Hôm nay,  

Đức Phật Ra Đời Đã Mở Toang Cánh Cửa Tự Do Cho Con Người

5/29/202600:00:00(View: 569)
hình chính trang nhất iStock-497342809
 
Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ.

Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại.

Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như nhau, phẩm giá cao quý hay thấp hèn của con người là do suy nghĩ, nói và hành động hàng ngày của họ tạo ra. Nếu suy nghĩ, nói và hành động vị tha, bao dung, hướng thượng thì người ấy có phẩm giá cao quý. Ngược lại, nếu suy nghĩ, nói và hành động vị kỷ, độc ác, thô bạo và bất nhân thì người đó có phẩm giá thấp hèn.

Lấy hành nghiệp làm thước đo cho phẩm giá của con người trong mối tương quan với xã hội, đức Phật còn khai mở con đường tự do quyết định vận mệnh của chính con người nữa. Thật vậy, đức Phật dạy con người có trọn vẹn thẩm quyền trong tay để hướng đời mình thăng hoa hay đọa lạc. Nếu suy nghĩ, nói và làm điều thiện thì con người sẽ có được đời sống hạnh phúc và giải thoát. Ngược lại, nếu suy nghĩ, nói và làm điều ác thì con người sẽ nhận lấy quả báo khổ đau hay thậm chí còn đọa lạc vào ba đường ác – địa ngụ, ngạ quỷ, súc sinh. Như vậy, không ai ngoài chính con người có thể định đoạt số mệnh của mình. Con đường này mở ra cho con người cuộc sống tự do hay giải thoát thật sự mà không cần bất cứ ai khác bang cho.

Duc Phat Ra Doi 01

Hoa sen biểu hiện cho sự tự do, giải thoát và thanh khiết trong Phật Giáo. Hoa sen được nói đến nhiều trong kinh điển nhà Phật mà đặc biệt là Kinh Pháp Hoa lấy hoa sen làm thí dụ cho Phật tánh có sẵn trong tâm chúng sinh.(Photo: www.pixabay.com

Nhà văn người Mỹ gốc Phi Châu Ralph Waldo Ellison (1913-1994) đã viết trong cuốn tiểu thuyết đoạt Giải Sách Toàn Quốc Hoa Kỳ vào năm 1953 thuộc hạng mục tiểu thuyết hư cấu “Invisible Man” [Người Đàn Ông Tàng Hình] của ông rằng, “Khi tôi khám phá ra mình là ai, thì tôi tự do.”  

Cuốn tiểu thuyết “Invisible Man” mô tả cuộc sống của một thanh niên da đen ở miền Nam nước Mỹ, nơi mà người da trắng làm chủ mọi thứ và người da đen chỉ là kẻ nô lệ, những kẻ không được xã hội của người da trắng thừa nhận như một con người thật sự. Họ sống mà như không hiện hữu. Họ sống âm thầm lầm lũi chịu đựng mọi áp bức bất công từ một xã hội kỳ thị chủng tộc. Họ la những người tàng hình bằng da thịt. Nhân vật kể chuyện trong tiểu thuyết kể rằng anh sống trong một căn hầm ở dưới mặt đất và sử dụng điện đánh cắp từ lưới điện của thành phố. Ở đó anh đã suy ngẫm về cách mà mình đã sống một cuộc sống vô hình trong xã hội như thế nào. Và rồi anh đã làm một quyết định quan trọng để không sống vô hình nữa mà hiên ngang bước ra làm người bằng cách viết ra câu chuyện về đời mình để cho nhiều người cùng cảnh ngộ hiểu chính họ hơn. Tác phẩm “Invisible Man” ra đời từ đó.

Ralph Waldo Ellison nói đúng rằng, “Khi tôi khám phá ra mình là ai, thì tôi tự do.” Nhưng những gì ông khám phá được về mình chỉ là cái hình thức, cái biểu hiện, cái tướng trạng bề ngoài chứ chưa phải là cái cốt lõi, cái bản chất, cái bản thể sâu kín bên trong một con người. Vì vậy, tự do mà Ralph Ellison có được chỉ là tự do tương đối, không phải là tự do rốt ráo, hay tự do tối hậu.

