Hôm nay,  

Cùng Tử

09/05/202318:41:00(Xem: 6069)
Truyện

lonely monk

Quá nửa đời người rong ruổi giữa dòng đời, một ngày kia y soi kiếng chợt nhận thấy những sợi tóc bạc xuất hiện lẫn lộn trong mớ tóc đen. Y giật mình lẩm bẩm: “Rồi, sứ giả của quỷ vô thường đã gởi tin nhắn”. Y nhổ bỏ những sợi tóc bạc ấy đi vì không muốn những người bạn làm chung chế giễu, tiếc thay chỉ vài tuần sau thì những sợi tóc bạc khác lại xuất hiện, thế này thì đã đến lúc rồi, nhổ hay không nhổ cũng thế thôi. Cái thân bất tịnh mấy mươi năm nay thiện ác lẫn lộn, sự vô thường can thiệp tận từng sát na nhưng không để ý, không nhận thấy; giờ thì nó phô bày rõ bản lai diện mục rồi. Vô thường thì không có ai có thể biết nó đến lúc nào, có thể vài mươi năm nữa, có thể năm sau, thậm chí tháng sau hoặc ngày mai… Vì nó là vô thường nên nó cũng không thể biết khi nào đến hoặc đi. Chỉ có những bậc giác ngộ như Phật hay Arahanta thì mới tường tận được.
     Ngày trước, khi học phật đọc thiền sử tòng lâm y từng mê mẩn tậm thần, từng có một giấc mơ đẹp hơn cả chuyện cổ tích. Y hâm mộ vô cùng chuyện các thiền sư: Nào là Bồ Đề Đạt Ma cửu niên diện bích, thiền sư Nghĩa Huyền đấm Bách Trượng, Lâm Tế với chiêu đả cẩu hát bổng, Thiền sư Hoài Hải xem trăng, thiền sư Thạch Đầu đối đáp, thiền sư Shoju đốt cẩm nang thiền của chư tổ, thiền sư Gasan quát sư phụ, thiền sư Ryuokan xin lỗi tên trộm vì không làm sao cho y mặt trăng… hành trạng các vị như thể “khùng điên”, ngôn các ngài như thô tháo vô nghĩa. Người sơ cơ, kẻ vô duyên thì chẳng thể nào hiểu hay ngộ được, tất nhiên y cũng chẳng hiểu gì nhưng lòng yêu thích không sao tả được. Y cũng từng nuôi mộng xuất gia tu học, muốn nhập tòng lâm làm đệ tử các ngài, cái không khí thiền lâm thạch thất sơn đầu sao mà như thật như mơ.
     Y đọc qua kinh Lăng Nghiêm cũng thích lắm, nhất là những mẩu chuyện làm chứng cứ mang đậm dấu ấn và văn hóa Trung Hoa. Rồi đọc kinh Pháp Hoa, thấy những hình ảnh: Dược thảo, tháp Đa Bảo bay lên hư không...lòng liên tưởng đến những chuyện hoạt kê trong Tây Du Ký, nhưng thích nhất vẫn là hình ảnh tay cùng tử con ông trưởng giả. Y liên tưởng và thấy mình cũng giống ở chỗ hèn kém và bạc nhược. Y nghĩ y cũng như hầu hết mọi người trên thế gian này đều là những tay cùng tử cả. Chỉ có những vị cắt ái từ thân ly gia đoạn dục mới là những gã cùng tử đã quay về nhà và đã nhận ra hạt châu giấu trong chéo áo, dám nhận gia tài của ông trưởng giả trao cho. Y biết mình hèn kém, ngu muội, bạc nhược chưa dám quay về chứ đừng nói chi đến chuyện dám nhận gia tài.
     Thời gian qua mau, những năm sau y lại nghe pháp của ngài Ajahn Chan, Ajahn Brahm, sư Toại Khoanh, Giới Đức...Những lời pháp, bài pháp gần với Phật giáo sơ kỳ, rất thực tế, rất sâu sát và sắc bén. Những bài pháp ấy giúp y tỉnh mộng và biết mình nên làm gì.
