Hôm nay,  

Chiêu Độc Tháng Mười

09/10/200400:00:00(Xem: 6626)
Người ta chưa thấy hai ứng viên tổng thống Mỹ tung chiêu bất ngờ trong tháng Mười thì hình như al Qaeda đã ra tay trước. Kết quả: Bush 1, Kerry 0.
Đúng một ngày trước khi hai ứng cử viên Bush và Kerry tái đấu trên diễn đàn tranh luận thì một loạt ba vụ nổ đã làm rung chuyển biên giới Israel với Egypt. “Độc chiêu tháng Mười” mà tác giả bài này đã viết hồi đầu tuần (Việt Báo, số Thứ Hai, mùng bốn) quả là đến hẹn lại lên, nhưng từ một nơi bất ngờ.
Xin hãy nói trước về diễn biến, sau đó là phần diễn giải.
Hai nước cừu thù ngày xưa là Egypt và Isreal nay đã có quan hệ tương đối bình thường - điều khá bất thường tại Trung Đông. Du khách Israel thường đổ qua nghỉ mát tại bán đảo Sinai, ven Hồng Hải trong vịnh Eilat của Egypt. Hôm mùng bảy, liên tiếp ba trung tâm du lịch Taba (cách biên giới Israel chưa đầy 400 thước), Nuweiba và Ras al-Shitan bị đánh bom khi hơn 15.000 khách Do Thái qua đó nghỉ mát nhân mùa lễ Sukkot. Thiệt hại: 35 người chết, hơn 160 bị thương, đa số là du khách Do Thái, và khách sạn Hilton tại Taba của Egypt bị tiêu hủy.
Chuyện đó có liên hệ đến Hoa Kỳ.
Ngay sau vụ nổ đầu tiên, tổ chức khủng bố Hamas của Palestine đã tự nhận công trạng, nhưng điều đó đáng ngờ. Sau đấy, tới lượt một tổ chức chưa ai biết là gì dưới danh xưng rất mới Jemaah Islamiyah đã nhận công. Nhóm này có thể chỉ là một diện khác của al Qaeda, cùng tên như nhóm Jamaah Islamiyah tại Indonesia (Nam Dương).
Về Hamas thì các nhóm võ trang Palestine khó có khả năng thực hiện việc đó, lại trên đất Egypt là quốc gia yểm trợ Palestine và đang làm môi giới dàn xếp giữa chính quyền Palestine, các nhóm khủng bố và chính quyền Israel. Vẫn biết rằng nhiều thủ lãnh al Qaeda là người Palestine (như Tư lệnh lực lượng võ trang Abu Zubaydah của al Qaeda bị bắt tại Pakistan năm 2002), nhưng tự thân, Hamas khó tiến hành nổi một việc có quy mô như vậy trên đất Ai Cập. Cùng lắm thì chỉ giữ vai trò chỉ điểm và yểm trợ.
Yểm trợ cho ai" Câu trả lời có thể là al Qaeda, với kỹ thuật đánh nhồi rất đặc thù.
Hãy phân tách chuyện này mà xem.
Dư luận Mỹ thường chú ý tới nhãn hiệu hơn là nội dung cho nên nói tới al Qaeda là nghĩ đến bin Laden nay vẫn chưa sa lưới và cho rằng Hoa Kỳ chưa làm nên chuyện.
Hôm mùng một tuần trước, al Qaeda đã tung ra băng ghi âm của lãnh tụ số hai sau Osama bin Laden, là Ayman al-Zawahiri. Cuốn băng kêu gọi thanh niên Hồi giáo chú ý vào cuộc xung đột giữa Palestine và Egypt và còn khẳng định rằng Thánh Chiến phải mở rộng tới các quốc gia ủng hộ Israel. Al-Zawahiri là người Egypt (Ai Cập). Loạt khủng bố vừa qua có thể là một minh chứng của al Qaeda, nối tiếp lời kêu gọi của al-Zawahiri.
Các lãnh tụ al Qaeda thực ra có thể đang thất thế và còn bị thế giới Hồi giáo than phiền là chỉ lo đánh Mỹ mà không thiết thực hỗ trợ các cuộc đấu tranh của Hồi giáo, thí dụ như của dân Palestine. Ngoài ra, al Qaeda cũng có nhu cầu đốt ngọn đèn sáng thể thu hút nhân sự Palestine cực đoan, như đặc công của Hamas hay Thánh Chiến Palestine (Palestinian Islamic Jihad - PIJ). Vì hai lý do ấy, giả thuyết al Qaeda ra tay tại Egypt không là mơ hồ.
