Hôm nay,  

Đức Phật Ra Đời Đã Mở Toang Cánh Cửa Tự Do Cho Con Người

29/05/202600:00:00(Xem: 568)
hình chính trang nhất iStock-497342809
 
Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ.

Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại.

Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như nhau, phẩm giá cao quý hay thấp hèn của con người là do suy nghĩ, nói và hành động hàng ngày của họ tạo ra. Nếu suy nghĩ, nói và hành động vị tha, bao dung, hướng thượng thì người ấy có phẩm giá cao quý. Ngược lại, nếu suy nghĩ, nói và hành động vị kỷ, độc ác, thô bạo và bất nhân thì người đó có phẩm giá thấp hèn.

Lấy hành nghiệp làm thước đo cho phẩm giá của con người trong mối tương quan với xã hội, đức Phật còn khai mở con đường tự do quyết định vận mệnh của chính con người nữa. Thật vậy, đức Phật dạy con người có trọn vẹn thẩm quyền trong tay để hướng đời mình thăng hoa hay đọa lạc. Nếu suy nghĩ, nói và làm điều thiện thì con người sẽ có được đời sống hạnh phúc và giải thoát. Ngược lại, nếu suy nghĩ, nói và làm điều ác thì con người sẽ nhận lấy quả báo khổ đau hay thậm chí còn đọa lạc vào ba đường ác – địa ngụ, ngạ quỷ, súc sinh. Như vậy, không ai ngoài chính con người có thể định đoạt số mệnh của mình. Con đường này mở ra cho con người cuộc sống tự do hay giải thoát thật sự mà không cần bất cứ ai khác bang cho.

Duc Phat Ra Doi 01

Hoa sen biểu hiện cho sự tự do, giải thoát và thanh khiết trong Phật Giáo. Hoa sen được nói đến nhiều trong kinh điển nhà Phật mà đặc biệt là Kinh Pháp Hoa lấy hoa sen làm thí dụ cho Phật tánh có sẵn trong tâm chúng sinh.(Photo: www.pixabay.com

Nhà văn người Mỹ gốc Phi Châu Ralph Waldo Ellison (1913-1994) đã viết trong cuốn tiểu thuyết đoạt Giải Sách Toàn Quốc Hoa Kỳ vào năm 1953 thuộc hạng mục tiểu thuyết hư cấu “Invisible Man” [Người Đàn Ông Tàng Hình] của ông rằng, “Khi tôi khám phá ra mình là ai, thì tôi tự do.”  

Cuốn tiểu thuyết “Invisible Man” mô tả cuộc sống của một thanh niên da đen ở miền Nam nước Mỹ, nơi mà người da trắng làm chủ mọi thứ và người da đen chỉ là kẻ nô lệ, những kẻ không được xã hội của người da trắng thừa nhận như một con người thật sự. Họ sống mà như không hiện hữu. Họ sống âm thầm lầm lũi chịu đựng mọi áp bức bất công từ một xã hội kỳ thị chủng tộc. Họ la những người tàng hình bằng da thịt. Nhân vật kể chuyện trong tiểu thuyết kể rằng anh sống trong một căn hầm ở dưới mặt đất và sử dụng điện đánh cắp từ lưới điện của thành phố. Ở đó anh đã suy ngẫm về cách mà mình đã sống một cuộc sống vô hình trong xã hội như thế nào. Và rồi anh đã làm một quyết định quan trọng để không sống vô hình nữa mà hiên ngang bước ra làm người bằng cách viết ra câu chuyện về đời mình để cho nhiều người cùng cảnh ngộ hiểu chính họ hơn. Tác phẩm “Invisible Man” ra đời từ đó.