     Thuở còn mơ mộng xuất gia, y cứ như người ngủ giữa ban ngày, tưởng tượng ra đủ thứ, lòng đinh ninh: Mình sẽ giữ giới, sẽ tinh tấn, sẽ trở nên sống phạm hạnh, sẽ ra tay chấn tác thanh quy, dựng lại những gì hư hỏng, thanh tẩy thiền môn, sẽ trục hết những kẻ “mượn đạo tạo đời”… Bởi vì y thấy Phật môn bây giờ nặng về hình thức, phô trương màu sắc mà không có thực chất. Khắp nơi đua  nhau xây chùa lớn, dựng tượng to, đúc chuông bự mà chẳng chịu xây người dựng đức. Nơi nơi chấp tướng mà biến hoại sự hành, xem nhẹ giới luật. Rất nhiều vị xuất gia mà lại đua chen với đời, tranh danh văn lợi dưỡng. Gã cùng tử ôm giấc mộng cuồng ngu cao vọng.
     Ngày nay y thấy chùa to Phật lớn khắp nơi nhưng chỉ để bán vé tham quan, phục vụ du lịch tâm linh. Người ta đến chụp hình quay clip tự sướng để đăng lên mạng xã hội. Có rất nhiều người đi chùa nhưng chẳng biết Phật dạy gì, nói gì… Họ đến chùa đốt một nắm nhang to tướng, vái búa xua, nhét vài đồng vào thùng phước sương rồi xin xem, bói quẻ, cầu lộc cầu tài...Thật đáng buồn thay, thât đúng là cả một bọn cùng tử, ai cũng có viên minh châu trong chéo áo nhưng chẳng biết, lại đi cầu những thứ vặt vãnh tầm thường; điều đáng nói là không thể cầu được, phước đức tự làm chứ chẳng có ai ban phát. Y vốn là một gã cùng tử nhưng thấy đám cùng tử kia còn cùng hơn, còn hèn mọn hơn cùng tử trong kinh.
     Y cuồng mê xuất gia tu học rồi làm hòa thượng để chấn tác lại chốn già lam, sẽ tách già lam ra khỏi những thế lực chính trị, lược bỏ những yếu tố Tàu trong thiền môn, ngăn chặn sự xâm nhập và điều khiển của thế lực chính trị thế tục. Những tác động của các thế lục chính trị đã làm xiêu lệch tông môn, biến tướng thiền lâm. Không ít người trong chốn già lam đã trở thành công cụ phục vụ chính trị, không ít người của thế lực chính trị cài cắm vào trong già lam. Ngày hôm nay trong một khoảnh khắc tỉnh thức, y biết mình đã vượt quá phận mình, đã mơ giấc mơ hoang tưởng. Y vẫn là một gã cùng tử chưa biết ngày nào quay về , thân mình chưa xong mà lại lo chuyện thiên hạ, nực cười cho: ”ốc không lo cho ốc, ốc lo đầu cốc mọc rêu”. Gã cùng tử lang thang trên đường đời, vất vả đường mưu sinh, chẳng biết đường đi về, không có đường tiến lui, dậm chân tại chỗ trên đường đạo, dang dở đường thăng đọa…. May là giờ này y nhận ra được cái thực tế nhất và cái có khả năng nhất là giữ phận của một Phật tử sơ cơ, giữ những giới cơ bản một cách tốt nhất mà mình có thể.
     Việc thịnh-suy của quốc gia hay thanh-trọc trong già lam cũng là lẽ vô thường, thịnh suy liên lỉ có phút giây nào ngừng, ngay cả chánh pháp của Thích Ca mâu Ni Phật cũng sẽ có lúc diệt (khi mà có một vị Phật mới xuất hiện). Thế gian này xưa nay cũng đã có bao nhiêu quốc gia mới hình thành và bao nhiêu quốc gia đã diệt vong. Vô thường là thế, không có hạn kỳ hẹn thời, vô thường có thể dài dằng dặc nhưng cũng có thể trong một khoảnh khắc sát na. Gã cùng tử nhổ sợi tóc bạc, cầm sợi tóc bạc ngắm nghía thấy trong ấy có cả đất nước gió lửa đang chuyển động, lại thấy gương mặt của sứ giả vô thường. Trong đầu y văng vẳng lời từ tận cùng sâu của tâm thức: ”rồi cái thân này sẽ hoại, cùng tử ơi! Ngươi đã chuẩn bị tư lương gì chưa? Cái ngươi mang theo sau khi thân hoại mệnh chung không phải là của cải, tiền bạc, gái đẹp trai xinh…. Mà là những nghiệp lành, dữ đã tạo và đang tạo”.

