Hôm nay,  

Năm hết Tết đến

14/01/202313:14:00(Xem: 3981)
Tùy bút

year_2023


Tháng mười hai ở xứ này cũng giống tháp chạp ở xứ mình, tháng này vào mùa lễ, mùa hưởng thụ, nghỉ ngơi, thăm viếng, sum họp… Mùa lễ bắt đầu từ lễ Tạ Ơn kéo dài cho đến tết tây, nhà cửa, phố xá trang hoàng đèn hoa rực rỡ. Người người tấp nập mua sắm, đi chơi. Nhà nhà sum họp, gặp mặt, tiệc tùng…

Thời gian lặng lẽ trôi qua không nhanh không chậm, không nghinh không tiễn, không cũ không mới, không phụ thuộc tâm lý chủ quan của con người. Con người nhìn thời gian bằng cái tâm vọng tưởng của mình nên mới có năm cùng tháng tận, năm hết tết đến. Thời gian vốn vô thủy vô chung, chẳng có xưa nay, càng không có năm tháng ngày giờ. Những khái niệm ấy là do con người chế ra chứ bản thân thời gian làm gì có. Chúng ta đến rồi đi, sanh tử luân hồi bất tận chứ thời gian vẫn vĩnh viễn vô biên tế. Chúng ta loay hoay lo cơm áo gạo tiền quanh năm suốt tháng để rồi một ngày nhìn lại thì than: “Thời gian qua nhanh quá, ta đã già, thời gian chẳng còn bao lâu nữa đâu”. Chúng ta mãi tranh nhau chỗ trú ngụ, miếng ăn thức uống, duy trì dòng giống để rồi một mai kia chỉ còn nhúm tro trong hũ cốt hay nắm đất dưới huyệt mộ tối đen. Chúng ta ra sức tận lực tranh đoạt mà bất chấp tất cả và kết cục như thế thì liệu có đáng chăng?

 

Nhiều người trong chúng ta vẫn thường than: Năm cùng tháng tận, năm hết tết đến… mà bao nhiêu việc chưa xong, hoặc là thời gian quá eo hẹp, mọi thứ còn dở dang. Thật sự thì thời gian chẳng có nhanh chậm, chẳng có gấp hưỡn, chẳng bắt đầu cũng chẳng kết thúc. Tất cả là do cái tâm của chúng ta sai xử. Chúng ta quá tham lam, quá ôm đồm đấy thôi! Chúng ta muốn mà không biết đủ, người thì mưu sự công cao cái thế, kẻ thì cầu danh vọng để đời hoặc lưu hậu thế, thấp hơn chút nữa là mưu sự giàu sang, tích lũy của cải, đất đai mà không bao giờ biết đủ, biết dừng, dồn hết công sức, tâm lực và thời gian để mưu cầu mà quên đi hạnh phúc chính phút giây hiện tiền tại nơi này. Nhà Phật gọi là “Hiện pháp lạc trú”.

 

Văn học phương tây có câu chuyện anh chàng tham lam muốn sở hữu thật nhiều đất đai, vị vua trị vì thông cảm và cho phép anh ta: “Từ bình minh cho đến khi trời tắt nắng, người chạy được đến đâu thì phần đất ấy sẽ thuộc về ngươi”, thế là anh chàng cắm đầu cắm cổ chạy, chạy quên cả uống nước ăn cơm, mệt cũng quên nghỉ để thở. Anh ta chạy từ bình minh cho đến giữa trưa và rồi đến tận xế chiều vẫn chưa chịu nghỉ. Anh ta cố chạy thêm nữa để tranh thủ thêm đất trước khi mặt trời lặn. Anh ta cố lê đôi chân rã rời, thân người rũ rượi để chạy thêm những bước cuối cùng trước khi mặt trời tắt nắng, cuối cùng anh ta gục ngã, thế là bao nhiêu đất đai, bao nhiêu công sức của anh ta hóa thành hư vô. Đất đai lại thuộc về đất đai, thời gian vẫn còn mãi đó, chỉ có anh chàng mê muội mà quên thân mình. Phần nhiều chúng ta cũng đều giống anh chàng mê này. Chúng ta quên thời gian vì tranh thủ tranh đoạt, chiếm lấy, sở hữu những thứ không thuộc về mình, duy cái hạnh phúc thực tại của mình thì lại bỏ quên.

Thời gian, ngươi là chủ tể thành tựu mọi thứ nhưng cũmg chính ngươi hủy diệt đi tất cả. Không có thứ gì có thể tồn tại mãi với thời gian. Cái ý niệm tồn tại vĩnh viễn, muôn đời, muôn năm là vọng tưởng của con người. Nhà Phật gọi thế gian này vô thường, mọi vật, mọi việc, mọi thứ thay đổi liên miên trong từng phút giây. Thời gian vô thủy vô chung, không đến không đi, không thêm không bớt, không ngắn không dài, không nhanh không chậm. Thế gian thì vô thường, tâm con người tràn đầy vọng tưởng. Bởi thế xưa nay bạo chúa tham lam cứ gây chiến để chiếm đất lập đế quốc, tàn sát để cướp của cướp đất, xây lăng mộ to lớn để dòng họ trường trị muôn năm, nhưng rồi thời gian bào mòn đi tất cả, “Quốc phá sơn hà tại” – Thơ Đường. Những đế quốc xưa giờ chỉ còn cái danh từ trong sách vở, lăng mộ bị trộm mộ đào, chính phủ đời sau khai quật. Thời cổ đại, trung đại việc gây chiến chiếm đất lập đế quốc còn có thể hiểu được. Thời đại hôm nay khoa học kỹ nghệ cao độ, đất đai không còn là vấn đề thiết yếu của sự hùng mạnh. Ấy vậy mà bạo chúa Putin sống trong hoang tưởng gây chiến tranh để chiếm đất lập đế quốc. Cuộc chiến tàn bạo và dã man đã tàn phá đất nước Ukraine, tàn sát người dân Ukrainian. Để trả thù sự kháng cự ngoan cường của họ, y hạ lệnh công kích không chừa mục tiêu nào, dù đó là nhà thờ, nhà trường, nhà thương, nhà đèn, nhà trẻ, nhà bảo tàng, shopping, cầu cống, đường xá… Tội ác của y ngập trời, bàn tay y đẫm máu đỏ, cái màu tiêu biểu của những lá cờ Cộng Sản. Đế quốc Nga không thể tái lập được, dã tâm và mộng tưởng của y không thành, thời gian đang trôi qua nhưng tội ác của y sẽ còn với tháng năm. Loài người còn thì ngôn từ văn tự còn ghi chép tội ác của y, kể cả tội ác của những kẻ hùa theo y.