Tự do mà Ralph muốn đạt tới là tự do trong mối tương quan với con người, với xã hội. Đó là thứ tự do mà khi cá nhân cảm thấy điều mình nói và làm không bị người khác hay chính quyền kiểm soát hay đàn áp, nhưng không thể vượt ra ngoài giới hạn mà luật pháp ấn định, giống như con chim tự do bay nhảy trong một cái vườn có lưới bao bọc chung quanh. Nếu là một con chim nhỏ bé với đôi cánh mỏng manh thì không gian của cái vườn đó đã là một bầu trời rộng. Nhưng nếu là con đại bàng với đôi cánh có thể bay ngàn dặm thì không gian của cái vườn kia quá chật hẹp đối với nó. Tương tự như vậy, một người bình thường sẽ cảm thấy mình mất tự do khi lời nói và hành động bị kẻ khác khống chế. Còn nếu không ai đụng đến mình thì người ta cảm thấy là mình được tự do rồi.

Nhưng đó là thứ tự do tương đối, bởi vì trên thực tế con người còn bị chi phối và lệ thuộc bởi chính những sợi dây trói buộc vô hình hiện hữu bên trong nội thể của họ làm cho họ phải tùng phục theo một cách tuyệt đối. Rằng chúng ta có thể không bị người nào khống chế quyền tự do ăn nói và hành động, nhưng chúng ta từ lâu lắm rồi đã là kẻ nô lệ cho những thế lực khác! Thế lực đó là gì? Thế lực đó ăn nằm và sống chết với chúng ta trong từng hơi thở, có thể từ đời này sang đời khác, từ kiếp này qua kiếp nọ. Nó chính là lòng tham lam, giận dữ, thù hằn, đố kỵ, kiêu mạn, ngã mạn, ái dục, háo sắc, đam mê tiền tài danh vọng, u mê ám chướng, v.v… của chúng ta. Tất cả suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta đều bị chúng kiểm soát, ra lệnh, áp đặt, trói buộc.

Kỹ thuật khống chế của chúng tài tình và khôn khéo đến mức chúng ta sung sướng làm kẻ nô lệ cho chúng mà chưa một lần trách móc. Lòng tham ăn sai chúng ta đi kiếm món ngon mà ăn thì chúng ta vừa nghe đã chảy nước miếng và vội vàng lái xe đến tiệm ăn để gọi là thết đãi cho mình, mà không biết là hoàn toàn chỉ cho nó. Lòng tự ái, ngã mạn thúc giục chúng ta phải vỗ ngực xưng tên để thị uy với kẻ dám coi thường mình. Lòng háo sắc giục giã chúng ta theo đuổi người đẹp để làm kẻ kết tóc se duyên, vậy là chúng ta không những làm theo mà còn làm nhiều hơn mức được yêu cầu. Lòng giận dữ thôi thúc chúng ta ăn miếng trả miếng một cách tàn bạo đối với bất kỳ ai dám động đến tên tuổi, địa vị, quyền lực và lợi ích cá nhân của chúng ta. Từ lúc còn nhỏ bé cho đến khi già yếu sắp lìa đời, chúng ta tốn bao nhiêu sức lực và tâm huyết để xây dựng cái gọi là cá tính, uy tín, thanh danh của mình mà thực chất chỉ là bản ngã. Cái bản ngã ấy lớn dần theo tuổi đời của chúng ta và chúng ta luôn luôn tự hào về nó mà không biết rằng đó chỉ là một thứ giả danh không có thật.

