Hôm nay,  

Chiêu Độc Tháng Mười

09/10/200400:00:00(Xem: 6608)
Người ta chưa thấy hai ứng viên tổng thống Mỹ tung chiêu bất ngờ trong tháng Mười thì hình như al Qaeda đã ra tay trước. Kết quả: Bush 1, Kerry 0.
Đúng một ngày trước khi hai ứng cử viên Bush và Kerry tái đấu trên diễn đàn tranh luận thì một loạt ba vụ nổ đã làm rung chuyển biên giới Israel với Egypt. “Độc chiêu tháng Mười” mà tác giả bài này đã viết hồi đầu tuần (Việt Báo, số Thứ Hai, mùng bốn) quả là đến hẹn lại lên, nhưng từ một nơi bất ngờ.
Xin hãy nói trước về diễn biến, sau đó là phần diễn giải.
Hai nước cừu thù ngày xưa là Egypt và Isreal nay đã có quan hệ tương đối bình thường - điều khá bất thường tại Trung Đông. Du khách Israel thường đổ qua nghỉ mát tại bán đảo Sinai, ven Hồng Hải trong vịnh Eilat của Egypt. Hôm mùng bảy, liên tiếp ba trung tâm du lịch Taba (cách biên giới Israel chưa đầy 400 thước), Nuweiba và Ras al-Shitan bị đánh bom khi hơn 15.000 khách Do Thái qua đó nghỉ mát nhân mùa lễ Sukkot. Thiệt hại: 35 người chết, hơn 160 bị thương, đa số là du khách Do Thái, và khách sạn Hilton tại Taba của Egypt bị tiêu hủy.
Chuyện đó có liên hệ đến Hoa Kỳ.
Ngay sau vụ nổ đầu tiên, tổ chức khủng bố Hamas của Palestine đã tự nhận công trạng, nhưng điều đó đáng ngờ. Sau đấy, tới lượt một tổ chức chưa ai biết là gì dưới danh xưng rất mới Jemaah Islamiyah đã nhận công. Nhóm này có thể chỉ là một diện khác của al Qaeda, cùng tên như nhóm Jamaah Islamiyah tại Indonesia (Nam Dương).
Về Hamas thì các nhóm võ trang Palestine khó có khả năng thực hiện việc đó, lại trên đất Egypt là quốc gia yểm trợ Palestine và đang làm môi giới dàn xếp giữa chính quyền Palestine, các nhóm khủng bố và chính quyền Israel. Vẫn biết rằng nhiều thủ lãnh al Qaeda là người Palestine (như Tư lệnh lực lượng võ trang Abu Zubaydah của al Qaeda bị bắt tại Pakistan năm 2002), nhưng tự thân, Hamas khó tiến hành nổi một việc có quy mô như vậy trên đất Ai Cập. Cùng lắm thì chỉ giữ vai trò chỉ điểm và yểm trợ.
Yểm trợ cho ai" Câu trả lời có thể là al Qaeda, với kỹ thuật đánh nhồi rất đặc thù.
Hãy phân tách chuyện này mà xem.
Dư luận Mỹ thường chú ý tới nhãn hiệu hơn là nội dung cho nên nói tới al Qaeda là nghĩ đến bin Laden nay vẫn chưa sa lưới và cho rằng Hoa Kỳ chưa làm nên chuyện.
Hôm mùng một tuần trước, al Qaeda đã tung ra băng ghi âm của lãnh tụ số hai sau Osama bin Laden, là Ayman al-Zawahiri. Cuốn băng kêu gọi thanh niên Hồi giáo chú ý vào cuộc xung đột giữa Palestine và Egypt và còn khẳng định rằng Thánh Chiến phải mở rộng tới các quốc gia ủng hộ Israel. Al-Zawahiri là người Egypt (Ai Cập). Loạt khủng bố vừa qua có thể là một minh chứng của al Qaeda, nối tiếp lời kêu gọi của al-Zawahiri.
Các lãnh tụ al Qaeda thực ra có thể đang thất thế và còn bị thế giới Hồi giáo than phiền là chỉ lo đánh Mỹ mà không thiết thực hỗ trợ các cuộc đấu tranh của Hồi giáo, thí dụ như của dân Palestine. Ngoài ra, al Qaeda cũng có nhu cầu đốt ngọn đèn sáng thể thu hút nhân sự Palestine cực đoan, như đặc công của Hamas hay Thánh Chiến Palestine (Palestinian Islamic Jihad - PIJ). Vì hai lý do ấy, giả thuyết al Qaeda ra tay tại Egypt không là mơ hồ.
