Hôm nay,  

Chiêu Độc Tháng Mười

09/10/200400:00:00(Xem: 6609)
Người ta chưa thấy hai ứng viên tổng thống Mỹ tung chiêu bất ngờ trong tháng Mười thì hình như al Qaeda đã ra tay trước. Kết quả: Bush 1, Kerry 0.
Đúng một ngày trước khi hai ứng cử viên Bush và Kerry tái đấu trên diễn đàn tranh luận thì một loạt ba vụ nổ đã làm rung chuyển biên giới Israel với Egypt. “Độc chiêu tháng Mười” mà tác giả bài này đã viết hồi đầu tuần (Việt Báo, số Thứ Hai, mùng bốn) quả là đến hẹn lại lên, nhưng từ một nơi bất ngờ.
Xin hãy nói trước về diễn biến, sau đó là phần diễn giải.
Hai nước cừu thù ngày xưa là Egypt và Isreal nay đã có quan hệ tương đối bình thường - điều khá bất thường tại Trung Đông. Du khách Israel thường đổ qua nghỉ mát tại bán đảo Sinai, ven Hồng Hải trong vịnh Eilat của Egypt. Hôm mùng bảy, liên tiếp ba trung tâm du lịch Taba (cách biên giới Israel chưa đầy 400 thước), Nuweiba và Ras al-Shitan bị đánh bom khi hơn 15.000 khách Do Thái qua đó nghỉ mát nhân mùa lễ Sukkot. Thiệt hại: 35 người chết, hơn 160 bị thương, đa số là du khách Do Thái, và khách sạn Hilton tại Taba của Egypt bị tiêu hủy.
Chuyện đó có liên hệ đến Hoa Kỳ.
Ngay sau vụ nổ đầu tiên, tổ chức khủng bố Hamas của Palestine đã tự nhận công trạng, nhưng điều đó đáng ngờ. Sau đấy, tới lượt một tổ chức chưa ai biết là gì dưới danh xưng rất mới Jemaah Islamiyah đã nhận công. Nhóm này có thể chỉ là một diện khác của al Qaeda, cùng tên như nhóm Jamaah Islamiyah tại Indonesia (Nam Dương).
Về Hamas thì các nhóm võ trang Palestine khó có khả năng thực hiện việc đó, lại trên đất Egypt là quốc gia yểm trợ Palestine và đang làm môi giới dàn xếp giữa chính quyền Palestine, các nhóm khủng bố và chính quyền Israel. Vẫn biết rằng nhiều thủ lãnh al Qaeda là người Palestine (như Tư lệnh lực lượng võ trang Abu Zubaydah của al Qaeda bị bắt tại Pakistan năm 2002), nhưng tự thân, Hamas khó tiến hành nổi một việc có quy mô như vậy trên đất Ai Cập. Cùng lắm thì chỉ giữ vai trò chỉ điểm và yểm trợ.
Yểm trợ cho ai" Câu trả lời có thể là al Qaeda, với kỹ thuật đánh nhồi rất đặc thù.
Hãy phân tách chuyện này mà xem.
Dư luận Mỹ thường chú ý tới nhãn hiệu hơn là nội dung cho nên nói tới al Qaeda là nghĩ đến bin Laden nay vẫn chưa sa lưới và cho rằng Hoa Kỳ chưa làm nên chuyện.
Hôm mùng một tuần trước, al Qaeda đã tung ra băng ghi âm của lãnh tụ số hai sau Osama bin Laden, là Ayman al-Zawahiri. Cuốn băng kêu gọi thanh niên Hồi giáo chú ý vào cuộc xung đột giữa Palestine và Egypt và còn khẳng định rằng Thánh Chiến phải mở rộng tới các quốc gia ủng hộ Israel. Al-Zawahiri là người Egypt (Ai Cập). Loạt khủng bố vừa qua có thể là một minh chứng của al Qaeda, nối tiếp lời kêu gọi của al-Zawahiri.
Các lãnh tụ al Qaeda thực ra có thể đang thất thế và còn bị thế giới Hồi giáo than phiền là chỉ lo đánh Mỹ mà không thiết thực hỗ trợ các cuộc đấu tranh của Hồi giáo, thí dụ như của dân Palestine. Ngoài ra, al Qaeda cũng có nhu cầu đốt ngọn đèn sáng thể thu hút nhân sự Palestine cực đoan, như đặc công của Hamas hay Thánh Chiến Palestine (Palestinian Islamic Jihad - PIJ). Vì hai lý do ấy, giả thuyết al Qaeda ra tay tại Egypt không là mơ hồ.
Huống hồ là vai trò của người Egypt trong al Qaeda.

