Hôm nay,  

Vũ Hoàng Thư: Từ Quê Hương Tinh Thần Đến Tổ Quốc Trăm Năm

19/09/202622:48:00(Xem: 145)

Vũ Hoàng Thư: Từ Quê Hương Tinh Thần Đến Tổ Quốc Trăm Năm

--- Lời phát biểu trong buổi ra mắt sách của Lê Lạc Giao


(Việt Báo: Buổi ra mắt sách TỔ QUỐC TRĂM NĂM, Hồi Ký Tiểu Thuyết của Lê Lạc Giao, đã thực hiện chiều Thứ Bảy 19/9/2026 tại Coffee Factory, Westminster. Với MC ThụyVy. Các ca sĩ Thương Linh, Thái Hoàng, Lại Tôn Dũng, Băng Tâm (đoàn Lạc Hồng). Các diễn giả Phạm Quốc Bảo, Vũ Hoàng Thư, Tô Đăng Khoa và Phan Tấn Hải.)

blank

Kính thưa quý vị,

Tháng Sáu, năm mươi mốt năm trước, bắt đầu bằng một lời hứa ba mươi ngày của Ủy ban Quân Quản TP Sài Gòn. Ba mươi ngày để học tập, để rồi ba mươi ngày trôi qua, tháng nối tháng, năm chồng lên năm của tù đày cải tạo, và có những người đã không bao giờ trở về. Mùa hạ năm ấy, chiến tranh được tuyên bố là đã chấm dứt, nhưng đối với hàng trăm ngàn quân cán chính miền Nam, một cuộc chiến khác vừa mở ra: cuộc chiến không còn tiếng súng, chỉ còn tường cao, vọng gác, đói rét, lao động cưỡng bách và sự chờ đợi mòn mỏi kiếp người.

Tổ Quốc Trăm Năm của Lê Lạc Giao đi ra từ mùa hạ đó. Qua nhân vật Hảo, tác giả kể lại tám năm lưu đày từ Long Thành, Thủ Đức, Tân Lập, Nam Hà đến trại Z30D. Nhưng nếu chỉ đọc tác phẩm như một hồi ký tù cải tạo, chúng ta sẽ bỏ lỡ phần sâu xa và đáng nói nhất của cuốn sách. Nhà tù trong tác phẩm không chỉ giam giữ thân xác. Nó còn tìm cách chiếm đoạt ký ức, đổi tên con người, tái định nghĩa căn cước của kẻ chiến bại và buộc họ phải nhìn chính mình qua những danh xưng do quyền lực áp đặt. Trước năm 1975, Hảo là một sĩ quan, sau đó anh trở thành “ngụy quân”, “đối tượng cải tạo”, “lao động cải tạo”, rồi “tù nhân”. Mỗi tên gọi là một vòng kẽm gai quấn thêm vào căn tính.

blank


Vậy mà ở giữa hệ thống muốn biến con người thành một hồ sơ ấy, Hảo vẫn giữ được một vùng của riêng mình không ai xâm phạm hay giành giật nổi. Vùng ấy không có tường thành, không có bản đồ, nhưng có một cái tên thân thuộc: miền Nam. Hay gần gũi hơn nữa: Nha Trang.

Trong Tổ Quốc Trăm Năm, Long Thành, Tân Lập, Nam Hà là những địa danh của lưu đày. Nha Trang lại là nơi chốn của trở về. Nha Trang hiện lên khi Hảo ăn một chén cháo loãng mà chợt nhớ đến ông nội và mẹ. Khi gặp một người từng sống ở Đồng Đế, anh đã nghe trong giọng nói xa lạ một chút hương âm đồng điệu. Khi nhắc đến Phú Vinh, chiếc ga xe lửa cô đơn và con đường rầy chạy vào chân núi từ thời thơ ấu bỗng trở về. Nha Trang không còn là một thành phố bên ngoài song sắt. Nha Trang đã chuyển từ địa lý vào tâm thức, từ quê hương như lãnh thổ thành quê hương như ký ức.

