Hôm nay,  

Dịch thơ, giữa dở và hay

22/11/202400:00:00(Xem: 2064)
Capture

…một tác giả tài danh, trong một tác phẩm đỉnh cao, cũng có lúc dễ dãi với chữ, với thơ và, do đó, cái khó của người dịch là, trong ngôn ngữ khác, cũng phải truyền đạt cho được sự lạc chữ hay mất thần đó. 

 

Dịch thơ, nói theo Bùi Giáng, là “điều khảm kha nhất” và đó phải là thơ hay bởi, trừ những ngoại lệ đặc biệt, chẳng dịch giả nào phí thì giờ với thơ dở. [1] Sự “khảm kha”, như thế, phải thuộc về cái nghệ thuật chuyển đạt, sao cho giữ được hồn cốt làm nên cái hay của bài thơ trong một ngôn ngữ khác.
 
Tuy nhiên nhà thơ Chế Lan Viên, trong “Sổ tay thơ”, nhận xét:
 
Thơ dở không dịch được
Thơ hay như người đẹp, ở đâu, đi đâu cũng lấy được chồng.
 
nên, theo logic này, dịch thơ dở còn “khảm kha hơn” việc dịch thơ hay, ngàn vạn lần.
 
“Khảm kha hơn” vì sự bất khả: “thơ dở không dịch được”.
 
Và “khảm kha hơn” do phận “ế” so với thơ hay.
 
Nếu “thơ hay” cũng như người đẹp “ở đâu đi đâu cũng lấy được chồng”, thì phần số của “thơ dở”, như là một cô gái xấu, sẽ rất là long đong một khi dạt đến những “bến” ngôn ngữ khác. Thơ hay, có lưu lạc đến vùng văn hóa khác, dẫu không nguyên vẹn thì ít nhiều vẫn lưu lại được vài nét “xuân sắc” để thu hút người đọc mới, nghĩa là kiếm chồng xứ lạ. Thơ dở thì không may mắn thế, nếu không nói là… vô phương!
 
Nhưng thơ dở thì chán vạn, cả triệu và đâu phải tất cả đều lọt mắt các dịch giả? Không kể đến thứ thơ chỉ dịch để tâng công, để kiếm bổng lộc, nói cho gọn là để nịnh như thơ lãnh tụ, thơ quan trên; thơ dở mà được dịch thì phải là thơ đáng đọc hay cần phải đọc.
 
Thơ đó có thể dở do tác giả... đánh mất chính mình: một tác giả tài danh, trong một tác phẩm đỉnh cao, cũng có lúc dễ dãi với chữ, với thơ và, do đó, cái khó của người dịch là, trong ngôn ngữ khác, cũng phải truyền đạt cho được sự lạc chữ hay mất thần đó.
 
 
Cũng có thể là thơ dở theo quan niệm thẩm mỹ, như bài thơ “Con Cóc”. Bao thế hệ đã xem đó là biểu trưng của thơ dở thế nhưng, theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, đó lại là một bài thơ hay. Diễn đạt cho gọn thì, khi “Con Cóc” là đỉnh cao của thơ dở trong cách cảm thụ văn chương đã lỗi thời thì, qua một cuộc đảo chính mỹ học, bài thơ sẽ ngời ngời ánh sáng thẩm mỹ mới, nghĩa là … hay!
 
 
Hoặc có thể thơ chưa đạt đến mức tinh hoa của ngôn ngữ nhưng lại là tác phẩm biểu trưng cho một thời kỳ lịch sử, một giai đoạn hay một vùng miền văn học.
 
Thí dụ bài thơ “Tình Già” của Phan Khôi. Đây không phải là bài thơ hay, nhưng nếu muốn giới thiệu lịch sử phát triển của Thơ Việt Nam với người ngoài, tất nhiên phải dịch bài thơ được xem là phát pháo đầu tiên của phong trào Thơ Mới. Hay những vần thơ thật thà trong Lục Vân Tiên, của Nguyễn Đình Chiểu, như là biểu trưng của văn học miền Nam, một thời.