Huống hồ là vai trò của người Egypt trong al Qaeda.

Về tư tưởng, tổ chức khủng bố này thành hình từ phong trào phát xít Hồi giáo hoạt động tại Egypt từ thời Nasser. Về lịch sử, các nhóm khủng bố cực đoan đã từng hành động tại Egypt, nổi tiếng nhất là vụ ám sát Tổng thống Anwar Sadate năm 1981, lần cuối là vụ tấn công Luxor năm 1997. Sau vụ Luxor, chính quyền của Tổng thống Hosni Mubarak thẳng tay càn quét, chủ mưu là nhóm Gama’ah al Ismamiyadh bị vỡ đôi. Phân nửa chuyển qua đấu tranh ôn hoà, phân nửa trở thành Mặt trận Thánh Chiến Hồi giáo của bin Laden. Lãnh tụ là Abu Yasser Rifai Ahmad Taha của nhóm này hiện ở đâu người ta chưa rõ. Có thể là từ Afghanistan nay đã trở về cùng nhiều tay đặc công khác.
Đã vậy, về nhân sự, dân Egypt cũng chiếm tỷ lệ cao trong hàng ngũ lãnh đạo al Qaeda.
Ngoài al-Zawahiri còn có Tư lệnh Võ trang Saif al-Adel là dân Egypt, cũng như kẻ trực tiếp chỉ đạo vụ khủng bố 9-11 tại Mỹ là Mohammed Atta. Một lãnh tụ khác gốc Egypt đã bị Mỹ hạ sát tại Afghanistan năm 2001 là Mohammed Atef (cũng có tên là Abu Hafs al-Masri). Các nhóm khủng bố đã ra tay gần đây, từ Tây Ban Nha qua Bắc Phi đến Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), đều xưng danh là “Lữ đoàn Abu Hafs al-Masri”, và là chi nhánh của al-Qaeda.
Cho nên, al Qaeda có điều kiện và cơ sở để chiêu mộ được nhiều phần tử Egypt cực đoan nhằm mở màn tấn công từ lãnh thổ Palestine qua Israel, Egypt và vào cả Hoa Kỳ, mà dư luận Hoa Kỳ mới chỉ biết gần đây thôi.
Kết cuộc gần và nhỏ là Isreal có lý: rằng Hamas, Thánh Chiến Palestine (PIJ) hay al Qaeda cũng là nhiều mặt của một phong trào khủng bố toàn cầu. Dân Mỹ gốc Do Thái có thể vì đó mà thiên về Tổng thống Bush nhiều hơn là truyền thông Mỹ dự đoán. Cạnh đó, chính quyền Egypt cũng thông cảm hơn với quan điểm chủ chiến của Bush và dè dặt hơn với việc yểm trợ Palestine khi đã bị khủng bố - có thể cả al Qaeda lẫn tay chân Hamas - tấn công vào một kỹ nghệ trọng yếu của nền kinh tế là du lịch. Người Mỹ gốc Ả Rập vì vậy chưa chắc đã ngả theo John Kerry như người ta dự đoán. Ở một nơi xa xôi là Úc Đại Lợi, vụ khủng bố tại Egypt gợi nhớ đến vụ Bali của Indonesia do Jamaah Islamiyah - cánh tay nối dài của al Qaeda tại Đông Nam Á - gây ra ngày 12 tháng 10 năm 2002, gần đúng hai năm trước, làm 202 người thiệt mạng, đa số là du khách Úc. Biến cố tại Egypt có lợi cho lập trường cứng rắn và thân Mỹ của Thủ tướng John Howard trong cuộc bầu cử ngày Thứ Bảy mùng chín (cùng ngày với cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên trong lịch sử Afghanistan).
Kết cuộc riêng tại Hoa Kỳ là sự củng cố lý luận của Bush-Cheney: trận chiến chống khủng bố Hồi giáo có tính toàn cầu và đa diện, không chỉ thu hẹp vào chuyện Iraq có võ khí tàn sát hay không.... Vài ngày nữa, khi tin tức về khủng bố tại Egypt đã ngấm trong dư luận, dân Mỹ sẽ thấy lập trường của Bush không đến nỗi phiêu lưu hay gian trá.
Ngược lại, hình như John Kerry vẫn chưa đánh giá được cho đúng nguy cơ khủng bố nên vẫn tập trung vào vụ Iraq với sự phụ họa của truyền thông (đây lại là chuyện khác: bản phúc trình về Iraq của thanh tra Charles Duelfer bị đơn giản hoá thành chuyện Saddam Hussein không có khả năng chế tạo võ khí tàn sát; muốn biết rõ hơn, có thể tham khảo phúc trình trên website http://www.cia.gov/cia/reports/iraq_wmd_2004/index.htm.
