Hôm nay,  

Tô Đăng Khoa: Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta

19/09/202622:58:00(Xem: 147)

Tô Đăng Khoa: Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta
 

--- Lời phát biểu trong buổi ra mắt sách của Lê Lạc Giao
 

(Việt Báo: Buổi ra mắt sách TỔ QUỐC TRĂM NĂM, Hồi Ký Tiểu Thuyết của Lê Lạc Giao, đã thực hiện chiều Thứ Bảy 19/9/2026 tại Coffee Factory, Westminster. Với MC ThụyVy. Các ca sĩ Thương Linh, Thái Hoàng, Lại Tôn Dũng, Băng Tâm (đoàn Lạc Hồng). Các diễn giả Phạm Quốc Bảo, Vũ Hoàng Thư, Tô Đăng Khoa và Phan Tấn Hải.)
 
blank 

Thưa quý vị,

Giữa gần bảy trăm trang của Tổ Quốc Trăm Năm, điều giữ tôi lại lâu nhất không phải một cuộc chuyển trại hay một nhận định chính trị. Đó là một ổ bánh mì.

Sau nhiều năm trong các trại miền Bắc, Hảo nhận được bánh: “Anh chăm chú nhìn nó như gặp lại người thân bấy lâu xa cách của mình.” Ở Little Saigon, ta còn đủ sung túc để tranh luận tiệm nào ngon hơn, nhưng ít ai nhìn bánh mì như nhìn người thân.

Tại sao lịch sử chứa nổi cuộc chiến mà không chứa nổi ánh mắt kia?

Lịch sử cần số người bị giam, chính sách và trại tù. Nhưng khi khái quát, một người dễ bị hút vào phạm trù “tù cải tạo.” Bánh mì thành bằng chứng của thiếu thốn. Ánh mắt Hảo biến mất. Đó là ý nghĩa của câu: Ký ức chống lại sự hấp thụ của lịch sử. Ký ức không chống sự thật; nó không để đời sống trở thành con số.
blankblank

Vũ Hoàng Thư đọc tác phẩm như biên niên sử của miền Nam thất trận: Hảo vừa là nạn nhân, vừa là nhân chứng. Tổ Quốc Trăm Năm mở ra vị thế thứ ba: thân chứng.

Là nạn nhân, Hảo bị gọi từ sĩ quan thành “ngụy quân,” “đối tượng cải tạo,” rồi tù nhân. Là nhân chứng, ông nói: việc ấy đã xảy ra; người này đã từng sống. Ông gọi lại những người lịch sử đã gom thành đám đông.

Thân chứng đi xa hơn sự xác nhận. Kinh nghiệm đi qua thân thể rồi thay đổi cách người ấy hiểu lịch sử. Nạn nhân hỏi: “Họ đã làm gì với tôi?” Nhân chứng nói: “Điều ấy đã xảy ra.” Thân chứng hỏi: “Tôi phải hiểu lại điều gì?”

blankblank

Sử liệu xác nhận tù nhân bị đói. Nhân chứng kể mình nhận bánh. Nhưng “nhìn nó như gặp lại người thân” truyền sang người đọc cái đói, phẩm giá và cảm giác được trở về làm người. Đó là độc điểm mà phạm trù “thiếu thốn vật chất” không giữ được. Văn chương trả lại phần đời sống lịch sử để rơi.

Người thắng gọi lịch sử là “giải phóng,” người thua gọi đó là “mất nước,” bộ máy gọi Hảo là “ngụy quân.” Lê Lạc Giao đưa ra một tên khác: Tổ Quốc Trăm Năm. Tên gọi ấy đặt chế độ dưới một thước đo dài hơn nó. Chính quyền có thể hưng vong; tổ quốc vẫn mang hậu quả.

blank
Đây là chỗ thân chứng khác nhân chứng. Nhân chứng giúp lịch sử gọi đúng tên sự kiện. Thân chứng giành lại quyền gọi tên chính lịch sử. Người từng bị lịch sử gọi tên nay đặt tên cho thời đại đã đi qua mình.

Ổ bánh mì không thay đổi lịch sử. Nhưng nếu lịch sử không còn chỗ cho ánh mắt ấy, nó đã trở nên quá chật đối với con người.

Tổ Quốc Trăm Năm mở lại chỗ ấy: “Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta.” Và tôi đồng cảm với anh Lê Lạc Giao và anh Vũ Hoàng Thư, đó là câu nói mang sức nặng triết học nhất của tác phẩm.

Tô Đăng Khoa
19/9/2026



Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Phế tích của ảo ảnh, nhan đề một tập thơ của nhà thơ Trịnh Y Thư, do Nhà xuất bản Văn Học Press ấn hành năm 2017 tại Hoa Kỳ. Một nhan đề chất chứa không biết mấy lớp không gian và thời gian, không biết mấy thức của cảm xúc; nó như một sợi chỉ mà khi kéo ra chỉ thấy vô tận. Điều gì làm hoang mang và quyến rũ tôi đến vậy? Chữ “Phế tích” tác giả dùng cho “Ảo ảnh” khiến cảm xúc cuốn theo chiều hút của vực thẳm, trong đó nỗi hoài niệm treo lơ lửng trên dốc thời gian, lịch sử và thân phận, như một thách thức...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.