Chính trong sự chuyển dịch âm thầm ấy, văn hóa miền Nam trở thành một quê hương tinh thần. Khi quyền công dân, tự do và tương lai đều bị tước đoạt, người tù vẫn còn thơ Đường, Truyện Kiều, Kim Dung, một câu “Hoa lạc tri đa thiểu”, một lời hát Mưa Rừng trong tiếng mưa đêm trên mái trại tù, mùi thuốc lào, ổ bánh mì Sài Gòn, một giọng nói quê nhà. Mới nghe qua, toàn là những điều nhỏ bé, tưởng chẳng có sức mạnh gì đối đầu với súng đạn và nhà tù. Nhưng đôi khi cái nhỏ bé nhất lại là nơi cái toàn thể ẩn mình. Một câu thơ có thể mở lại cả bầu trời xưa cũ. Một tiếng mưa có thể gọi về căn nhà đã mất. Một mùi vị thoảng qua cũng đủ làm sống dậy một miền Nam mà lịch sử vừa xóa tên trên bản đồ chính trị.
 
blank

 
Lê Lạc Giao không để Hảo chống lại nhà tù bằng những hành động anh hùng khác thường. Anh chống lại sự hủy diệt bằng khả năng nhớ. Nhớ, ở đây, không phải là quay lưng với hiện tại để trú ẩn trong hoài niệm. Nhớ là giữ cho mình không bị biến thành kẻ khác. Nhà tù có thể quy định giờ thức, giờ ngủ, phần ăn, công việc và cả tên gọi của người tù nhưng nhà tù không thể ra lệnh cho một tiếng mưa phải gợi lên điều gì trong tâm trí tù nhân, hoặc một câu Kiều phải đi về đâu trong lòng người, hay Nha Trang phải chết lúc nào trong ký ức. Văn hóa vì thế là thành trì cuối cùng của nhân phẩm. Đó là hình thức phản kháng lặng lẽ nhất, mà cũng bền bỉ nhất, của con người miền Nam trước một guồng máy muốn đồng hóa quê hương với chủ nghĩa xã hội, muốn tình yêu đất nước phải đi qua một ý thức hệ duy nhất.

Từ vùng tự do nội tâm ấy, tác phẩm đi đến điểm thứ hai, mà theo tôi là tư tưởng quan trọng nhất của Lê Lạc Giao trong tác phẩm này: từ ý thức hệ đến Tổ Quốc Trăm Năm như một triết lý lịch sử hậu chiến.

Lịch sử của những cuộc nội chiến thường được viết bằng tiếng nói của người chiến thắng. Người thắng trận không chỉ chiếm lĩnh lãnh thổ mà còn giành quyền đặt tên quá khứ, phân chia chính nghĩa và phi nghĩa, quyết định ai được nhớ và ai phải bị quên. Tổ Quốc Trăm Năm được viết từ phía những người thất trận, nhưng cuốn sách không dừng lại trong tâm thế thất trận. Nó khởi đi từ nỗi đau của một cộng đồng để bước tới một câu hỏi lớn hơn: có một Tổ quốc nào rộng hơn phần đất của bên thắng cuộc, dài hơn tuổi thọ của một chế độ, và đủ chỗ cho ký ức của mọi người Việt Nam hay không?
 
blank


Câu trả lời của Lê Lạc Giao nằm trong chính nhan đề tác phẩm, Tổ Quốc Trăm Năm. Tổ Quốc Trăm Năm không phải là tổ quốc của một chính quyền, một đảng phái hay một thế hệ. Đó là Tổ quốc được nhìn trong chiều dài lịch sử, nơi mọi chế độ chỉ là những kẻ tạm thời đi ngang qua. Chủ nghĩa có thể thành công hoặc thất bại, có thể đem đến vinh quang cho người này và nhục nhã cho người khác, nhưng dân tộc đã hiện hữu trước mọi chủ nghĩa và sẽ còn lại sau khi những chủ nghĩa ấy tàn phai. Vì vậy, lòng yêu nước của một Tổ Quốc Trăm Năm phải độc lập với ý thức hệ. Nó sinh ra từ nỗi xót xa trước bi kịch chung, từ ý thức rằng không phe nào có quyền thu nhỏ đất nước bằng chiến thắng của mình.

“Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta.” Tôi nghĩ đây là câu nói mang sức nặng triết học nhất của tác phẩm. Nó đảo ngược vị trí của con người trước lịch sử. Hôm nay, chúng ta thường vội vàng nhân danh lịch sử để phán xét nhau nhưng trong cái nhìn trăm năm, chính chúng ta mới là những người sẽ bị lịch sử phán xét. Điều hôm nay được dựng lên như chân lý vĩnh cửu, ngày mai có thể chỉ còn là một sai lầm. Điều hôm nay được tung hô như chiến thắng tuyệt đối, trong ký ức mai sau có thể chỉ là một vết thương dân tộc chưa khép miệng. Tổ Quốc Trăm Năm vì thế không phải là triết lý của chiến thắng hay thất bại. Đó là triết lý của sự khiêm tốn trước lịch sử.

Sự khiêm tốn ấy không đòi hỏi chúng ta quên nhà tù, xóa nhòa tội ác hay đánh đồng kẻ gây khổ đau với người gánh chịu khổ đau. Trái lại, nó buộc chúng ta phải nhớ cho đúng, phải trả lại tiếng nói cho những ký ức từng bị đẩy ra bên lề. Nhưng nhớ để thấu hiểu, không phải để dựng thêm một nhà tù khác trong tâm tưởng. Sau năm 1975, chiến tranh đã chấm dứt trên chiến trường nhưng vẫn tiếp tục trong ngôn ngữ, trong sách giáo khoa và trong cách người Việt nhìn nhau. Muốn thật sự chấm dứt cuộc chiến, chúng ta phải học cách sống với ký ức thay vì sống bằng ký ức: mang quá khứ theo mình mà không để bóng ma quá khứ giam giữ tương lai.

Ở điểm này, hai mạch tư tưởng tưởng như khác biệt của cuốn sách gặp nhau. Văn hóa miền Nam giữ cho Hảo còn là Hảo giữa nhà tù; Tổ Quốc Trăm Năm giúp anh vượt khỏi căn cước chỉ được tạo nên bởi nhà tù. Một bên bảo tồn cái riêng không được phép đánh mất: ký ức Nha Trang, tiếng nói miền Nam, nền giáo dục nhân bản, tình bạn và phẩm giá của người thất trận. Và một bên kia mở cái riêng ấy vào số phận chung của dân tộc. Không có ký ức, hòa giải chỉ là sự quên lãng do kẻ mạnh áp đặt. Nhưng nếu chỉ có ký ức mà không có một chân trời lớn hơn, con người sẽ mãi là tù nhân của thương tích. Tổ Quốc Trăm Năm chính là chân trời lớn hơn ấy.
 
blankblank

 
Bởi vậy, hành trình của Hảo từ Long Thành đến ngày trở về không chỉ là đường đi của một người tù qua những trại giam. Đó còn là hành trình từ một miền Nam bị tước mất lãnh thổ đến một miền Nam được bảo tồn trong văn hóa, từ căn cước bị ý thức hệ gọi tên đến căn cước được lịch sử dân tộc trả lại, từ nhà tù của kẻ chiến bại đến khoảng trời của một Tổ quốc không thuộc riêng kẻ thắng hay người thua.

Con người có thể có nhiều quê hương trong đời, nhà văn Lê Lạc Giao viết, nhưng chỉ có một Tổ quốc. Và có lẽ sau hơn nửa thế kỷ ly tán, điều cuốn sách gửi đến chúng ta không chỉ là lời chứng về những năm tháng tù đày, mà còn là một lời mời: hãy mang ký ức trở về, đặt nó dưới bầu trời rộng hơn mọi ý thức hệ, để một ngày nào đó người Việt có thể gặp lại nhau – không phải trong bóng tối của nhà tù lịch sử, mà trong ánh sáng của Tổ Quốc Trăm Năm.