Ralph Waldo Ellison nói đúng rằng, “Khi tôi khám phá ra mình là ai, thì tôi tự do.” Nhưng những gì ông khám phá được về mình chỉ là cái hình thức, cái biểu hiện, cái tướng trạng bề ngoài chứ chưa phải là cái cốt lõi, cái bản chất, cái bản thể sâu kín bên trong một con người. Vì vậy, tự do mà Ralph Ellison có được chỉ là tự do tương đối, không phải là tự do rốt ráo, hay tự do tối hậu.

Tự do mà Ralph muốn đạt tới là tự do trong mối tương quan với con người, với xã hội. Đó là thứ tự do mà khi cá nhân cảm thấy điều mình nói và làm không bị người khác hay chính quyền kiểm soát hay đàn áp, nhưng không thể vượt ra ngoài giới hạn mà luật pháp ấn định, giống như con chim tự do bay nhảy trong một cái vườn có lưới bao bọc chung quanh. Nếu là một con chim nhỏ bé với đôi cánh mỏng manh thì không gian của cái vườn đó đã là một bầu trời rộng. Nhưng nếu là con đại bàng với đôi cánh có thể bay ngàn dặm thì không gian của cái vườn kia quá chật hẹp đối với nó. Tương tự như vậy, một người bình thường sẽ cảm thấy mình mất tự do khi lời nói và hành động bị kẻ khác khống chế. Còn nếu không ai đụng đến mình thì người ta cảm thấy là mình được tự do rồi.

Nhưng đó là thứ tự do tương đối, bởi vì trên thực tế con người còn bị chi phối và lệ thuộc bởi chính những sợi dây trói buộc vô hình hiện hữu bên trong nội thể của họ làm cho họ phải tùng phục theo một cách tuyệt đối. Rằng chúng ta có thể không bị người nào khống chế quyền tự do ăn nói và hành động, nhưng chúng ta từ lâu lắm rồi đã là kẻ nô lệ cho những thế lực khác! Thế lực đó là gì? Thế lực đó ăn nằm và sống chết với chúng ta trong từng hơi thở, có thể từ đời này sang đời khác, từ kiếp này qua kiếp nọ. Nó chính là lòng tham lam, giận dữ, thù hằn, đố kỵ, kiêu mạn, ngã mạn, ái dục, háo sắc, đam mê tiền tài danh vọng, u mê ám chướng, v.v… của chúng ta. Tất cả suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta đều bị chúng kiểm soát, ra lệnh, áp đặt, trói buộc.

Kỹ thuật khống chế của chúng tài tình và khôn khéo đến mức chúng ta sung sướng làm kẻ nô lệ cho chúng mà chưa một lần trách móc. Lòng tham ăn sai chúng ta đi kiếm món ngon mà ăn thì chúng ta vừa nghe đã chảy nước miếng và vội vàng lái xe đến tiệm ăn để gọi là thết đãi cho mình, mà không biết là hoàn toàn chỉ cho nó. Lòng tự ái, ngã mạn thúc giục chúng ta phải vỗ ngực xưng tên để thị uy với kẻ dám coi thường mình. Lòng háo sắc giục giã chúng ta theo đuổi người đẹp để làm kẻ kết tóc se duyên, vậy là chúng ta không những làm theo mà còn làm nhiều hơn mức được yêu cầu. Lòng giận dữ thôi thúc chúng ta ăn miếng trả miếng một cách tàn bạo đối với bất kỳ ai dám động đến tên tuổi, địa vị, quyền lực và lợi ích cá nhân của chúng ta. Từ lúc còn nhỏ bé cho đến khi già yếu sắp lìa đời, chúng ta tốn bao nhiêu sức lực và tâm huyết để xây dựng cái gọi là cá tính, uy tín, thanh danh của mình mà thực chất chỉ là bản ngã. Cái bản ngã ấy lớn dần theo tuổi đời của chúng ta và chúng ta luôn luôn tự hào về nó mà không biết rằng đó chỉ là một thứ giả danh không có thật.