Đức Phật đản sinh và lớn lên trong cung thành Ca-tì-la-vệ (Kapilavastu), nơi mà phụ thân của Ngài, Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) là một vị vua hay đúng hơn là một tộc trưởng của dòng họ Thích-ca (Shakya). Mặc dù sống trong gia tộc sát-đế-lợi (Kshatriya), đức Phật thường xuyên chiêm nghiệm về ý nghĩa của đời người. Ngài nhìn thấy tất cả mọi sự mọi vật trên trần gian đều trôi theo dòng thác lũ vô thường và bị trói buộc trong đau khổ. Ngài tự hỏi rằng làm sao để có thể có được sự tự do hay giải thoát rốt ráo? Để giải đáp vấn nạn này, đức Phật đã rời khỏi hoàng cung Ca-tì-la-vệ và sống cuộc đời của một tu sĩ trên núi tuyết Hi-mã-lạp Sơn. Sau nhiều năm tầm sư học đạo, đức Phật nhận ra rằng những phương pháp tu tập của những vị ẩn sĩ mà Ngài đã thọ giáo không đưa đến sự giác ngộ và giải thoát viên mãn như Ngài muốn. Vì thế, đức Phật ngồi thiền định dưới gốc cây tất-bát-la (sau khi đức Phật thành đạo thì được gọi là cây bồ-đề) để quán chiếu nguyên nhân, hậu quả và cách giải thoát khổ đau.

Duc Phat Ra Doi 02

Tự do là giải thoát tất cả mọi trói buộc, mọi vướng mắc. (Photo: www.pixabay)



Ngài thấy rằng con người có già chết (lão tử) vì có sinh ra (sinh), có sinh ra vì có hiện hữu (hữu), có hiện hữu vì bám chấp (thủ), có bám chấp vì có yêu thích (ái), có yêu thích vì có cảm thọ (thọ), có cảm thọ vì có xúc chạm (xúc), có xúc chạm vì có mắt tai mũi lưỡi thân và ý (sáu căn), có sáu căn vì có thân-tâm (danh sắc), có thân-tâm vì có nghiệp thức (thức), có nghiệp thức vì có vọng động (hành), có vọng động vì không nhìn thấy rõ bản chất các pháp là giả danh (vô minh). Rồi đức Phật thấu rõ bản chất giả hợp của 12 mắt xích này cho nên Ngài đã mở tung nó ra không còn vô minh, vì không còn vô minh nên không còn vọng động, vì không còn vọng động nên không còn nghiệp thức, vì không còn nghiệp thức nên không có thân-tâm, vì không có thân-tâm nên không có sáu căn, vì không có sáu căn nên không có xúc chạm, vì không có xúc chạm nên không có cảm thọ, vì không có cảm thọ nên không có yêu thích, vì không yêu thích nên không chấp giữ, vì không chấp giữ nên không hiện hữu, vì không hiện hữu nên không sinh, vì không sinh nên không già chết. Đó chính là sự tự do và giải thoát rốt ráo.

Trong Kinh Giải Thoát hay Tự Do (Nimokkha Sutta) thuộc Tương Ưng Bộ Kinh (Saṁyutta Nikāya), bản dịch tiếng Anh của Bhikkhu Sujato từ tiếng Pali, kể câu chuyện vào một đêm khuya nọ bỗng nhiên ánh sáng rực rỡ chiếu khắp cả Vườn Kỳ Hoàn (Kỳ Viên Tinh Xá) tại thành Sāvatthī (Xá-vệ) nơi đức Phật đang ở đó. Thì ra đó là ánh sáng của một vị trời đến đảnh lễ đức Phật. Khi đảnh lễ đức Phật xong ông đứng sang một bên và hỏi đức Phật rằng Ngài có biết sự tự do, sự giải thoát và sự viễn ly cho chúng sinh không? Đức Phật trả lời là Ngài biết. Rồi vị trời này hỏi tiếp rằng bằng cách nào mà đức Phật biết sự tự do, sự giải thoát, và sự viễn ly cho chúng sinh? Lúc đó, đức Phật trả lời cho vị trời kia rằng:

“Do chấm dứt sự yêu thích tái sinh; do chấm dứt tri giác và ý thức; do chấm dứt và tịch tịnh các cảm thọ mà ta biết sự tự do, sự giải thoát, và viễn ly của chúng sinh.”
           
