Hôm nay,  

Thơ Trần Hạ Vi

14/01/202316:25:00(Xem: 3558)
đêm
Tranh Đinh Trường Chinh.



CÂU CHUYỆN CỦA NÀNG

Nàng đóng một chiếc đinh vào tường
Treo bức tranh vô hình tưởng tượng
Như pin một bài viết facebook
Trên dòng thời gian

Nàng muốn anh là của nàng
Dẫu chỉ trong phạm vi một câu chuyện
Có thể yêu anh nửa cuộc đời
Đem hạnh phúc của mình
đánh đổi một cuộc chơi

Nếu Annie Ernaux có thể viết những câu chuyện đời mình
Giọng văn khô khan sắc lạnh
Và được giải Nobel văn chương
Thì tại sao nàng không được quyền
Viết câu chuyện của anh và nàng
Tất nhiên
Theo cách nàng tưởng tượng

Đừng cười nàng quan tâm những điều nhỏ nhặt
Nàng là đàn bà
Và điều nàng quan tâm nhất
Là anh

Câu chuyện của nàng bình thường
Không có quan điểm về xã hội hay bình đẳng giới
Chỉ có tình yêu tình yêu
Và những vật vã
Mà có lẽ ngày xưa Van Gogh cũng đã đi qua

Câu chuyện của nàng không phổ biến
Câu chuyện của nàng không cần nhiều người quan tâm
Chỉ mình nàng, là đủ

Nàng không còn khát vọng gần anh
Không còn khát vọng cháy cùng anh
Không còn khát vọng yêu anh

Hôm nay mặt trăng gần tròn rằm
Tháng mười Halloween xuống lên bất ổn
Nếu Annie Ernaux có thể viết câu chuyện đời mình
Tại sao nàng không thể bắt đầu bằng…
Ngày ấy em yêu anh…

*

 

TRONG NGÀY KHỦNG KHIẾP CỦA NƯỚC MỸ

trong ngày khủng khiếp của nước Mỹ
nỗi ám ảnh ba trăm triệu dân
và toàn thế giới
không có cặp tình nhân nắm tay nhau từ tòa tháp đôi nhảy xuống
như trong tưởng tượng của anh

có một người chạy xồng xộc vào đời em
rồi nhẹ nhàng yêu thương trìu mến
gói gọn va li hành lý cuối cùng
buộc một chiếc nơ xinh đẹp màu xanh
cho em vĩnh viễn rời xa anh

em ký khế ước bàn giao


con tàu hoang đàng anh làm thuyền trưởng
cỏ hoa sắc màu nhiều tưởng tượng
metaverse
thị trường tình mã hóa
polyamorous
không có đúng không có sai

câu chuyện tiểu thuyết ngôn tình bi hài
anh vẫn giữ vai chính
em từ từ lui về phía sau
phía sau
và mất hút

anh vẫn mải mê nói cười
những vai diễn thứ tự trồi lên
hiện ra
và biến mất
lại hiện ra
và biến mất

Picasso nguồn năng lượng khủng khiếp
vợ và người yêu thảy đều tự tử hoặc điên
không bước qua được ám ảnh lời nguyền
lỡ được yêu bởi một vì tinh tú

có lẽ như em
cô ấy rồi sẽ rơi vào mối tình không lối thoát
làn gió nhẹ khiết thanh
nuôi anh dưỡng anh dành cho anh
em ký khế ước bàn giao
không hối tiếc

ngày khủng khiếp của nước Mỹ
một chuyện gì khủng khiếp sẽ xảy ra
lần đầu em mới biết
lần đầu em mới hiểu
nếu thật yêu
thì phải biết buông tay

cặp tình nhân trên tòa tháp đôi nước Mỹ
ngày 11 tháng 9
phút cuối cùng
tự nguyện rời tay nhau

*

NỖI NHỚ MÙA ĐÔNG

 

Em nhớ anh mùa đông

Trời lạnh lắm

Có thể ôm em vào lòng không

Có thể hôn em không

 

Người ta bảo mùa đông

Là mùa của tình nhân

Là mùa thú rừng chui vào hang trốn tuyết

Gấu mút tay quên đói

Anh có mút tay không

 

Nếu muốn sưởi ấm

Anh hãy nhét em vào túi áo

Ngực phải

Nhét thêm một que diêm

Nhưng đừng đậy nắp

 

Em sẽ xoa đầu anh

Chúng ta ngồi

mút tay

cùng


*


NĂM MỚI

 

Mùa sang

Năm mới đến nâng vần thơ cũ

Dịu dàng đỡ thanh tân

 

Mầm nảy lộc từ trong chồi đắng

Đau khổ bừng sáng những đóa hoa

Một ngày giông bão chưa xa

Chở thiên niên kỷ vào quá vãng

 

Riêng ta với ta

Mùa xuân cười xán lạn

Nụ tầm xuân hây hẩy

Gió tung trời

ôm một cội mai

 

-- Trần Hạ Vi

LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.