Hôm nay,  

Trang thơ tháng Giêng

29/01/202315:01:00(Xem: 3568)
Anastasiya Markovich-Butterfly Effect (2008)
Hiệu Ứng Bướm -- Tranh Anastasiya Markovich.



QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

 

déjà vu #3  

 

nỗi nhớ lậm vào xương

       ngấm vào tim

       in vào óc

 

nỗi nhớ lãng đãng

       mịt mù

       rơi giữa dòng ngày đêm  

 

nỗi nhớ quạnh quẽ không định hình

       không cột mốc không gian

       không cột mốc thời gian

       trôi dạt trên dòng vô thức

 

ngày đầu năm bất chợt kích hoạt vòng xoay ảo giác

trong bóng hải đăng xiêu đổ

chập chờn trên âm vọng sóng vỗ bên thềm lục địa

lơ lửng giữa tiếng kêu thất thanh của loài chim biển

 

có ai cảm nhận hiệu ứng bướm bên kia / bên này trái đất?

có ai biết?   có ai hay? 

hay chỉ là những mảnh những mảng đơn điệu

phút chốc rồi sẽ chìm lắng trong thế giới hỗn mang.

 

 

déjà vu #0  

 

hoa hậu không tuổi ngủ gục bên bàn phấn

ngày quẩn trí chập chờn cắt lát

đêm mạch nha co kéo lê thê

thị giác dần trôi về phía mười sáu độ fahrenheit đông đặc

 

tôi đau quặn ruột nhớp nháp mồ hôi nằm co ro

nhừ tử ngộ độc món menudo thời sự

dàn trải trong phòng trưng bày hàng mẫu chực chờ năm mới  ̶ ̶ ̶ 

trên ăn dưới nằm đẩy đưa bộ dạng mèo hoang  

xin đất trời chứng giám lòng thành bạt mạng

 

hoa hậu không tuổi tỉnh giấc khi trời hừng sáng

bên bàn phấn giấc mơ nấu nhừ chuỗi dài ảo giác  ̶ ̶ ̶ 

người về trong mây thổi gió phù trầm

người về trên vòm cây rung lá ngập sân

người về bàng hoàng sau cuộc ly tan

người về ngơ ngác giữa chốn hỗn mang

ôm nạng gỗ người bưng mặt khóc

 

cuối chân trời một màu cà phê đậm đặc

những giọt nước mắt chưa kịp thẩm thấu

đã phải lau khô bằng giẻ rách thời gian  ̶ ̶ ̶ 

đống giẻ rách chết ngạt tanh nồng mùi máu

 

một ngày đi tìm hôm qua trên xa lộ quên tên

hít thở mùi đất đá lan theo cơn mưa không vội  ̶ ̶ ̶ 

cơn mưa cuối năm bay nghiêng thổi xuyên tâm thức

tâm tư nhẩn nha tắm gội từng vòng xinh xinh.

 

– Quảng Tánh Trần Cầm

 

*

 

THY AN

 

Run nét mùa xuân

 

nghiêng dài bóng đổ bên hiên viễn xứ

men theo mê lộ về lại trầm luân

đưa tay phủi bụi rơi nhẹ hồng trần

phân vân ái ngại câu thơ run nét

 

tường rêu ẩm mốc con chim lông đẹp

hót tiếng phù du ca ngợi thiên thu

sớm mai vuốt tóc thấm giọt sương mù

lá hoa tỉnh mộng mùa xuân ru ngủ

 

khói hương trôi nhẹ phất phơ đầu cỏ

gõ tiếng thinh không lung lạc đường mây

hạnh phúc mong manh trầm tích vơi đầy

nghe vai áo mỏng qua cầu bỗng lạnh

 

hãy quay trở lại về nơi đâu đó  

cánh đồng yêu thương rơm rạ phù sa

vẽ lên thi ảnh tròn cong nỗi nhớ

cổ xứ reo vui lặng lẽ sơn hà

 

– thy an

 

*

 

TRẦN HẠ VI

 

Câu chuyện dòng sông trắng

Người thiếu nữ chiếc áo chớm thu
Đưa tay ngắt chờ mong giữa dòng sông trắng
Đêm giết dần ngày
bằng chiếc gai tứa máu thời gian

Đàn kiến gặm mòn mụn cưa tiềm thức
Mặt trời cắn nuốt màu chiều
Gió trỗi khúc hoang đàng
vạn chuỗi sao sa

Sông uống từng ngụm tối
Vầng trăng giãy giụa
Chùm chờ mong khơi vơi
Mái tóc buông lơi

Con cú mèo hát bài ca tiễn buổi chiều ám khói
Sâu rút từng chiếc xương sườn lá nõn
Hạt sương rấm rứt suốt đêm đợi nắng

Bên dòng sông trắng cái chết hạ sinh!


Tình yêu lựu đạn

Các nàng thơ yêu anh
âm thầm hoạt động trong bóng tối
thật ra cũng chẳng phải lừa dối
chỉ vì là chuyện cá nhân
tế nhị mà thôi

ừ thì ai cũng có gia đình
thêm một chút cảm tình
ngoài chồng ngoài vợ

Em với anh chắc hẳn có duyên không đủ nợ
gắn bó nhau hơn người dưng
anh bảo gắn kết đến khôn cùng
đến cuối đời
đời ai thì không biết
nhưng anh không dám gặp mặt
không dám ôm hôn

Em trải qua ba năm yêu anh chân thật
bây giờ coi anh như chồng
như bạn thân
như tâm giao
như tay chân hay quần áo

Em không viết được những bài thơ cao siêu
cái nhìn em hẹp
quan tâm ép dẹp
bốn năm đọc chủ yếu có một người
mà đọc hoài không hết
biết làm sao
biết làm sao

Em đưa anh tiệm cận vùng ánh sáng
tại sao
tại sao
Nguyễn Thị Túy Hồng dám viết câu chuyện Võ Phiến
thì tại sao em không dám viết
tên anh
...
à thì mà là
thôi em để cho anh giữ mặt mũi sĩ diện
chút chút thôi
anh đừng mếu cười đi mà
em thương

con sóng nhỏ lòng tình đại dương
người người ngược xuôi tất bật
người ta đã dẹp phà từ lâu
giờ là cầu Mỹ Thuận
em bắc cây cầu lân tinh dài mấy ngàn cây số
anh vẫn còn hoài trong tâm trí

em bảo bỏ anh đi yêu người khác
nhưng anh cứ ngồi lì
giữ em bằng ý nghĩ
níu kéo
lân la

em giờ cũng ngồi lì
viết những bài thơ như văn cắt đoạn
bắc cầu
xuống dòng
rồi cũng sẽ lì lì
đưa anh ra vùng ánh sáng

tình yêu làm sao che giấu
tình yêu làm sao phải che giấu
nếu hết yêu rồi
lại chẳng cần giấu che

ai bảo anh
yêu làm chi cái đứa hay nói
lựu đạn
bất cần
như em...

bom hẹn giờ
khi nào sẽ nổ...


Biến cố

 

Người đàn bà

gục đầu vào vai người đàn ông

mà khóc

 

Người đàn ông xoa đầu an ủi

Hình như em yêu anh hơn

Lúc chúng ta vừa mới cưới

10 năm

 

Cô gái như em

Độc lập đến không thể độc lập hơn

Phụ thuộc đến không thể phụ thuộc hơn

 

Em cũng có vài tật xấu

Người đàn bà cười trong nước mắt

 

Nhưng em yêu anh hơn

Sau khi em bị ung thư!

 

– Trần Hạ Vi

LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.