Hôm nay,  

Buổi chiều cuối Tháng Tư

29/04/202314:45:00(Xem: 3852)
Tùy bút

altar

 


Mẹ tôi, con gái quê Sơn Tây, sống cùng thời với thi sĩ Quang Dũng, nổi tiếng với bài thơ “Đôi Mắt Người Sơn Tây”. Mẹ đi lấy chồng, gia tài vỏn vẹn một con lợn nái. Mẹ kể mỗi khi ăn no, nó lại nằm ịch ngay giữa nhà, ụt ịt chờ mẹ xoa bụng. Bà ngoại mua để mẹ nuôi, lớn lên bán được số tiền to làm vốn xem như của hồi môn lúc ra riêng.
     Năm 54, bố mẹ tôi dắt các con vào Nam, bà ở lại quê vì tuổi già sức yếu, vì mồ mả tổ tiên, vì liên tưởng chỉ tạm xa nhau vài tháng hoặc một năm rồi sẽ sum họp sau chiến tranh. Mẹ ra đi nước mắt lưng tròng, để lại tiền bạc, nhà cửa, vườn rau ao cá cho người cháu ruột với nhiệm vụ săn sóc bà.
     Ở Sài Gòn mỗi năm mỗi vắng tin, mỗi ngày một cách xa. Thời gian giúp chúng ta quên quá khứ nhưng hình ảnh và hoài mong vẫn nằm sâu trong tàng thức. Sau 20 năm, bố mẹ tôi vẫn chưa học được bài học cũ: người ở kẻ đi trong loạn lạc là nghìn trùng xa cách, là lá bài sẵn phần thua, là mãi mãi chia ly!
     Thế rồi một ngày cuối tháng Tư năm 75, đất nước như ong vỡ tổ, gia đình tôi sống lại câu truyện tiền kiếp Âu Cơ-Lạc Long Quân. Bố ở lại thành phố với gia đình hai chị, mẹ tôi theo hai con trai di tản sang Mỹ. Cũng may đời người là hình ảnh hai mặt một vấn đề, đau khổ đến trước thì hạnh phúc đến sau do đó may mắn chỉ vài năm, gia đình chúng tôi được đoàn tụ. Quây quần tại Nam Cali, sống cuộc đời mới tuy hoàn cảnh đã khác xưa. Lìa xa quê hương, thương nhớ vẫn hoài nhớ thương, nỗi lòng mẹ mong chờ gặp lại bà biến thành vọng tưởng, thế nhưng hy vọng luôn luôn là động lực chính giúp con người sống còn! Những năm đầu trên đất Mỹ, hy vọng lẫn cả kỳ vọng. Kỳ vọng vào một biến cố có con tầu mang mẹ trở về Sơn Tây nơi chôn nhau cắt rốn còn in đậm hình ảnh mẹ già hay Sài Gòn nơi quê nhà một thời gia đình lễ nghĩa đùm bọc... Những ngày xưa thân ái!
     Buổi chiều, giờ phút chia tay giữa ngày và đêm xưa nay vẫn tạo trong lòng người sự nhớ nhung, tiếc nuối. Chiều tha hương thường man mác buồn, một nỗi buồn xa vắng không tên nhất là những chiều ở Cali. Ký ức tôi nhớ mãi một buổi chiều hơn 40 năm trước mà tưởng như mới hôm qua. Trong căn phòng nhỏ ở thành phố Santa Ana, mẹ tôi mặc áo tràng ngồi đối diện với góc tường gần cửa sổ, có lẽ mẹ muốn để tâm hướng về phương Đông. Buổi chiều hắt nắng vàng trên tóc mẹ. Chiếc lưng cong chứa đựng tất cả muộn phiền khuỵu xuống trên đôi chân xếp gọn. Mẹ tôi ê a gõ mõ cầu kinh, đôi lúc thỉnh một tiếng chuông dài vang trong không gian tựa như tiếng nấc của một