Thật thà là đức tính của con người trong mối quan hệ xã hội tuy nhiên, trong nghệ thuật, có khi, lại là điểm yếu. Trong Hồi ký song đôi, Huy Cận kể chuyện ông cậu mình bỏ ra đến mấy năm trời để học chơi đàn nguyệt từ một tay đờn điêu luyện, chuyên chơi nhạc chầu văn hay hầu đò, thế nhưng, bất kể bao nhiêu công sức, thời gian và đam mê bỏ ra, tiếng đàn ông cậu vẫn chưa làm lay được lòng ai, vẫn “không có nhụy” mà lý do là, theo nhận xét của ông thầy, “tiếng đàn còn thật quá”![2]
 
Nhưng làm sao để truyền đạt những “phong cách” như thế trong một ngôn ngữ khác? Nghệ thuật này có giống với nghệ thuật diễn tả phụ nữ không đẹp, như khi Vũ Trọng Phụng tả chị Doãn hay Nam Cao tả Thị Nỡ? Nếu hai nhà văn này tả sự không đẹp một cách tài tình thì, khi dịch một bài thơ không hay, một dịch giả tài hoa phải truyền đạt sao cho được thần thái của cái sự không hay đó?
 
Lấy thí dụ sự thật thà chữ nghĩa trong Lục Vân Tiên, từ cảnh đối đáp giữa người đẹp Nguyệt Nga và đấng anh hùng:
 
“Đưa trâm chàng đã làm ngơ,
“Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ.”
Vân Tiên ngó lại rằng: “Ừ!
Làm thơ cho kịp bấy chừ chớ lâu
 
Chẳng oai phong theo kiểu lẫm liệt, sang trọng đã đành, bậc anh hùng thậm chí còn ngờ nghệch khi “ngó lại rằng: ‘Ừ!’’. Đến lúc chuyển vai “văn nhân”, khen người đẹp làm thơ xuôi lọt dưới áp lực thời gian, nhân vật này trông còn... chán hơn nữa:
 
“Thơ rồi này thiếp xin dâng,
“Ngửa trông lượng rộng văn nhân thể nào?”
Vân Tiên xem thấy ngạt ngào,
Ai dè sức gái tài cao bực nầy.
Đã mau mà lại thêm hay...
 
Toàn là việc khó cả, từ việc truyền đạt cho được cách xã giao thật thà của nhân vật, đến quan niệm thật thà về thơ “Đã mau mà lại thêm hay”. Nghĩa là khó nhưng vẫn chưa là gì so với việc truyền đạt cái thần trong sự dở của một câu thơ lạc thần, giữa một rừng thơ hay.
 
Câu thơ dở, trong ngữ cảnh đặc biệt của một tác phẩm đỉnh cao của một tác giả tài danh, sẽ có một thần thái đặc biệt. Chuyển dịch thần thái của sự dở này sang một ngôn ngữ khác, khiến người đọc phải cảm được điều đó, cũng chẳng khác gì phải làm sao để một cô gái xấu lấy được chồng mà không phải son phấn màu mè, đừng nói là giải phẩu thầm mỹ.
 
Như câu thơ có lẽ là dở nhất trong Truyện Kiều mà tôi từng bàn đến trong bài “Phải học Tú Bà”:
 
 
“… đến cả Nguyễn Du cũng đã một thoáng đánh mất chính mình trong cái cảnh đoàn tụ này. So với cảnh chia tay đau đớn vô cùng đẹp đẽ trong ngôn ngữ:
 
Đoạn trường thay lúc phân kỳ!
Vó câu khấp khểnh bóng xe gập ghềnh.
 
thì, cũng trên khía cạnh ngôn ngữ, cái cảnh chuẩn bị đoàn tụ trông nhếch nhác, vô duyên thế nào:
 
Cùng nhau lạy tạ Giác Duyên,
Bộ hành một lũ theo liền một khi
 
Truyện Kiều là cả một sự chắt lọc ngôn ngữ mà, nói theo Phan Kế Bính, là “không có một tiếng nào là tiếng đục, không một câu nào là câu non” thế nhưng cái câu trên, câu tám, nghe cũng đục đục thế nào. Nó quá mức thật thà, thật thà đến ngô nghê, y như cái cảnh ngô nghê lúc Lục Vân Tiên hối người đẹp làm thơ, “Vân Tiên ngó lại rằng Ừ! / Làm thơ cho kịp bấy chừ chớ lâu”.
 