 

–Tiểu Lục Thần Phong

Andrew Lloyd Webber, người được xem như nhà soạn nhạc thành công nhất của sân khấu nhạc kịch hiện đại, nay lại tìm đến một đề tài nghe qua tưởng chừng đã quen: câu chuyện bức Mona Lisa một lần âm thầm rời khỏi Louvre rồi bặt vô âm tín suốt hơn hai năm trời. Khán giả yêu nhạc kịch đã thuộc nằm lòng những “giấc mộng giữa ban ngày” của Lloyd Webber: hồ nước ngầm dưới Nhà hát Opera Paris, bầy mèo Jellicle mong được bước sang cõi Heaviside, hay vị pharaoh Ai Cập cất tiếng ca như Elvis nói mộng. Nay, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật. Với dự án mới, ông quay sang một “biểu tượng thị giác” quen thuộc, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật, nhưng đã hóa biểu tượng đến mức gần như siêu thực: nụ cười Mona Lisa.
Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ. Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại. Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như
Bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci sẽ được đưa sang một không gian trưng bày riêng tại Viện Bảo Tàng Louvre, trong một kế hoạch đại trùng tu lớn nhằm giảm cảnh chen chúc, tăng an ninh và sửa chữa hạ tầng tại viện bảo tàng đông khách nhất thế giới. Theo Christian Thorsberg, viết trên Smithsonian Magazine ngày 19 tháng 5 năm 2026, giới chức Pháp vừa chọn nhóm kiến trúc sư quốc tế đảm trách công trình được mô tả như một “thời Phục Hưng mới” cho Louvre. Dự án có thể tốn tới $1 tỷ, với mục tiêu giải quyết tình trạng quá tải kéo dài nhiều năm qua.
Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó 95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1% Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác. Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính. Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài
Nhiếp ảnh không còn là việc ghi lại thế giới như nó tồn tại. Trong thời đại đương đại, máy ảnh đã trở thành một công cụ tư duy, một phương tiện để người cầm máy đặt câu hỏi, phản biện, và kiến tạo ý nghĩa. Mỗi lần bấm máy là một lần người chụp lựa chọn: lựa chọn cái gì được nhìn thấy, cái gì bị cắt ra ngoài khung hình, khoảnh khắc nào xứng đáng tồn tại mãi mãi. Đó là một quyền lực nhỏ nhưng đầy tính triết học.
Có những bài hát viết để ru người ngủ. Có những bài hát viết để kể chuyện tình. Và có những bài hát viết để không ai có thể quên. Thời Hoàng Hôn Của Ý Niệm của Hà Thúc Sinh là ca khúc để nhớ, nhưng không phải vì nó đẹp đến mức người ta không thể quên, mà vì nó đau đến mức người ta không thể không nhớ. Đây là một bài hát mà nghe xong, người ta không muốn nghe lại, nhưng không thể nào xóa được khỏi tâm trí. Đây là loại nghệ thuật mà Adorno đã từng nói tới khi ông viết về văn học sau Auschwitz: nghệ thuật không còn để mua vui, mà để làm chứng cho những điều đáng lẽ ra không nên xảy ra.
Mới ngày nào chỉ là một ý tưởng, vậy mà VAALA Viet Book Fest năm nay đã bước vào năm thứ Năm.
Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại bắt đầu rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời, bọn người chiến thắng vẫn chưa vừa lòng!
Trong lãnh vực nghệ thuật, luôn có một câu hỏi khó trả lời, chưa hề có câu trả lời nào thỏa mãn. Đó là, Sáng tác làm cho thưởng ngoạn trì trệ, hay thưởng ngoạn làm cho sáng tác trì trệ? Nhạc, họa chậm phát triển là do sáng tác hay thưởng ngoạn? Văn, thơ lỗi thời là do thưởng ngoạn hay sáng tác? Người phu xe nên đi trước xe chở như trường hợp xe kéo? Hoặc nên đẩy sau xe như trường hợp xe xích-lô? Sáng tác luôn là kẻ phục vụ. Thưởng ngoạn luôn là người ngồi trước hay ngồi sau thích thú. Tôi nghĩ, câu trả lời tùy mỗi giai đoạn, mỗi địa dư, mỗi trường hợp, không có câu trả lời chung. Câu trả lời lần này bắt đầu từ mệnh đề: Hầu hết người Việt thưởng ngoạn hay sáng tác đều yêu thích nhạc tình. Trên thế giới cũng vậy. Đa số người nghe đón nhận, ủng hộ ca khúc tình yêu.
“Ngựa phi, ngựa phi đường xa Tiến trên đường cát trắng trắng xóa Tiến trên đường nắng chói chói lóa Trên đồng lúa theo cánh chim trời bay trên cao…” Đó là tiếng vó ngựa vang lên giữa khu phố Little Saigon vào một ngày giáp Tết Bính Ngọ tại quán Cà Phê Factory do ban nhạc NTM hợp ca bản “Ngựa Phi Đường Xa” của nhạc sĩ Lê Yên trong buổi chiều tất niên của Việt Báo và ra mắt sách “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” của nhà văn Phan Tấn Hải hôm 13 tháng 2 năm 2026.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.