Về tư tưởng, tổ chức khủng bố này thành hình từ phong trào phát xít Hồi giáo hoạt động tại Egypt từ thời Nasser. Về lịch sử, các nhóm khủng bố cực đoan đã từng hành động tại Egypt, nổi tiếng nhất là vụ ám sát Tổng thống Anwar Sadate năm 1981, lần cuối là vụ tấn công Luxor năm 1997. Sau vụ Luxor, chính quyền của Tổng thống Hosni Mubarak thẳng tay càn quét, chủ mưu là nhóm Gama’ah al Ismamiyadh bị vỡ đôi. Phân nửa chuyển qua đấu tranh ôn hoà, phân nửa trở thành Mặt trận Thánh Chiến Hồi giáo của bin Laden. Lãnh tụ là Abu Yasser Rifai Ahmad Taha của nhóm này hiện ở đâu người ta chưa rõ. Có thể là từ Afghanistan nay đã trở về cùng nhiều tay đặc công khác.
Đã vậy, về nhân sự, dân Egypt cũng chiếm tỷ lệ cao trong hàng ngũ lãnh đạo al Qaeda.
Ngoài al-Zawahiri còn có Tư lệnh Võ trang Saif al-Adel là dân Egypt, cũng như kẻ trực tiếp chỉ đạo vụ khủng bố 9-11 tại Mỹ là Mohammed Atta. Một lãnh tụ khác gốc Egypt đã bị Mỹ hạ sát tại Afghanistan năm 2001 là Mohammed Atef (cũng có tên là Abu Hafs al-Masri). Các nhóm khủng bố đã ra tay gần đây, từ Tây Ban Nha qua Bắc Phi đến Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), đều xưng danh là “Lữ đoàn Abu Hafs al-Masri”, và là chi nhánh của al-Qaeda.
Cho nên, al Qaeda có điều kiện và cơ sở để chiêu mộ được nhiều phần tử Egypt cực đoan nhằm mở màn tấn công từ lãnh thổ Palestine qua Israel, Egypt và vào cả Hoa Kỳ, mà dư luận Hoa Kỳ mới chỉ biết gần đây thôi.
Kết cuộc gần và nhỏ là Isreal có lý: rằng Hamas, Thánh Chiến Palestine (PIJ) hay al Qaeda cũng là nhiều mặt của một phong trào khủng bố toàn cầu. Dân Mỹ gốc Do Thái có thể vì đó mà thiên về Tổng thống Bush nhiều hơn là truyền thông Mỹ dự đoán. Cạnh đó, chính quyền Egypt cũng thông cảm hơn với quan điểm chủ chiến của Bush và dè dặt hơn với việc yểm trợ Palestine khi đã bị khủng bố - có thể cả al Qaeda lẫn tay chân Hamas - tấn công vào một kỹ nghệ trọng yếu của nền kinh tế là du lịch. Người Mỹ gốc Ả Rập vì vậy chưa chắc đã ngả theo John Kerry như người ta dự đoán. Ở một nơi xa xôi là Úc Đại Lợi, vụ khủng bố tại Egypt gợi nhớ đến vụ Bali của Indonesia do Jamaah Islamiyah - cánh tay nối dài của al Qaeda tại Đông Nam Á - gây ra ngày 12 tháng 10 năm 2002, gần đúng hai năm trước, làm 202 người thiệt mạng, đa số là du khách Úc. Biến cố tại Egypt có lợi cho lập trường cứng rắn và thân Mỹ của Thủ tướng John Howard trong cuộc bầu cử ngày Thứ Bảy mùng chín (cùng ngày với cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên trong lịch sử Afghanistan).
Kết cuộc riêng tại Hoa Kỳ là sự củng cố lý luận của Bush-Cheney: trận chiến chống khủng bố Hồi giáo có tính toàn cầu và đa diện, không chỉ thu hẹp vào chuyện Iraq có võ khí tàn sát hay không.... Vài ngày nữa, khi tin tức về khủng bố tại Egypt đã ngấm trong dư luận, dân Mỹ sẽ thấy lập trường của Bush không đến nỗi phiêu lưu hay gian trá.
Ngược lại, hình như John Kerry vẫn chưa đánh giá được cho đúng nguy cơ khủng bố nên vẫn tập trung vào vụ Iraq với sự phụ họa của truyền thông (đây lại là chuyện khác: bản phúc trình về Iraq của thanh tra Charles Duelfer bị đơn giản hoá thành chuyện Saddam Hussein không có khả năng chế tạo võ khí tàn sát; muốn biết rõ hơn, có thể tham khảo phúc trình trên website http://www.cia.gov/cia/reports/iraq_wmd_2004/index.htm.
Như vậy, nếu đúng thì chiêu độc tháng 10 của al Qaeda lại gây phản tác dụng: giúp cho Bush thắng lý, nếu chưa thắng cử. Ông thắng lý muộn màng sau cuộc tranh luận bết bát tuần trước về an ninh!

Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.
Trong hơn bảy mươi năm qua, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Iran đã trải qua nhiều bước ngoặt – từ một liên minh chiến lược thời Chiến tranh Lạnh, đến một trong những nước đối đầu gay gắt và kéo dài nhất của thời đại hậu thuộc địa. Bản tóm lược dưới đây ghi lại những cột mốc chính từ năm 1953 đến 2025, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về diễn biến phức tạp của quan hệ Hoa Kỳ–Iran trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.