“Bộ hành một lũ” là toàn gia cha mẹ dâu rể. Hẳn nhiên, “lũ” ngày ấy không như là “lũ” thời nay, như trong “bè lũ bành trướng bá quyền Bắc Kinh” hay trong “bè lũ diệt chủng Pôn Pốt Iêng-xa-ri” của cuối thập niên 1970. Dẫu biết rằng “lũ” ngày ấy ngụ ý tôn trọng – như là “Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ” khi Nguyễn Đình Chiểu chiêu hồn những nghĩa sĩ trận vong ở Cần Giuộc – nhưng cái cảnh “một lũ theo liền một khi” này trông vẫn lôi thôi, nhếch nhác thế nào mà, thậm chí, còn làm chúng ta liên tưởng đến một đám đá cá lăn dưa hê nhau đi hôi của, đi liền kẻo hết. [3]
 
Trong số những dịch giả nổi tiếng nhất của Truyện Kiều có học giả Huỳnh Sanh Thông và, trong tiếng Anh, hai câu trên, qua nghệ thuật chuyển ngữ của ông, là:
 
All knelt and bowed their thanks to old Giác Duyên,
Then in a group they followed on her heels. [4]
 
Tra cứu thêm các bản dịch khác, của Phan Huy MPH:
 
Together gratefully to Giác Duyên they bowed,
And without delay in her walk they followed. [5]
 
hay của Mica Huynh:
 
They bow to Giác Duyên, and
Follow her steps, finding the girl. [6]
 
sẽ nhận ra rằng, tất cả, chẳng thể nào thể hiện trọn vẹn cảnh tượng lôi thôi nhếch nhác của “bộ hành một lũ”.
 
Vậy đã thấy khó, đến “Thơ Con Cóc” có lẽ còn khó hơn:
 
Con cóc trong hang
Con cóc nhảy ra
Con cóc nhảy ra
Con cóc ngồi đó
Con cóc ngồi đó
Con cóc nhảy đi
 
Bài thơ có cái đẹp “trần trụi” mà nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc đề cập trong bài “Thơ Con Cóc: Một bài thơ hay”, in trong Thơ, vân vân và v.v..., xuất bản năm 1996:
 
Bài Thơ Con Cóc, ngược lại, trần trụi tuyệt đối. Như một cành gai. Không có đến lá, đừng nói gì là hoa. Nó thô tháp. Nó mạnh bạo. Nó sần sùi. Và cũng có thể nói, tàn nhẫn nữa. Nó xoá bỏ hết mọi phấn son và loại trừ hết tất cả cảm xúc thừa thãi để bắt người đọc một minh sửng sờ đối diện với sự vô nghĩa của cuộc đời. Không thể nào có thứ ngôn ngữ nào giản dị hơn thế nữa...
 
Cũng như sự khác nhau trong quan niệm về cái đẹp giữa một khu vườn thừa thãi sắc màu, rộn rã tiếng chim ca, giàu sắc giàu âm đến mức... nhốn nháo lòe loẹt với một vườn thiền u tịch. Người mê hoa lá, sắc màu, tiếng chim và cánh bướm sẽ phát chán với một khoanh cát đơn sơ có thêm vài tảng đá, bất quá thêm cây tùng, cây bách, thoang thoảng từ xa là tiếng nước róc rách, và ngược lại, người thích thơ haiku sẽ phát ngán với bài thơ đầy ắp chi tiết như “Chợ Tết” của Đoàn Văn Cừ. Dịch sao để thấy được sự trái ngược như thế, cái dở của bài thơ theo góc nhìn của người bên này nhưng lại thu hút được niềm say mê của người phía bên kia? [7]
 
Thật là khó quá nhưng có phải vì thế mà chúng ta có quyền kết luận rằng dịch thơ dở khó hơn là dịch thơ hay?
 
Ít ra, về mặt logic thì, chúng ta đã trở nên bất bình thường, hay nói theo ngôn ngữ của Kim Dung là mấp mé bên bờ vực của tình trạng “tẩu hỏa nhập ma” khi làm cho trật tự không gian rối lên. Từ đầu, đã chấp nhận khẳng định của Bùi Giáng rằng việc dịch thơ (hay) là điều “khảm kha nhất”, bây giờ thì lại kết luận rằng việc dịch thơ dở (đáng đọc hay phải đọc) còn “khảm kha hơn”, vậy thì cái nào khó hơn cái nào?
 
Chúng ta bị thế bởi đã dở hơi khi đặt ra một vấn đề không nên đặt. So sánh thế thì có khác nào bảo phải so sánh là, giữa vĩ cầm và dương cầm, nhạc cụ nào có âm thanh hay hơn? Hay, thậm chí, phải so sánh giữa nước tương và nước mắm, giữa phở và bún bò Huế, thứ nào ngon hơn?
 
