phút cuối cùng, khi hồi sinh, tình yêu trỗi dậy trong lòng, nghĩ đến chính mình, nghĩ đến gia đình mình và vợ con của mình, người trẻ này viết ngay hồi ký bằng một tay, cánh tay kia đã gãy, những dòng chữ ngoằn nghoèo, anh viết bằng máu của mình. Người trẻ ân hận vì mình yêu vợ yêu con, nhưng chưa bao giờ bày tỏ tình cảm với gia đình và người thân của mình. Buổi sáng hôm sau, khi trời trong mưa tạnh, kiếng xe chiếu lên trời, những người cứu người tìm được chiếc xe lật xuống núi thì chủ chiếc xe đã qua đời, để lại những dòng chữ thắm thiết đầy tình người trong mảnh giấy viết bằng máu và nước mắt.

 

Một nhà văn sau này viết lại câu chuyện trên làm xúc động hàng triệu trái tim. Truyện được dựng thành phim, nhân vật chính trong truyện đã qua đời nhưng người viết truyện nổi tiếng khắp thế giới. Chỉ trong vòng mấy tuần lễ, sách đã bán trên 40 triệu cuốn. Nhà văn trở thành triệu phú.

 

Yêu ai cứ nói là yêu, thì giờ không còn nữa, không ai bắt bỏ tù người này nói yêu người kia. Tình cảm chân thật từ trong trái tim, không nói dối. Đừng đợi giờ phút lâm chung, gần chết mới nói lên tình yêu của mình, hãy nói ngay bây giờ, đừng chờ đợi, thời gian không chờ đợi.

 

Hãy chọn một nơi yên tĩnh sống cho mình. Tôi không khuyên mọi người đi tu, vì đi tu cũng là cái duyên, có duyên mới đi tu được. Thế giới này bận rộn quá, bận rộn vì cơm áo gạo tiền. Đời sống khó khăn quá cho nên phải đi làm để có đời sống đầy đủ, sống tiện nghi về vật chất, nhà cao, cửa rộng, xe đẹp, có tiền đầu tư. Đời sống bình yên về vật chất nhưng về tinh thần thì sao? Mình có được bình yên về tinh thần hay không? Muốn được bình yên về tinh thần phải sống cho mình, ngồi một mình, suy nghĩ một mình, mình đã làm gì, việc mình làm có hữu ích cho chính mình, cho người xung quanh của mình, đời sống của mình có giúp gì được cho người khác?

 

Hạnh phúc hay đau khổ do mình chọn lựa? Giá trị của sự chọn lựa ngay từ đầu chứ không phải kết quả của sự chọn lựa? Hãy sống một mình, hãy suy nghĩ một mình, mỗi ngày dành cho bản thân một chút thời gian để tận hưởng thiên nhiên, đọc sách, nghe nhạc và thiền, v.v. Nhiều người làm việc một ngày 15 giờ, làm việc như người máy, làm việc trong lúc tập thể dục, làm việc trong lúc tập võ, làm việc trong lúc bơi lội, trong lúc ăn uống. Cuộc sống như thế có đáng sợ không?

 

Làm thương mại liên tục hơn 40 năm, thời gian rất dài cho một đời người. Những chuyến đi xa họp hội cho hội từ thiện quốc tế YMCA, Young Life ở Á Châu, Âu Châu, Nam Mỹ, Trung Mỹ. Sau khi họp hội xong, chúng tôi thăm viếng những nơi đẹp nhất của thế giới: Anh, Pháp, Đức, Hòa Lan, Phần Lan, Đan Mạch, Bỉ, Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển, Mã Lai, Nam Dương, Hồng Kông, Thái Lan, Cambodia, Lào, Costa Rica,  Brasillia, Jamaica, Mexico, v.v. Nơi nào chúng tôi đến cũng gặp nhiều người tốt, nhiều người làm việc xã hội, làm thiện nguyện rất tốt. Những đứa trẻ xa lạ, mồ côi, ốm nhom, chúng tôi bế các em trong tay, nhưng khi chúng tôi thả xuống thì các em cứ ôm cổ chúng tôi không muốn buông ra. Thì ra những đứa trẻ mồ côi cần tình thương hơn ai hết, hơi ấm của tình thương là sự sống của nhiều người.