Huống hồ là vai trò của người Egypt trong al Qaeda.

Về tư tưởng, tổ chức khủng bố này thành hình từ phong trào phát xít Hồi giáo hoạt động tại Egypt từ thời Nasser. Về lịch sử, các nhóm khủng bố cực đoan đã từng hành động tại Egypt, nổi tiếng nhất là vụ ám sát Tổng thống Anwar Sadate năm 1981, lần cuối là vụ tấn công Luxor năm 1997. Sau vụ Luxor, chính quyền của Tổng thống Hosni Mubarak thẳng tay càn quét, chủ mưu là nhóm Gama’ah al Ismamiyadh bị vỡ đôi. Phân nửa chuyển qua đấu tranh ôn hoà, phân nửa trở thành Mặt trận Thánh Chiến Hồi giáo của bin Laden. Lãnh tụ là Abu Yasser Rifai Ahmad Taha của nhóm này hiện ở đâu người ta chưa rõ. Có thể là từ Afghanistan nay đã trở về cùng nhiều tay đặc công khác.
Đã vậy, về nhân sự, dân Egypt cũng chiếm tỷ lệ cao trong hàng ngũ lãnh đạo al Qaeda.
Ngoài al-Zawahiri còn có Tư lệnh Võ trang Saif al-Adel là dân Egypt, cũng như kẻ trực tiếp chỉ đạo vụ khủng bố 9-11 tại Mỹ là Mohammed Atta. Một lãnh tụ khác gốc Egypt đã bị Mỹ hạ sát tại Afghanistan năm 2001 là Mohammed Atef (cũng có tên là Abu Hafs al-Masri). Các nhóm khủng bố đã ra tay gần đây, từ Tây Ban Nha qua Bắc Phi đến Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), đều xưng danh là “Lữ đoàn Abu Hafs al-Masri”, và là chi nhánh của al-Qaeda.
Cho nên, al Qaeda có điều kiện và cơ sở để chiêu mộ được nhiều phần tử Egypt cực đoan nhằm mở màn tấn công từ lãnh thổ Palestine qua Israel, Egypt và vào cả Hoa Kỳ, mà dư luận Hoa Kỳ mới chỉ biết gần đây thôi.
Kết cuộc gần và nhỏ là Isreal có lý: rằng Hamas, Thánh Chiến Palestine (PIJ) hay al Qaeda cũng là nhiều mặt của một phong trào khủng bố toàn cầu. Dân Mỹ gốc Do Thái có thể vì đó mà thiên về Tổng thống Bush nhiều hơn là truyền thông Mỹ dự đoán. Cạnh đó, chính quyền Egypt cũng thông cảm hơn với quan điểm chủ chiến của Bush và dè dặt hơn với việc yểm trợ Palestine khi đã bị khủng bố - có thể cả al Qaeda lẫn tay chân Hamas - tấn công vào một kỹ nghệ trọng yếu của nền kinh tế là du lịch. Người Mỹ gốc Ả Rập vì vậy chưa chắc đã ngả theo John Kerry như người ta dự đoán. Ở một nơi xa xôi là Úc Đại Lợi, vụ khủng bố tại Egypt gợi nhớ đến vụ Bali của Indonesia do Jamaah Islamiyah - cánh tay nối dài của al Qaeda tại Đông Nam Á - gây ra ngày 12 tháng 10 năm 2002, gần đúng hai năm trước, làm 202 người thiệt mạng, đa số là du khách Úc. Biến cố tại Egypt có lợi cho lập trường cứng rắn và thân Mỹ của Thủ tướng John Howard trong cuộc bầu cử ngày Thứ Bảy mùng chín (cùng ngày với cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên trong lịch sử Afghanistan).
Kết cuộc riêng tại Hoa Kỳ là sự củng cố lý luận của Bush-Cheney: trận chiến chống khủng bố Hồi giáo có tính toàn cầu và đa diện, không chỉ thu hẹp vào chuyện Iraq có võ khí tàn sát hay không.... Vài ngày nữa, khi tin tức về khủng bố tại Egypt đã ngấm trong dư luận, dân Mỹ sẽ thấy lập trường của Bush không đến nỗi phiêu lưu hay gian trá.
Ngược lại, hình như John Kerry vẫn chưa đánh giá được cho đúng nguy cơ khủng bố nên vẫn tập trung vào vụ Iraq với sự phụ họa của truyền thông (đây lại là chuyện khác: bản phúc trình về Iraq của thanh tra Charles Duelfer bị đơn giản hoá thành chuyện Saddam Hussein không có khả năng chế tạo võ khí tàn sát; muốn biết rõ hơn, có thể tham khảo phúc trình trên website http://www.cia.gov/cia/reports/iraq_wmd_2004/index.htm.