Nhưng có vậy thì chúng ta mới gặp lại một Chế Lan Viên – người đưa ra quan niệm “thơ dở không dịch được” và từng mang những chiến công hiển hách của cha ông ra so đo hơn kém:
 
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng...
(“Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”, 1965)
 
So sánh một cách dở hơi như thế nên, cũng có lúc, nhà thơ này lâm vào tình trạng suýt bị tẩu hỏa nhập ma.
 
Mỗi câu, mỗi chữ của Chế Lan Viên là cả một sự trau chuốt, đầu tư, vậy mà, trong bài “Trận tuyến này cao hơn cả màu da”, công bố vào tháng Tám năm 1967, nhà thơ trở nên bất bình thường, làm rối tung trật tự không gian:
 
Vinh quang nhất là những người nổ súng
Vinh quang hơn là những kẻ đi đầu
 
Nhìn lại, chúng ta biết rằng bài thơ được công bố chỉ bốn tháng trước biến cố Mậu Thân và “thần thái” trong cái dở của nhà thơ cực kỳ chỉn chu về chữ này, phải nói, là sự mất thăng bằng, mất hết nghĩa lý thông thưòng. Đó, phải chăng, là do nhà thơ quá hối hả, quá gấp gáp trong nỗ lực bày tỏ nhiệt tình cách mạng, hối thúc người khác xông vào tử địa?
 
Nói cách khác là, phải chăng, do nôn nóng lập công về chính trị mà nhà thơ dễ dãi với chữ nghĩa nên, nếu dịch thì, với ngữ cảnh của bài thơ, người dịch cũng phải làm sao để toát lên cái sự sốt sắng quá mức cần thiết của một nhà thơ phò chính thống?
 
Tuy nhiên bài thơ, như có thể thấy được cái tên, “Trận tuyến này cao hơn cả màu da”, là cả một sự lên gân và, hơn thế nữa, suy tưởng theo chính tác giả trong “Di cảo thơ”, nó nhất định phải là thứ thơ thuộc về “một nửa” mà hậu thế phải “Trừ đi”: [8]
 
Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ
Có phải tôi viết đâu? Một nửa
Cái cần viết vào thơ, tôi đã giết đi rồi!
 
Nên, may cho những người dịch thơ thời ấy khi đó là một bài thơ không đáng để dịch, còn Chế Lan Viên cũng chưa phải là một quan chức chính trị cỡ bự để phải bợ đỡ bằng cách dịch một bài thơ mà, từ đầu, đã bị bị chính tác giả tàn sát chất thơ!
  
Tài liệu tham khảo:
  1. Bùi Giáng, “Một đường lối dịch thơ”
2. Huy Cận (2003), Hồi ký song đôi, Nhà xuất bản Hội nhà văn, trang 32
4. Huynh Sanh Thong (1983), The Tale of Kieu, Yale Univeristy Press, New Haven, trang 155
5. https://truyenkieuinenglish.wordpress.com/episode-xxvi/
7. Bản dịch của Tiểu Vĩnh Lạc:
From its hole, the toad is hopping out
The toad is hopping out, and then crouching there
The toad is crouching there, and then hopping away …!
8. Bài thơ “Trừ đi” của Chế Lan Viên:

“Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ
Có phải tôi viết đâu? Một nửa
Cái cần viết vào thơ, tôi đã giết đi rồi!
Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười,
Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ,
Tôi giết cái cánh sắp bay...trước khi tôi viết
Tôi giết bão táp ngoài khơi cho được yên ổn trên bờ
Và giết luôn mặt trời trên biển,
Giết mưa và giết cả cỏ mọc trong mưa luôn thể
Cho nên câu thơ tôi gày còm như thế
Tôi viết bằng xương thôi, không có thịt của mình.
Và thơ này rơi đến tay anh
Anh bảo đấy là tôi?
Không phải!
Nhưng cũng chính là tôi - người có lỗi!
Đã giết đi bao nhiêu cái
Có khi không có tội như mình!”
 