Xin trân trọng giới thiệu cùng quý vị tác phẩm Tổ Quốc Trăm Năm của nhà văn Lê Lạc Giao và xin chúc mừng anh!
 

Vũ Hoàng Thư
19/9/2026

Người ta thường gói ghém một cuộc đời trong dăm ba trang giấy để gọi là hồi ký. Người ta cũng thường dùng thước đo của 10 năm, 20 năm, 30 năm… để hoài niệm một điều gì đó, cho dù là hạnh phúc hay mất mát. Nhưng không dễ gì để tái hiện cả một cuộc đời dài 80 năm, trong đó có lịch sử, có tình yêu, có nhân quả, có triết lý sống, có ân tình, có nghệ thuật, có tài năng… chỉ trong một đêm. Vậy mà, Đêm-Khánh-Ly-80-Tuổi, đã làm được điều đó.
Bước vào phòng triển lãm, ba bức tranh đầu tiên bên tay phải đập vào mắt người thưởng ngoạn là ba tác phẩm của họa sĩ Ann Phong: “I Told You, The Earth Is Warming Up”; “Looking Back, Looking Forward”; “If We Don’t Care For Nature, It Will Disappear.” Chọn ba tác phẩm này cho cuộc triển lãm, họa sĩ giải thích: “Các tác phẩm nghệ thuật của tôi phản ánh mối quan hệ giữa người với người; trách nhiệm mà chúng ta phải có đối với trái đất nơi chúng ta đang sống. Thật đau lòng khi chứng kiến ​​thiên nhiên bị tàn phá bởi lòng tham và sự thiếu hiểu biết của con người. Có vẻ như khi chúng ta càng làm cho cuộc sống của mình trở nên tiện nghi, thì chúng ta càng tạo ra nhiều ô nhiễm hơn; càng làm cạn kiệt tài nguyên của trái đất một cách bất cẩn hơn…”
Quý bạn yêu nhạc muốn ủng hộ đêm nhạc Mắt Nâu với những tình khúc của Hoàng Tử Bé - Jayden Nguyễn tại Coffee Factory (15582 Brookhurst St, Westminster, CA 92683) vào ngày Lễ Tình Nhân, Thứ Sáu, 14 tháng 2, xin vui lòng nhắn tin đến 714-592-8941 để đặt vé.
Tuyết rơi như lông ngỗng, như hoa rụng tùng chùm, bám trên nóc xe, trắng xóa mặt đường và tan dưới lằn bánh xe cán ngang. Hơi lạnh len cả vào chân tóc. Mùa Đông thật sự đã đến.
Nếu "Lữ Hành" là cuộc hành trình thơ thới và bất tận của loài người và được ông sáng tác tại Sàigòn vào năm 1953 đầy hy vọng thì "Dạ Hành" là lúc con người đi trong đêm tối. Mà bóng tối ở đây không là một khái niệm về thời gian khi thiếu ánh mặt trời. Bóng tối là chông gai hiểm hóc của phận người và ca khúc cũng được viết tại Sàigòn nhưng mà là Sàigòn khói lửa của chiến chinh tham tàn năm 1970. Rồi Phạm Duy mới nói về cuộc đi bình thường là bài "Xuân Hành", sáng tác năm 1959, ở giữa hai bài hành kia. Hành trình bình thường và muôn thuở như câu hỏi đầy vẻ triết học là "người là ai, từ đâu tới và sẽ đi về đâu ".... Ngươi từ lòng người đi ra rồi sẽ trở về lòng người. Người vừa là thần thánh, vừa là ma quỷ, biết thương yêu dai mà cũng biết hận thù dài…. Nhất là biết vui buồn giữa hai nhịp đập của con tim, ngay cả khi tim ngừng đập.