Bản dịch của Bhikkhu Bodhi cho đoạn cuối bài kinh này như sau: “Do tận diệt sự yêu thích vào cuộc tồn sinh; do diệt trừ tri giác và ý thức; do chấm dứt và làm tịch tịnh các cảm thọ: Như vậy, này hiền giả, mà ta biết sự tự do, sự giải thoát, sự viễn ly cho chúng sinh.”
Bản dịch Việt ngữ của Hòa Thượng Thích Minh Châu trong Tương Ưng Bộ Kinh cho đoạn cuối của bài kinh này như sau:

“Hỷ, tái sanh đoạn tận,
Tưởng, thức được trừ diệt,
Các thọ diệt, tịch tịnh,
Như vậy này Hiền giả,
Ta biết sự giải thoát,
Thoát ly và viễn ly,
Cho các loại chúng sanh.”

Trong câu đầu, có chữ “bhava” mà Tự Điển Phạn-Anh Monier Monier-Williams, ấn bản của Đại Học Oxford, dịch là sự hiện hữu, sự tồn sinh, sự sinh ra, sự tái sinh, hay vòng sinh tử. Bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu và Bhikkhu Sujato đều dịch là “sự tái sinh,” trong khi Bhikkhu Bodhi thì dịch là “cuộc tồn sinh” hay “sự hiện hữu.”

Theo ý nghĩa mà đức Phật đã dạy trong đoạn kinh trên thì tự do hay giải thoát là sự bặt dứt mọi ý tưởng, mọi cảm thọ, mọi cuộc tồn sinh, chỉ có sự tịch lặng. Đây chính là cảnh giới, nếu có thể gượng ép dùng chữ nghĩa thế gian để nói, của tự do tuyệt đối, hay giải thoát cứu cánh. Đó cũng chính là cảnh giới Niết-bàn tịch tịnh, nơi không còn tồn tại bất cứ dạng thức hữu ngã nào. Vô ngã chính là Niết-bàn vậy.

Truyền thống tư tưởng và triết học Đông Tây xưa nay khi nói đến bất cứ điều gì, gồm con người, đều tiên quyết là sự khẳng định có một hữu ngã, bởi vì nếu không có một cái gì đó như là thực hữu thì chúng ta dựa vào đâu để suy nghĩ hay nói đến điều gì đó. Chẳng hạn, chúng ta không thể nói đến một con người mà đồng lúc không nghĩ rằng con người đang nói và con người được nói đến ấy có thật. Tương tự, chúng ta không thể nghĩ về một cái lọ hoa mà cùng lúc nghĩ rằng người đang nghĩ về nó và nó không hiện hữu. Triết gia René Descartes (1596-1650) nói rằng, “Tôi suy tư, vậy nên tôi hiện hữu” (I think, therefore I am). Nhưng, triết gia Martin Heidegger (1889-1976), trong bài giảng vào năm 1929 và sau đó trong “Giới Thiệu Siêu Hình Học” (Introduction to Metaphysics) đã từng nêu ra một câu hỏi mà ông gọi là câu hỏi căn để nhất của siêu hình học rằng, “Tại sao lại có cái gì đó thay vì không là gì cả?” (Why is there something rather than nothing?) Ông đã giải thích rằng người ta không thể nắm bắt được cái “không có gì” bằng các phép tính hợp lý, nhưng nó biểu thị cho chúng ta qua sự lo âu mang tính hiện sinh sâu thẳm. Ông nói rằng khi chúng ta đối diện sự lo âu sâu thẳm, không phải nỗi lo bình thường, thì thế giới quen thuộc “trượt đi” mất, để lại chúng ta đối diện với chân trời trống rỗng. Kinh nghiệm này cho thấy rằng “không có gì” không phải là trống rỗng, mà là một đối tác quan trọng đối với chính sự hiện hữu. Có điều, cái “không có gì” đó của Heidegger chỉ là mặt phản diện của cái “có gì” đó, bởi vậy, Heidegger vẫn không vượt qua được khái niệm hữu ngã trong tất cả mọi hiện tượng.