Nguyễn Hoàng Văn

Từ hồi trẻ, tôi đã có thói quen là những ngày giáp Tết thì bắt đầu chọn một vài bài nhạc xuân để nghe; và trong những ngày đầu năm thì sẽ đọc một cuốn sách. Thói quen “khai sách đầu xuân” có thêm một chi tiết khi tuổi quá độ “ngũ thập nhi tri thiên mệnh”: đọc một cuốn sách có chủ đề về Phật Giáo. Trong năm Giáp Thìn này, tôi chọn cuốn “Từ Mặc Chiếu Đến Như Huyễn” của một tác giả cũng tuổi con rồng: cư sĩ Nguyên Giác, cũng là nhà báo Phan Tấn Hải. Giới thiệu “tác giả, tác phẩm” dài dòng như vậy, nhưng đối với tôi, người viết đơn giản chỉ là anh Hải, một người anh thân thiết, đã từng có một thời ngồi gõ bàn phím chung trong tòa soạn Việt Báo ở phố Moran. Đọc sách của anh Hải, tôi cũng không dám “điểm sách” hay “phê bình sách”, vì có thể sẽ bị anh phán rằng “… viết như cậu thì chỉ… làm phí cây rừng thôi!” Bài viết này chỉ ghi lại một vài niềm hứng khởi khi được tặng sách, khi đọc qua cuốn sách mà cái tựa cũng đã chạm sâu thẳm vào những điều bản thân đang chiêm nghiệm.
Chúng ta thường được nghe nói, rằng mọi người đều bình đẳng trước Thượng Đế. Tuy nhiên, Thượng đế thì không ai thấy, nhưng có một thứ còn đáng sợ hơn nhân vật cổ sử đó (nếu thật sự là có Thượng Đế): đó là những trận mưa bom. Người dân Ukraine và Palestine ý thức rất rõ, vì đó là chuyện hằng ngày của họ: mọi người đều bình đẳng khi đứng dưới mưa bom. Già, trẻ, nam, nữ, trí thức, nông dân, nhà thơ, họa sĩ… đều bình đẳng: khi bom rơi trúng là chết. Cuộc chiến giữa người Palestine muốn giữ đất và người Israel từ nơi xa tới nhận phần đất mới do quốc tế trao tặng từ đất Palestine đã kéo dài nhiều thập niên. Bây giờ căng thẳng mới nhất là ở Gaza, cuộc chiến đang tiếp diễn giữa nhóm Hamas, thành phần chủ trương bạo lực của dân Palestine, và quân Israel. Trong những người chết vì bom Israel, có những người hiền lành nhất, đó là trẻ em và phụ nữ.
Thông thường khi nghe hai chữ “cô đơn” chúng ta liên tưởng đến trạng thái tinh thần yếm thế, tâm tư buồn bã, ngày tháng chán chường, thậm chí, cuộc đời trống rỗng. Có lẽ, vì ý nghĩa từ điển của từ vựng này; có lẽ, vì ảnh hưởng văn chương nghệ thuật; có lẽ vì chúng ta đã từ lâu tin như thế, mà không bao giờ đặt một nghi vấn nào. Đây là định nghĩa của “cô đơn” qua Bách thư toàn khoa Wikipedia: “Cô đơn là một trạng thái cảm xúc phức tạp và thường gây khó chịu, đáp ứng lại với sự cách ly xã hội. Cô đơn thường bao gồm cảm giác lo lắng về sự thiếu kết hợp hay thiếu giao tiếp với những cá nhân khác, cả ở hiện tại cũng như trong tương lai. Như vậy, người ta có thể cảm thấy cô đơn ngay cả khi xung quanh có nhiều người. Nguyên nhân của sự cô đơn rất đa dạng, bao gồm các vấn đề về xã hội, tâm thần, tình cảm và các yếu tố thể chất.
Vào những ngày cuối năm 2023, khi mà người Mỹ bắt đầu chuẩn bị cho những bữa tiệc Giáng Sinh, năm mới, bàn tán chuyện mua sắm, thì chiến sự giữa Isarel và Hamas chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Trên vùng đất thánh của cả ba tôn giáo lớn, những kiếp người lầm than chỉ mong có một ngày hòa bình, một ngày không bom đạn. Cũng vào những ngày cuối năm 2023, người Mỹ bắt đầu nhìn thấy một viễn cảnh Ukraine bị bỏ rơi, phải chấp nhận đổi đất lấy hòa bình. Nhiều người Việt cho rằng Ukraine sắp là một Việt Nam Cộng Hòa khác, một đồng minh bị Mỹ bỏ rơi, nhưng sau một thời gian có thể nhanh hơn nhiều.