Bài viết của nhà thơ Ngu Yên ở Texas “Cảm Xúc Trong Tiếng Hát” có nhiều điều lý thú trong lãnh vực âm nhạc. Ngu Yên đã dấn thân trong hai lãnh vực Thơ, Nhạc… Ngoài các tập thơ đã được ấn hành, khoảng cuối năm 1995 ở Houston, Ngu Yên tổ chức những buổi ra mắt sách, băng nhạc, CD và tổ chức những buổi trình diễn ca nhạc. Năm 1998, Ngu Yên đứng ra thành lập nhóm Viet Art Productions để thỏa mãn sự ham vui theo sở thích cùng nhau vui chơi, tổ chức trên 50 buổi trình diễn như đại hội chợ, trong những dịp lễ, sinh hoạt cộng đồng… ngoài Texas còn có nhiều nơi khác. Vì vậy trong lãnh vực âm nhạc, Ngu Yên có kinh nghiệm và khả năng viết về đề tài nầy… Qua bài viết của tác giả Ngu Yên tạo cho tôi cảm hứng góp phần chia sẻ với “lời bàn Mao Tôn Cương” tế nhị vì cũng ngại làm phật ý với “ca sĩ” trình diễn và góp ý thêm cho sinh động trong chuyện vãn.
Thứ Tư, ngày 15 tháng 1, 2025, gia đình và đông đảo bạn hữu đã đưa tiễn họa sĩ/nhà văn Khánh Trường về nơi an nghỉ ở Peek Family, Westminster. Chương trình tang lễ ngắn gọn nhưng ấm cúng, thân tình, và thật cảm động với nhiều lời phát biểu chia sẻ của gia đình và nghệ sĩ thân hữu. Việt Báo đã đăng tải và chia sẻ nhiều bài viết từ bạn bè, văn hữu trong số báo đặc biệt về Khánh Trường ngày 3 tháng 1, 2025, sau đây là bài điếu văn của con gái út của Khánh Trường, Annie Nguyễn Trường An, đọc bởi chồng Cô trong buổi tang lễ bằng tiếng Anh, Lê Anh Dũng biên dịch sang tiếng Việt.
Khi con đọc những dòng này, ta không còn nữa. Nhiều người quanh đây có lẽ cũng không còn nữa. Lịch sử thay đổi nhanh đến chóng mặt. Ta nhớ năm 1982, một người bạn bảo rằng trong tương lai khi nói chuyện điện thoại, người ta có thể nhìn thấy mặt nhau. Điều ấy là không thể tưởng tượng được. Nhưng vào lúc này, bốn mươi năm sau, mọi thứ diễn ra đúng như vậy. Bốn mươi năm sau nữa, con sẽ ở đâu, làm gì, kỹ thuật tiến bộ đến đâu, ta không biết. Không ai biết. Nếu con đọc lại những dòng này, hãy nghĩ đến ngày hôm nay.
Trước thềm năm mới 2025 DL, thay mặt toàn thể ban biên tập và trị sự Việt Báo Daily News, chúng tôi xin kính chúc quý độc giả, các thân hữu, văn thi nhạc sĩ, cộng tác viên, quý thân chủ quảng cáo, mạnh thường quân… một năm mới an khang, thịnh vượng.
Trong vở hài kịch “As You Like It,” thi hào và kịch tác gia người Anh William Shakespeare (1564-1616) có một câu thoại nổi tiếng: “Cuộc đời này là một sân khấu, Và tất cả nam nữ đều là diễn viên; Họ xuất hiện và ra đi; Và một đời người đóng nhiều vai, Và tuổi thọ của hắn kéo dài trong một vở kịch bảy màn.” Trong câu thoại ở trên, chúng ta thấy Shakespeare nói đến hai điều liên quan đến thân phận con người: Tất cả mọi người đều là diễn viên trên sâu khấu cuộc đời, và đời người thật ngắn ngủi được ẩn dụ trong một vở kịch kéo dài bảy màn. Là diễn viên trên sân khấu cuộc đời, con người có thể là chủ nhân của những hành vi mà họ thao tác, nhưng cũng có thể con người chỉ diễn xuất theo kịch bản của ai đó soạn ra. Trường hợp đầu thì chính con người là tác nhân của những gì họ diễn xuất. Nói cách khác con người thể hiện vai trò của mình trên sân khấu cuộc đời qua chính những gì họ suy nghĩ, nói và hành động, hay nói theo Đạo Phật là các hành nghiệp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.