Tuy nhiên, Bồ-tát Long Thọ (Nāgārjuna) đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng tất cả các pháp đều là Không, không có tự ngã, bởi vì chúng được sinh ra do sự giả hợp của nhiều duyên, nhiều điều kiện. Và cũng chính nhờ tánh không mà các pháp được sinh thành. Trong Căn Bản Trung Luận Tụng (Mūlamadhyamakakārikā), qua bản dịch chữ Hán của ngài Cưu-ma-la-thập (Kumārajīva), viết rằng: “Do có tính không mà tất cả các pháp được thành tựu. Vì không có tính không nên tất cả các pháp không thành tựu.” Dĩ nhiên, cái tính không này không thể hiểu là đối nghịch với cái có. Cái không đối nghịch với cái có là cái không không có gì cả, là hư vô, là trống không. Trong khi cái tính không mà ngài Long Thọ đề cập là bản chất không có tự ngã trong tất cả các pháp đang hiện hữu, đang có mặt.

Chính ở điểm này mà ngài Long Thọ đã cảnh giác trong Trung Luận rằng nếu không hiểu nhị đế, gồm chân đế (paramārtha satya) hay đệ nhất nghĩa đế và tục đế (saṃvṛtisatya) thì sẽ không hiểu được lời Phật dạy. Ngài nói rằng giáo pháp mà đức Phật dạy nằm trong hai sự thật: sự thật tương đối (tục đế) và sự thật tuyệt đối (chân đế). Theo đó, sự thật tuyệt đối chỉ có thể đạt được bằng sự tu chứng viên mãn, tức là Niết-bàn. Đây là cảnh giới vượt ngoài tâm thức phân biệt, vượt qua giới hạn của ngôn ngữ có thể diễn đạt. Trong khi đó, sự thật tương đối là cảnh giới mà Phật Giáo thừa nhận các pháp tồn tại trong mối tương quan duyên khởi, tức là có hiện hữu nhưng luôn biến dịch và không có tự ngã thật sự. Đó là sự hiện hữu của thế giới, của chúng sinh, của con người, của sanh tử luân hồi, của sanh già bệnh chết, của khổ đau và hạnh phúc, v.v… Vì vậy, đức Phật mới ra đời để có thể tu tập và giải thoát cho mình và người, và cũng vì vậy Ngài mới có thể mở toang cánh cửa tự do cho chúng sinh. Nếu không có gì cả trên đời này, thì không cần phải tu chứng, không cần phải giác ngộ và giải thoát, không cần làm điều thiện và tránh điều ác.

Nói tóm lại, tự do hay giải thoát có thể đạt được qua hai cấp độ. Ở cấp độ tục đế, tức trong cuộc sống thường nghiệm, tự do là trạng thái tâm thức không còn bị trói buộc hay chấp trước vào những gì xảy ra trong cuộc sống hàng ngày khi sáu căn (nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân và ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp). Hay nói cách khác, tự do là lúc con người không còn bị tham, sân, si… khống chế và sai sử, mà làm chủ được chính mình. Ở cấp độ chân đế, tự do hay giải thoát là sự chứng nhập Niết-bàn, nơi không còn tư tưởng, ý thức, cảm thọ, và tái sinh; nơi vượt ngoài phạm vi của tư tưởng và ngôn ngữ; nơi tịch tịnh vô ngôn.   
  