nỗi lòng. Tôi đứng phía sau, chưa rõ vì sao mẹ tụng kinh vào buổi chiều, tuy không thấy khuôn mặt mẹ nhưng cảm nhận đau thương tràn ngập qua giọng đọc ê a. Mùi nhang khói linh thiêng tạo mầu nhiệm cho phép lạ của âm dương. Xúc động, tôi ngồi xếp hàng sau lưng mẹ, mắt nhắm để tâm niệm vào kinh dù chẳng hiểu một chữ nào. Bỗng chốc thinh không lặng yên, mẹ tôi ngừng đọc, đưa tay lên chùi mặt, quẹt mũi, hít thở một hơi dài. Tôi biết mẹ đang khóc! Buổi chiều đã buồn lại càng buồn thêm mà có lẽ văn chương nào cũng không sao tả hết.
Chiều dần trôi, một ngày sắp qua đi. Khuôn mặt phờ phạc, hai mắt đỏ hoe, mẹ kể vừa nhận lá thư Sơn Tây kèm theo hình ảnh báo tin mộ bà đã xanh cỏ nhiều năm rồi. Đứa cháu bất lương vơ vét của cải bỏ bà một mình. Thân già cô quạnh, nhớ thương con cháu, khóc hết nước mắt vì mòn mỏi chờ mong ngày tái ngộ mà thành mù lòa. Mẹ nói vĩnh biệt cuộc đời và người thân trong hoàn cảnh ấy sẽ khó siêu thoát nên mẹ tụng kinh cầu an cho bà.
     Mười năm sau, một ngày cuối tháng Tư mẹ tôi ra đi theo bà. Lòng xe thắt, tôi đã viết trong bài “Giữa Buổi Chợ Chiều”: Trời tháng Tư, nắng vàng còn lung linh trong nghĩa trang Loma Vista, một nỗi buồn xâm chiếm hồn tôi, duy nhất và mãnh liệt như chưa bao giờ kinh hoàng như thế! Nước mắt rơi vô định tựa máu tuôn ra ngoài. Trái tim vùi dập, co thắt bất thường của người con biết mình đã mất mẹ từ đây. Qua bao thăng trầm của cuộc sống, vết thương lòng vẫn còn và tôi cũng chưa gặp một nỗi buồn nào lớn hơn... Mẹ đi rồi, chiều hôm bên bếp lửa, hương khói gia đình nhạt nhòa theo thời gian. Hình ảnh sum họp mất đi nhiều ý nghĩa. Anh chị em tôi tự do bay bổng như đã dứt khoát cắt lìa cuống rún mẹ, người đi xa hay ở gần đều hoang vắng chẳng mấy ai còn nhớ dư âm ngày xưa thân thiết nên ít khi quay đầu nhìn lại...
     Vợ chồng tôi viếng mộ chiều nay với chậu cúc vàng. Mẹ đến rồi đi cuối tháng Tư, chưa một lần về thăm lại Sơn Tây. Tháng Tư chan chứa nỗi buồn, có cái buồn chung và cả buồn riêng.
Để lòng tĩnh lặng theo khói nhang, tôi hiểu rằng bố mẹ và bà tôi chưa bao giờ chết! Tâm vẫn hiện hữu, bay cao hay bay xa tùy vào nghiệp duyên. Thịt nát xương tan trong lòng đất chỉ là chiếc áo khoác thân biểu tượng. Mẹ ở trong con và con ở trong mẹ từ nguyên thủy, tuy hai mà một. Sau bao năm sống gần mẹ, vô minh do “cái tôi” u mê, tôi chưa một lần can đảm thổ lộ “ Mẹ ơi! Mẹ có biết con thương mẹ không?” Đó là điều duy nhất tôi tiếc nuối tuy nhiên thời gian với không gian tương tức, tôi tin mẹ vẫn nghe và hiểu lời tôi tỏ tình vào buổi chiều 28 tháng Tư, ngày giỗ mẹ.