Như vậy, nếu đúng thì chiêu độc tháng 10 của al Qaeda lại gây phản tác dụng: giúp cho Bush thắng lý, nếu chưa thắng cử. Ông thắng lý muộn màng sau cuộc tranh luận bết bát tuần trước về an ninh!

Theo cuộc thăm dò mới của NBC News Decision Desk Poll do SurveyMonkey thực hiện, sự ủng hộ dành cho chương trình nhập cư của Tổng thống Donald Trump đang giảm mạnh vào đầu năm 2026 sau khi các nhân viên nhập cư liên bang bắn chết hai người Mỹ vào tháng trước. Cuộc thăm dò cho thấy rằng các chiến thuật hung hăng và chỉ tiêu trục xuất của chính quyền đã thay đổi quan điểm của người Mỹ về Trump đối với chính những vấn đề đã giúp ông đắc cử. Vấn đề nhập cư và an ninh biên giới từ lâu đã nổi bật như một điểm mạnh của Trump trong các cuộc thăm dò, cả khi ông tranh cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2024 và trong năm đầu tiên của chính quyền mới. Giờ đây, tỷ lệ ủng hộ Trump về vấn đề này đã giảm xuống ngang bằng với tỷ lệ ủng hộ công việc tổng thể của ông.
Trong các cuộc xuống đường phản đối biện pháp siết chặt di trú và tăng ngân sách cho cơ quan ICE trên khắp nước Mỹ những tuần qua, hình ảnh dễ thấy là hàng hàng giáo sĩ đeo cổ áo thánh, giơ bảng, đứng giữa hàng rào cảnh sát và đoàn người di dân. Một trong những tiếng nói gây tranh luận mạnh là Giám mục Rob Hirschfeld, Giáo phận Episcopal New Hampshire. Ngày 18.1.2026, ông kêu gọi các giáo sĩ trong giáo phận “chuẩn bị cho một kỷ nguyên tử đạo mới”, thậm chí lo sẵn di chúc và giấy tờ hậu sự. Theo ông, đây không còn là thời của những tuyên bố trên giấy, mà là lúc “dùng chính thân thể mình để đứng giữa các thế lực của thế gian và những người dễ bị tổn thương nhất”.
Câu chuyện Samuel Green nhắc lại một bài học cũ mà vẫn mới - pháp luật có thể sai, nhưng dư luận đạo đức của xã hội – lương tri chung của nhà giáo, nhà báo, trí thức, giáo dân, độc giả – nếu đủ bền, vẫn có thể bẻ cong những bản án bất công. Khi một mục sư da đen bị tống ngục chỉ vì giữ Uncle Tom’s Cabin, chính các tiếng nói ấy, chứ không phải thiện chí của giới cầm quyền, đã dần mở cửa nhà tù cho ông. Giữa thời nay, khi ngôn ngữ và ý kiến dễ bị dán nhãn, bị siết trong tên gọi “chống woke” hay “đúng đắn chính trị”, bài học đó rất đáng nhớ: nếu xã hội không giữ cho mình một dư luận đạo đức độc lập – bảo vệ quyền đọc, quyền nói, quyền bất đồng – thì khoảng cách từ “quản lý ngôn luận” đến “vào tù vì một cuốn sách” không bao giờ xa như ta tưởng.
Belzoni, một thị trấn chừng hai ngàn dân ở Mississippi, lâu nay được quảng cáo là “Kinh đô Catfish của thế giới”. Nhưng với người da đen, cái tên ấy còn gợi lại một chuyện khác: một trong những vụ treo cổ thời dân quyền đầu tiên trên đất Mỹ ở thế kỷ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, hai người thuộc tổ chức White Citizens’ Council ở địa phương nhắm thẳng vào ca-bin xe của Mục sư George Lee mà bắn; mấy viên đạn xé nát nửa phần dưới gương mặt ông. Lee là một trong những người đồng lập hội NAACP tại Belzoni, là người da đen đầu tiên ghi tên đi bầu được ở hạt Humphreys kể từ thời Tái thiết. Không những thế, ông còn vận động cho hơn trăm người da đen cùng thị trấn ghi tên vào danh sách cử tri, một con số đáng kể nếu nhớ tới kích thước nhỏ bé của Belzoni và bầu không khí bạo lực luôn treo lơ lửng trên đầu người da đen dám dùng lá phiếu của mình giữa thời Jim Crow
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.