 

Sống cho mình không có nghĩa là ăn ngon, mặc đẹp, đeo nữ trang đắt tiền, hột xoàn lóng lánh trên cổ, trên tay, v.v. mà sống cho mình là tìm sự yên tĩnh. Ở đây tu viện khắp nơi, tu viện ở rừng núi, tu viện ở sa mạc. Tôn giáo thành lập tu viện mở những khóa tu cho đồng hương đến để tu thiền. Tu viện ở rừng núi, tu viện ở gần biển. Biển ở đâu cũng rất đẹp, tiếng sóng biển thì thầm rất quyến rũ, rừng núi xanh mướt, chim hót líu lo như tiếng gọi mời mọi người lên đường.

 

Sống và đi, đi càng nhiều càng tốt, đi tĩnh tâm cũng tốt. Có lúc nào đó sống cho chính mình, mình sẽ tự hỏi: sống để làm gì? Sống có ích lợi cho ai không? Sống và chết gần nhau tít tắc, thấy đó rồi mất đó, mình có chuẩn bị đến lúc nào lên đường không? Sinh ra đời với hai bàn tay trắng, khi ra đi cũng thế, hành trang là những việc thiện hay ác mình đã làm, chỉ có thế.

 

Mở rộng tâm lòng thanh thản

An nhiên tự tại đời thong dong.

 

Sống mà thương yêu mọi người thì được mọi người thương yêu. Sống vui vẻ, sống và làm việc hết lòng với mọi người, sống vui, sống an lạc trong tâm hồn, sống bình yên trong tâm hồn, sống làm sao khi nằm xuống, giấc ngủ êm đềm sẽ đến, không lo âu, không nửa đêm thức giấc, sống như thế mới là đáng sống.

 

Sống để được yêu thương và sống để yêu thương mọi người. Ngoài cha mẹ, anh em, bà con, còn nhiều người cũng muốn được thương yêu như những người già trong viện dưỡng lão, trong bệnh viện, người chẳng may bị bệnh cùi, mù, những đứa trẻ tàn tật bẩm sinh bị cha mẹ đem bỏ trước cửa chùa, nhà thờ, v.v.

 

Chúc mừng năm mới Quý Mão an khang, thịnh vượng, vạn sự như ý.

 

Xin mọi người mở rộng trái tim của mình, xin chia sẻ những gì mình có cho người xung quanh. Hiện nay, ở Mỹ vấn đề người không nhà hiện diện khắp nơi. Người không nhà cũng có sĩ khí của họ, nhiều khi chúng tôi đi phát thực phẩm cho người không nhà ở công viên, ở các khu phố, khi họ ăn rồi, cho bánh mì họ không nhận, họ chỉ nhận sữa hoặc trái cây.

 

Sống cho người khác cũng chính là sống cho chính mình. Mình phải cảm ơn những người mình giúp đỡ, mình hạnh phúc khi được giúp đỡ người khác. Nếu bây giờ trên trái đất này, người nào cũng đủ cơm ăn áo mặc thì họ đâu cần đến mình. Không có người nào cô độc trên trái đất này, người nào cũng đầy đủ thì mình có giúp đỡ cơm, áo, cũng không có ai nhận.

 

Sống cho chính mình sẽ hạnh phúc, giúp đỡ người khác cũng là điều hạnh phúc.

 

Lúc nào chúng tôi cũng chúc mọi người hạnh phúc, hạnh phúc với chính mình, gia đình mình và hạnh phúc với mọi người xung quanh. Mùa Xuân là mùa của hạnh phúc, hy vọng, đem lại niềm vui, may mắn và tình thân cho mọi người, mọi gia đình.

 

– Kiều Mỹ Duyên

(Orange County, 1/2023)

LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.