 

– Cao Đắc Vinh

(28/4/ 2023)

 

Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Phế tích của ảo ảnh, nhan đề một tập thơ của nhà thơ Trịnh Y Thư, do Nhà xuất bản Văn Học Press ấn hành năm 2017 tại Hoa Kỳ. Một nhan đề chất chứa không biết mấy lớp không gian và thời gian, không biết mấy thức của cảm xúc; nó như một sợi chỉ mà khi kéo ra chỉ thấy vô tận. Điều gì làm hoang mang và quyến rũ tôi đến vậy? Chữ “Phế tích” tác giả dùng cho “Ảo ảnh” khiến cảm xúc cuốn theo chiều hút của vực thẳm, trong đó nỗi hoài niệm treo lơ lửng trên dốc thời gian, lịch sử và thân phận, như một thách thức...
Chiều thứ Bảy 23 tháng 8 sắp tới đây, chúng ta sẽ được xem màn trình diễn Hợp Xướng "Chinh Phụ Ngâm" lần đầu tiên ở Hoa Kỳ. Nhà hát Rose Center Theater chuyên dùng cho các buổi hoà nhạc hay nhạc kịch ở Quận Cam sẽ là nơi vở hợp xướng trang trọng này được diễn ra. Cùng với màn hợp xướng, Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng sẽ giới thiệu Chương Trình Ca Vũ Nhạc Kỷ Niệm 50 năm viễn xứ "Cánh cò xa xứ" tại đây. Rất phấn khởi với tin tức này, tôi lại có cơ duyên quen biết và tiếp xúc với Nhạc Sĩ Vũ Đình Ân, tôi tìm gặp ông để tìm hiểu thêm về vở hợp xướng "Chinh Phụ Ngâm".
TÔI LÀ AI? Dường như mãi mãi là một câu hỏi cho cuộc sống của con người tại thế. Và câu trả lời của nó, hẳn nhiên, không thể và không chỉ là một cụm từ, cho dù có thể sâu xa đến đâu. Phùng Thanh Hà, một phụ nữ tôi quen biết, tuy cùng ở một thành phố nhưng phải đánh một vòng đến Thuỵ Sĩ, qua một người bạn (đạo diễn Síu Phạm), tôi mới gặp được cô ấy. Tôi kể điều này để muốn nói rằng, tương ngộ là tuỳ duyên, không chỉ trong các mối quan hệ mà còn là những vấn đề liên quan, những cơ sự sắc tướng hoặc vô sắc tướng nơi mỗi cá nhân.
Độc giả Việt Báo hẳn đã quen với Bùi Chát – nhà thơ – qua nhiều thi phẩm đặc sắc từng đăng tải trên trang báo này suốt bao năm qua. Tuần rồi, Việt Báo vừa giới thiệu tập thơ mới Chúng Ta Đang Trôi Đi Đâu với bài viết của Nguyễn Đức Tùng. Hôm nay, mời bạn đọc gặp lại một Bùi Chát - người họa sĩ. Anh đang có cuộc triển lãm tranh mang tên “đang trôi” khai mạc từ hôm nay và kéo dài đến hết ngày 24 tháng 7, tại Sài Gòn – một dịp hiếm quý dành cho các độc giả Việt Báo hiện đang có mặt tại Tân Định.
Nay ăn nhờ ở đậu nơi đất nước người, lấy chi mà “những điều trông thấy” kiểu như ngày xưa ấy. Nhưng thấy ý kiến của “bà hàng xóm” là một giải pháp khả dĩ, tôi nghĩ phải làm sao cho ra một bài viết vui vui thích hợp với xã hội đang sống. Trăn trở mãi rồi cũng eureka. Tôi đặt cái khung cho những bài mà tôi gọi là “phiếm”. Thứ nhất, đề tài bám vào những chuyện thời sự, nhất là những chuyện có liên quan nhiều tới cộng đồng người Việt sinh sống rải rác khắp nơi trên thế giới. Thứ hai, phải viết với lối văn vui vui, tếu tếu nhưng vẫn giữ chừng mực. Thứ ba, phải có hơi hướm văn chương bằng cách dùng những giai thoại hoặc/và những chuyện thực nhưng vui khi tiếp xúc với các bạn văn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.