Như vậy, nếu đúng thì chiêu độc tháng 10 của al Qaeda lại gây phản tác dụng: giúp cho Bush thắng lý, nếu chưa thắng cử. Ông thắng lý muộn màng sau cuộc tranh luận bết bát tuần trước về an ninh!

Ngày 2 tháng 8 năm 2022, các cử tri ở Kansas đã chọn chống lại việc lật ngược quyền phá thai theo hiến pháp của tiểu bang. Vài ngày sau, các nhà lập pháp Indiana đã quyết định cấm gần như tất cả các trường hợp phá thai. Cả hai đều là các bang theo xu hướng bảo thủ, và đều ủng hộ nỗ lực tái đắc cử của cựu Tổng thống Donald Trump với tỷ suất gần giống nhau vào năm 2020: 56.1% - 41.5% ở Kansas và 57% - 41% ở Indiana. Vậy điều gì giải thích cho các kết quả khác nhau? Câu trả lời là ở Kansas, cử tri trực tiếp quyết định kết quả. Ở Indiana, thì các nhà lập pháp là người ra quyết định. Sự khác biệt này có ý nghĩa quan trọng, bởi vì đối với các vấn đề gây tranh cãi như phá thai, cũng như trong các vấn đề nổi bật khác, các cơ quan lập pháp tiểu bang không phải lúc nào cũng đại diện cho mong muốn của công chúng, người dân trong tiểu bang của họ.
Làm cách nào để tôi được xóa khoản nợ sinh viên? Ai đủ điều kiện để được tha khoản nợ sinh viên? Liệu các khoản nợ tư nhân có được xóa? Các khoản nợ của sinh viên đã tốt nghiệp có đủ điều kiện để được tha nợ không? Các khoản vay của Parent Plus có đủ điều kiện không? Sinh viên còn đang đi học có đủ điều kiện được tha nợ không? Các khoản vay FFEL có đủ điều kiện không? Chương trình có giới hạn những gì người vay đang còn đi học phải trả không? Tôi có thể vay nợ liền bây giờ và được hưởng theo chính sách mới không? Chính phủ sẽ xác định thu nhập của tôi như thế nào để đủ điều kiện được tha nợ? Tôi nợ hơn 10,000 đô la. Khi nào thì tôi bắt đầu phải thanh toán trở lại? Tôi có phải trả thuế cho khoản nợ sinh viên đã được tha không? Điều này có làm cho lạm phát tồi tệ hơn? Chi phí xóa nợ cho sinh viên là bao nhiêu? Liệu điều này có mang lại lợi ích cho những người Mỹ giàu có không?
Tầm quan trọng của diaspora hay cộng đồng người gốc Việt sống ngoài Việt Nam càng ngày càng gia tăng. Để có một cái nhìn tổng quát, có tính cách học thuật và khách quan hơn về tình hình chung của diaspora Việt cũng như các diaspora trên thế giới, tôi xin giới thiệu và dịch bài viết năm 2005 sau đây của Steven Vertovec, một giáo sư đại học Đức chuyên về Xã hội học và Dân tộc học. Các điểm liên quan tới Việt Nam sẽ được người dịch ghi chú, bàn luận thêm trong phần chú thích ở cuối bài. (HVH)
Những lo ngại về tỷ lệ sinh giảm xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Quyết định của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ trong vụ Dobbs v. Jackson có thể buộc phụ nữ sinh con trái với mong muốn của họ, trong khi một bài xã luận gần đây của Anh thậm chí còn đề xuất đánh thuế đối với những người không có con.
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.
Roe kiện Wade (Roe v. Wade) là một vụ án dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào năm 1973, Roe v. Wade làm cho việc phá thai được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ. Trong vụ kiện này, một phụ nữ tên là Norma McCorvey (lấy bút danh là Jane Roe) muốn phá thai ở tiểu bang Texas. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, luật của bang Texas không cho phép phá thai ngoại trừ việc cứu sống người mẹ. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi cho McCorvey và cho rằng luật của Texas không phù hợp với hiến pháp. Tòa án tuyên bố rằng việc quyết định phá thai của một người phụ nữ trong ba tháng đầu của thai kỳ nên được quyết định theo ý kiến cá nhân và bác sĩ. Theo Tối cao Pháp viện, mỗi người dân có “quyền về quyền riêng tư” cơ bản và quyền đó bảo vệ sự lựa chọn phá thai của một người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.