Đức Phật đản sinh và lớn lên trong cung thành Ca-tì-la-vệ (Kapilavastu), nơi mà phụ thân của Ngài, Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) là một vị vua hay đúng hơn là một tộc trưởng của dòng họ Thích-ca (Shakya). Mặc dù sống trong gia tộc sát-đế-lợi (Kshatriya), đức Phật thường xuyên chiêm nghiệm về ý nghĩa của đời người. Ngài nhìn thấy tất cả mọi sự mọi vật trên trần gian đều trôi theo dòng thác lũ vô thường và bị trói buộc trong đau khổ. Ngài tự hỏi rằng làm sao để có thể có được sự tự do hay giải thoát rốt ráo? Để giải đáp vấn nạn này, đức Phật đã rời khỏi hoàng cung Ca-tì-la-vệ và sống cuộc đời của một tu sĩ trên núi tuyết Hi-mã-lạp Sơn. Sau nhiều năm tầm sư học đạo, đức Phật nhận ra rằng những phương pháp tu tập của những vị ẩn sĩ mà Ngài đã thọ giáo không đưa đến sự giác ngộ và giải thoát viên mãn như Ngài muốn. Vì thế, đức Phật ngồi thiền định dưới gốc cây tất-bát-la (sau khi đức Phật thành đạo thì được gọi là cây bồ-đề) để quán chiếu nguyên nhân, hậu quả và cách giải thoát khổ đau.

Duc Phat Ra Doi 02

Tự do là giải thoát tất cả mọi trói buộc, mọi vướng mắc. (Photo: www.pixabay)



Ngài thấy rằng con người có già chết (lão tử) vì có sinh ra (sinh), có sinh ra vì có hiện hữu (hữu), có hiện hữu vì bám chấp (thủ), có bám chấp vì có yêu thích (ái), có yêu thích vì có cảm thọ (thọ), có cảm thọ vì có xúc chạm (xúc), có xúc chạm vì có mắt tai mũi lưỡi thân và ý (sáu căn), có sáu căn vì có thân-tâm (danh sắc), có thân-tâm vì có nghiệp thức (thức), có nghiệp thức vì có vọng động (hành), có vọng động vì không nhìn thấy rõ bản chất các pháp là giả danh (vô minh). Rồi đức Phật thấu rõ bản chất giả hợp của 12 mắt xích này cho nên Ngài đã mở tung nó ra không còn vô minh, vì không còn vô minh nên không còn vọng động, vì không còn vọng động nên không còn nghiệp thức, vì không còn nghiệp thức nên không có thân-tâm, vì không có thân-tâm nên không có sáu căn, vì không có sáu căn nên không có xúc chạm, vì không có xúc chạm nên không có cảm thọ, vì không có cảm thọ nên không có yêu thích, vì không yêu thích nên không chấp giữ, vì không chấp giữ nên không hiện hữu, vì không hiện hữu nên không sinh, vì không sinh nên không già chết. Đó chính là sự tự do và giải thoát rốt ráo.

Trong Kinh Giải Thoát hay Tự Do (Nimokkha Sutta) thuộc Tương Ưng Bộ Kinh (Saṁyutta Nikāya), bản dịch tiếng Anh của Bhikkhu Sujato từ tiếng Pali, kể câu chuyện vào một đêm khuya nọ bỗng nhiên ánh sáng rực rỡ chiếu khắp cả Vườn Kỳ Hoàn (Kỳ Viên Tinh Xá) tại thành Sāvatthī (Xá-vệ) nơi đức Phật đang ở đó. Thì ra đó là ánh sáng của một vị trời đến đảnh lễ đức Phật. Khi đảnh lễ đức Phật xong ông đứng sang một bên và hỏi đức Phật rằng Ngài có biết sự tự do, sự giải thoát và sự viễn ly cho chúng sinh không? Đức Phật trả lời là Ngài biết. Rồi vị trời này hỏi tiếp rằng bằng cách nào mà đức Phật biết sự tự do, sự giải thoát, và sự viễn ly cho chúng sinh? Lúc đó, đức Phật trả lời cho vị trời kia rằng:

“Do chấm dứt sự yêu thích tái sinh; do chấm dứt tri giác và ý thức; do chấm dứt và tịch tịnh các cảm thọ mà ta biết sự tự do, sự giải thoát, và viễn ly của chúng sinh.”
           