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Phế tích của ảo ảnh, nhan đề một tập thơ của nhà thơ Trịnh Y Thư, do Nhà xuất bản Văn Học Press ấn hành năm 2017 tại Hoa Kỳ. Một nhan đề chất chứa không biết mấy lớp không gian và thời gian, không biết mấy thức của cảm xúc; nó như một sợi chỉ mà khi kéo ra chỉ thấy vô tận. Điều gì làm hoang mang và quyến rũ tôi đến vậy? Chữ “Phế tích” tác giả dùng cho “Ảo ảnh” khiến cảm xúc cuốn theo chiều hút của vực thẳm, trong đó nỗi hoài niệm treo lơ lửng trên dốc thời gian, lịch sử và thân phận, như một thách thức...
Chiều thứ Bảy 23 tháng 8 sắp tới đây, chúng ta sẽ được xem màn trình diễn Hợp Xướng "Chinh Phụ Ngâm" lần đầu tiên ở Hoa Kỳ. Nhà hát Rose Center Theater chuyên dùng cho các buổi hoà nhạc hay nhạc kịch ở Quận Cam sẽ là nơi vở hợp xướng trang trọng này được diễn ra. Cùng với màn hợp xướng, Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng sẽ giới thiệu Chương Trình Ca Vũ Nhạc Kỷ Niệm 50 năm viễn xứ "Cánh cò xa xứ" tại đây. Rất phấn khởi với tin tức này, tôi lại có cơ duyên quen biết và tiếp xúc với Nhạc Sĩ Vũ Đình Ân, tôi tìm gặp ông để tìm hiểu thêm về vở hợp xướng "Chinh Phụ Ngâm".
TÔI LÀ AI? Dường như mãi mãi là một câu hỏi cho cuộc sống của con người tại thế. Và câu trả lời của nó, hẳn nhiên, không thể và không chỉ là một cụm từ, cho dù có thể sâu xa đến đâu. Phùng Thanh Hà, một phụ nữ tôi quen biết, tuy cùng ở một thành phố nhưng phải đánh một vòng đến Thuỵ Sĩ, qua một người bạn (đạo diễn Síu Phạm), tôi mới gặp được cô ấy. Tôi kể điều này để muốn nói rằng, tương ngộ là tuỳ duyên, không chỉ trong các mối quan hệ mà còn là những vấn đề liên quan, những cơ sự sắc tướng hoặc vô sắc tướng nơi mỗi cá nhân.
Độc giả Việt Báo hẳn đã quen với Bùi Chát – nhà thơ – qua nhiều thi phẩm đặc sắc từng đăng tải trên trang báo này suốt bao năm qua. Tuần rồi, Việt Báo vừa giới thiệu tập thơ mới Chúng Ta Đang Trôi Đi Đâu với bài viết của Nguyễn Đức Tùng. Hôm nay, mời bạn đọc gặp lại một Bùi Chát - người họa sĩ. Anh đang có cuộc triển lãm tranh mang tên “đang trôi” khai mạc từ hôm nay và kéo dài đến hết ngày 24 tháng 7, tại Sài Gòn – một dịp hiếm quý dành cho các độc giả Việt Báo hiện đang có mặt tại Tân Định.
Nay ăn nhờ ở đậu nơi đất nước người, lấy chi mà “những điều trông thấy” kiểu như ngày xưa ấy. Nhưng thấy ý kiến của “bà hàng xóm” là một giải pháp khả dĩ, tôi nghĩ phải làm sao cho ra một bài viết vui vui thích hợp với xã hội đang sống. Trăn trở mãi rồi cũng eureka. Tôi đặt cái khung cho những bài mà tôi gọi là “phiếm”. Thứ nhất, đề tài bám vào những chuyện thời sự, nhất là những chuyện có liên quan nhiều tới cộng đồng người Việt sinh sống rải rác khắp nơi trên thế giới. Thứ hai, phải viết với lối văn vui vui, tếu tếu nhưng vẫn giữ chừng mực. Thứ ba, phải có hơi hướm văn chương bằng cách dùng những giai thoại hoặc/và những chuyện thực nhưng vui khi tiếp xúc với các bạn văn.
“Sự thật bắt đầu bằng tưởng tượng.” Không phải là câu nói cao siêu rỗng, mà phải nghiền ngẫm rất lâu trong hệ lụy thăng trầm mới có thể cảm nhận. Đó là lý do người ta thường đố: sự thật ở đâu? Không ai thấy rõ sự thật nên nó trở thành phương tiện cho tôn giáo, mục đích cho khoa học, triết học, và giấc mơ cho văn chương nghệ thuật. Cũng là một thứ bình phong, mồi nhử, cạm bẫy trong đời sống thường nhật cho những người bình thường dễ tin.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.