 

Bên tây thế, bên đông còn tệ hơn. Tập xếnh xáng cũng hoang tưởng muốn khôi phục đế quốc Hán, muốn làm Hồng Tập đế. Y hung hãn hiếu chiến chiếm lấy biển đông của các nước Đông Nam Á, lân đất biên giới của các nước xung quanh. Y dùng chính sách cho vay để gài những chính phủ tham nhũng, sau đó buộc họ phải lập nhượng địa, giao không cảng biển, phi trường, hầm mỏ... Y đề ra “Nhất Đới Nhất Lộ” hòng thống trị cả thế giới. Tiếc là y không nhìn lại Hán đế, Đường đế, Tống đế, Minh đế… giờ ở nơi nào? Y cũng quên rằng chính chủ nghĩa cộng sản đã hủy diệt tất cả di sản văn vật của những triều đại ấy, giờ y lại muốn tái lập. Lòng tham, sự tàn độc của y quả thật cũng vô cùng tận như dòng thời gian.

 

Năm hết tết đến là cách nói của dân gian, là tâm lý huyễn mộng của chúng ta, làm gì có hết hay cùng! Hôm qua còn có hôm qua nữa, ngày mai còn có ngày mai nữa, quá khứ vô thủy vị lai vô chung kia mà!  Chẳng còn chẳng hết, chẳng đến chẳng đi, chẳng thừa chẳng thiếu… Các nhà văn, các nhà khoa học đưa ra thuyết đường hầm ánh sáng, xuyên không... nghĩa là con người có thể trở về quá khứ vô cùng tận hoặc đến tương lai vô giới hạn chỉ trong nháy mắt. Điều này rất gần với quan điểm Phật giáo là thời gian và không gian không thật, đó chỉ là từ một niệm tâm:

 

Thập phương hư không bất ly đương xứ

Cổ kim tam thế bất ly đương niệm.

 

Nghĩa là mười phương trời đất vô biên không rời một điểm hiện tại, quá khứ và tương lai vô cùng tận cũng không rời một ý niệm ngay hiện tiền. Thiền môn có câu chuyện kể rằng: Có người nằm mộng thấy mình chu du khắp Ta Bà thế giới, lên cõi thiên đường, xuống cả địa ngục. Đi về quá khứ gặp hết tổ tiên xa xưa, đến tương lại gặp vô số con cháu sau này, nhưng khi mở mắt ra thì thấy lưng mình không rời chiếu một ly, thời gian nằm mơ chỉ trong chốc lát. Thì ra cả thời gian và không gian không ngoài một niệm tâm. Cả mười phương lẫn ba thời đều do một niệm tâm biến hiện ra.

 

Nho gia bên Tàu cũng có câu chuyện “Giấc mộng hoàng kê” ý nghĩa cũng gần như thế. Chuyện kể anh học trò nghèo từ quê lên tỉnh đi thi, trên đường đi ghé vào quán trọ và nấu một nồi kê. Trong lúc chờ kê chín anh ta ngủ thiếp đi, trong giấc mơ thấy mình đậu trạng nguyên, cưới công chúa, làm quan to, công cao cái thế lẫy lừng. Thế rồi bị nịnh thần xàm tấu dèm pha nên bị biếm truất, suốt mấy chục năm trường lên voi xuống chó như thế, khi anh ta giật mình thức giấc thì nồi cháo kê còn đương sôi chưa chín. Rõ ràng thời gian và không gian không rời một điểm và giây phút hiện tại, một ý niệm sanh ra cả thời và không.

 

Sự thật là thế, chơn đế là vậy, cái nhìn như thị (look as is). Tiếc rằng chúng ta không thể hoặc chưa đủ sức để nhìn mọi sự như chúng là, Chúng ta vẫn nói và vẫn nhìn thấy năm cùng tháng tận, năm hết tết đến, đời mà!

 

Tháng mười hai tây hay tháng chạp ta, tết tây hay tết ta đều đang trên đường đến. Mọi người rộn ràng và hân hoan chờ đợi. Người Việt xứ này được (hay bị) ăn hai cái tết luôn. Tết tây bên này xong còn phải có chút gì cho gia đình mình ở quê ăn tết ta, chỉ có những người may mắn cả gia đình sum họp ở hải ngoại thì mới không còn bận chuyện tết ta.

Năm hết tết đến, công việc hãng xưởng cũng gấp rút, chợ búa shopping tấp nập người mua sắm, đường xá xe cộ ngược xuôi. Thời gian không gian dẫu không thật nhưng chúng ta cũng đang tận hưởng những phút giây hạnh phút hiện tại ở nơi này, chính tại phút giây này.

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 1/2023)

Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.