Vào ngày 6 Tháng 12, giới truyền thông Mỹ đồng loạt đưa tin Taylor Swift, nữ ca nhạc sĩ đầy tài năng, được tạp chí Time vinh danh là “Nhân Vật Của Năm 2023” (Person of The Year). Đây là lần đầu tiên một ca nhạc sĩ được bình chọn danh hiệu giá trị này, càng nhấn mạnh thêm sự thành công và sức ảnh hưởng của cô gái hát nhạc pop-đồng quê. Trước đây, nhiều nhân vật được Time chọn từ năm 1927 là các tổng thống Hoa Kỳ, những nhà hoạt động chính trị lỗi lạc.
Bốn câu thơ này được bố tôi (nhà văn Doãn Quốc Sỹ) ghi lại như một giai thoại văn học, làm lời tựa cho tác phẩm Mình Lại Soi Mình. Bố tôi kể rằng khoảng năm 1984, phong trào vượt biên đang rầm rộ. Một người bạn mới gặp đó, mà hôm sau đã vượt biên rồi! Vào một ngày đẹp trời, bố tôi đạp xe từ Sài Gòn qua Làng Báo Chí bên kia cầu xa lộ để thăm chú Nguyễn Đình Toàn. Đến giữa cầu thì thấy chú đang đạp xe theo chiều ngược lại, cũng định đến thăm mình ở căn nhà hẻm Thành Thái. Hai người bạn gặp nhau giữa cầu. Có lẽ chú Toàn đã nhìn những cánh đồng lúa bên Thủ Thiêm, tức cảnh sinh tình, ngẫu hứng làm ra bốn câu thơ này.
Hôm đó, một chàng đương từ Sài Gòn đạp xe tới thăm bạn ở Làng Báo Chí bên kia cầu xa lộ. Chàng vừa đạp xe tới cầu thì gặp bạn cũng đương từ bên kia cầu phóng sang dự định về Sài Gòn thăm mình...
Có một người sống trong thành phố, bận rộn, tranh đấu, xông pha, lăn lộn giữa sự phức tạp như một sinh trùng bị mắc lưới nhện vẫn phải vùng vẫy để sống, để chờ ngày bị ăn thịt. Một hôm, ông ta đi du lịch, thấy một phong cảnh đẹp đến mức lặng người, cảm thấy siêu thoát, nhận ra đạo lý của mục tiêu tại sao con người tồn tại. Nhưng vẫn phải trở về phố cũ, y như Lưu Nguyễn phải trở về làng cũ vì những lý do chính xác, vì lẽ phải của những bổn phận làm người. Ông vẽ lại phong cảnh đó trên một vách tường lớn. Mỗi khi đời giông bão, mỗi khi hồn âm u, mỗi khi trí khổ não, ông đến trước bức tranh, nhìn ngắm, ngẫm nghĩ để tìm thấy sự thanh thản, sở hữu cảm giác bình an. Ông nghe được tiếng hát “chiều nay vang lừng trên sóng.” Ông thấy được “Âm ba thoáng rung cánh đào rơi. Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời.” Hồn ông “lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan.” Những giờ phút tĩnh lặng đó, tâm trí ông “Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quên … là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi…”
Bùi Giáng qua đời tại Sài-gòn tháng 10-1998, tới tháng 10 năm này, 2023, đúng là 25 năm, một phần tư thế kỷ “Vắng bóng người Điên giữa kinh thành”. Trong tất cả các bút hiệu của Bùi Giáng, Sáu Giáng là tên hiệu dễ thương với mọi người, Bùi Giáng lại thích “anh Sáu Giáng” nhất; bởi/từ cái gốc gác quê mùa, đồi sim, ruộng lúa, tiếng gà trưa, con cò bãi nước xa, cái nền nhà lát gạch hoa, đứa con thứ sáu trong gia đình tộc Bùi, thằng bé Giáng tập bò tập đi.
Tôi để ý đến hắn, không phải vì cái tên với cái họ “lạ”, họ Mai. Cũng chẳng phải vì hắn là công tử con nhà giàu. Nghe nói ba hắn đi qua Mỹ từ ngày chạy loạn 30/4, nên cuộc sống mấy mẹ con rất ung dung khá giả. Mới học lớp 6 thôi, mà hắn đi học mặc quần tây áo sơ mi “đóng thùng” chỉnh tề, mang giày xăng-đan, tay còn đeo chiếc đồng hồ nữa cơ...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.