Bản dịch của Bhikkhu Bodhi cho đoạn cuối bài kinh này như sau: “Do tận diệt sự yêu thích vào cuộc tồn sinh; do diệt trừ tri giác và ý thức; do chấm dứt và làm tịch tịnh các cảm thọ: Như vậy, này hiền giả, mà ta biết sự tự do, sự giải thoát, sự viễn ly cho chúng sinh.”
Bản dịch Việt ngữ của Hòa Thượng Thích Minh Châu trong Tương Ưng Bộ Kinh cho đoạn cuối của bài kinh này như sau:

“Hỷ, tái sanh đoạn tận,
Tưởng, thức được trừ diệt,
Các thọ diệt, tịch tịnh,
Như vậy này Hiền giả,
Ta biết sự giải thoát,
Thoát ly và viễn ly,
Cho các loại chúng sanh.”

Trong câu đầu, có chữ “bhava” mà Tự Điển Phạn-Anh Monier Monier-Williams, ấn bản của Đại Học Oxford, dịch là sự hiện hữu, sự tồn sinh, sự sinh ra, sự tái sinh, hay vòng sinh tử. Bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu và Bhikkhu Sujato đều dịch là “sự tái sinh,” trong khi Bhikkhu Bodhi thì dịch là “cuộc tồn sinh” hay “sự hiện hữu.”

Theo ý nghĩa mà đức Phật đã dạy trong đoạn kinh trên thì tự do hay giải thoát là sự bặt dứt mọi ý tưởng, mọi cảm thọ, mọi cuộc tồn sinh, chỉ có sự tịch lặng. Đây chính là cảnh giới, nếu có thể gượng ép dùng chữ nghĩa thế gian để nói, của tự do tuyệt đối, hay giải thoát cứu cánh. Đó cũng chính là cảnh giới Niết-bàn tịch tịnh, nơi không còn tồn tại bất cứ dạng thức hữu ngã nào. Vô ngã chính là Niết-bàn vậy.

Truyền thống tư tưởng và triết học Đông Tây xưa nay khi nói đến bất cứ điều gì, gồm con người, đều tiên quyết là sự khẳng định có một hữu ngã, bởi vì nếu không có một cái gì đó như là thực hữu thì chúng ta dựa vào đâu để suy nghĩ hay nói đến điều gì đó. Chẳng hạn, chúng ta không thể nói đến một con người mà đồng lúc không nghĩ rằng con người đang nói và con người được nói đến ấy có thật. Tương tự, chúng ta không thể nghĩ về một cái lọ hoa mà cùng lúc nghĩ rằng người đang nghĩ về nó và nó không hiện hữu. Triết gia René Descartes (1596-1650) nói rằng, “Tôi suy tư, vậy nên tôi hiện hữu” (I think, therefore I am). Nhưng, triết gia Martin Heidegger (1889-1976), trong bài giảng vào năm 1929 và sau đó trong “Giới Thiệu Siêu Hình Học” (Introduction to Metaphysics) đã từng nêu ra một câu hỏi mà ông gọi là câu hỏi căn để nhất của siêu hình học rằng, “Tại sao lại có cái gì đó thay vì không là gì cả?” (Why is there something rather than nothing?) Ông đã giải thích rằng người ta không thể nắm bắt được cái “không có gì” bằng các phép tính hợp lý, nhưng nó biểu thị cho chúng ta qua sự lo âu mang tính hiện sinh sâu thẳm. Ông nói rằng khi chúng ta đối diện sự lo âu sâu thẳm, không phải nỗi lo bình thường, thì thế giới quen thuộc “trượt đi” mất, để lại chúng ta đối diện với chân trời trống rỗng. Kinh nghiệm này cho thấy rằng “không có gì” không phải là trống rỗng, mà là một đối tác quan trọng đối với chính sự hiện hữu. Có điều, cái “không có gì” đó của Heidegger chỉ là mặt phản diện của cái “có gì” đó, bởi vậy, Heidegger vẫn không vượt qua được khái niệm hữu ngã trong tất cả mọi hiện tượng.

Tuy nhiên, Bồ-tát Long Thọ (Nāgārjuna) đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng tất cả các pháp đều là Không, không có tự ngã, bởi vì chúng được sinh ra do sự giả hợp của nhiều duyên, nhiều điều kiện. Và cũng chính nhờ tánh không mà các pháp được sinh thành. Trong Căn Bản Trung Luận Tụng (Mūlamadhyamakakārikā), qua bản dịch chữ Hán của ngài Cưu-ma-la-thập (Kumārajīva), viết rằng: “Do có tính không mà tất cả các pháp được thành tựu. Vì không có tính không nên tất cả các pháp không thành tựu.” Dĩ nhiên, cái tính không này không thể hiểu là đối nghịch với cái có. Cái không đối nghịch với cái có là cái không không có gì cả, là hư vô, là trống không. Trong khi cái tính không mà ngài Long Thọ đề cập là bản chất không có tự ngã trong tất cả các pháp đang hiện hữu, đang có mặt.

Chính ở điểm này mà ngài Long Thọ đã cảnh giác trong Trung Luận rằng nếu không hiểu nhị đế, gồm chân đế (paramārtha satya) hay đệ nhất nghĩa đế và tục đế (saṃvṛtisatya) thì sẽ không hiểu được lời Phật dạy. Ngài nói rằng giáo pháp mà đức Phật dạy nằm trong hai sự thật: sự thật tương đối (tục đế) và sự thật tuyệt đối (chân đế). Theo đó, sự thật tuyệt đối chỉ có thể đạt được bằng sự tu chứng viên mãn, tức là Niết-bàn. Đây là cảnh giới vượt ngoài tâm thức phân biệt, vượt qua giới hạn của ngôn ngữ có thể diễn đạt. Trong khi đó, sự thật tương đối là cảnh giới mà Phật Giáo thừa nhận các pháp tồn tại trong mối tương quan duyên khởi, tức là có hiện hữu nhưng luôn biến dịch và không có tự ngã thật sự. Đó là sự hiện hữu của thế giới, của chúng sinh, của con người, của sanh tử luân hồi, của sanh già bệnh chết, của khổ đau và hạnh phúc, v.v… Vì vậy, đức Phật mới ra đời để có thể tu tập và giải thoát cho mình và người, và cũng vì vậy Ngài mới có thể mở toang cánh cửa tự do cho chúng sinh. Nếu không có gì cả trên đời này, thì không cần phải tu chứng, không cần phải giác ngộ và giải thoát, không cần làm điều thiện và tránh điều ác.

Nói tóm lại, tự do hay giải thoát có thể đạt được qua hai cấp độ. Ở cấp độ tục đế, tức trong cuộc sống thường nghiệm, tự do là trạng thái tâm thức không còn bị trói buộc hay chấp trước vào những gì xảy ra trong cuộc sống hàng ngày khi sáu căn (nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân và ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp). Hay nói cách khác, tự do là lúc con người không còn bị tham, sân, si… khống chế và sai sử, mà làm chủ được chính mình. Ở cấp độ chân đế, tự do hay giải thoát là sự chứng nhập Niết-bàn, nơi không còn tư tưởng, ý thức, cảm thọ, và tái sinh; nơi vượt ngoài phạm vi của tư tưởng và ngôn ngữ; nơi tịch tịnh vô ngôn.   
  

Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.