Hôm nay,  

Christian Nationalism là gì?

9/15/202220:01:00(View: 5751)
christian nationalism

Trong cụm từ "Christian Nationalism", chữ "Nationalism" là chính, chữ "Christian" bổ nghĩa cho chữ "Nationalism". Nationalism là chủ nghĩa dân tộc. Christian Nationalism là chủ nghĩa dân tộc của một dân tộc Thiên Chúa giáo (hay Cơ-đốc giáo). Xin rút gọn lại là "Chủ nghĩa dân tộc Cơ-đốc".

Chủ nghĩa Dân Tộc Cơ-đốc tin rằng nước Mỹ được xác định bởi Cơ-đốc giáo, và chính phủ nên thực hiện các bước tích cực để giữ nó theo cách đó. Những người theo chủ nghĩa dân tộc Cơ-đốc khẳng định rằng nước Mỹ đang và vẫn phải là một “quốc gia Cơ-đốc giáo”, không chỉ đơn thuần là một quan sát về lịch sử, mà là một chương trình cho những gì nước Mỹ phải tiếp tục trong tương lai.

Các học giả như Samuel Huntington cũng đưa ra lập luận tương tự: rằng nước Mỹ được định nghĩa bởi quá khứ “Anglo-Protestant" (Tin lành Anh lê) và chúng ta sẽ đánh mất bản sắc và sự tự do của mình nếu chúng ta không giữ gìn di sản văn hóa đó.

Những người theo chủ nghĩa dân tộc Cơ-đốc giáo không bác bỏ Tu chính án thứ nhất và không ủng hộ chế độ thần quyền, nhưng họ tin rằng Cơ-đốc giáo nên được hưởng một vị trí đặc quyền trong quảng trường công cộng. Thuật ngữ “chủ nghĩa dân tộc Cơ-đốc” mô tả chính xác những người theo chủ nghĩa dân tộc Mỹ, những người tin rằng bản sắc Mỹ không thể tách rời khỏi Cơ-đốc giáo.

Theo nghiên cứu của Baptist Joint Committee Study, Christian Nationalism có 5 niềm tin căn bản:

1) Mỹ là một quốc gia được thượng đế chỉ định theo Cơ-đốc giáo.

2) Những vị khai quốc công thần của nước Mỹ đã lập ra một quốc gia dựa trên các nguyên tắc Cơ-đốc giáo với những người đàn ông da trắng làm lãnh đạo.

3) Những người khác (người thổ dân da đỏ, người nô lệ Phi châu, người nhập cư, v.v...) đã chấp nhận nước Mỹ là một quốc gia Cơ-đốc giáo, và chấp nhận sự lãnh đạo của người da trắng.

4) Nước Mỹ có một vị trí đặc biệt không chỉ trong lịch sử thế giới mà còn trong Kinh thánh, đặc biệt liên quan đến sự trở lại của Chúa Ki-tô.

5) Không có sự tách biệt giữa chính phủ và tôn giáo.

Chủ nghĩa dân tộc Cơ-đốc có xu hướng coi những người Mỹ khác là công dân hạng hai. Nếu được thực hiện đầy đủ, nó sẽ không tôn trọng quyền tự do tôn giáo của tất cả người Mỹ. Trao quyền cho nhà nước để kiểm soát hành vi đạo đức bằng pháp luật. Việc này có nguy cơ quá đà, tạo ra một thứ pháp luật được sử dụng để chống lại Ki-tô hữu. Ngoài ra, chủ nghĩa dân tộc Cơ-đốc giáo là một hệ tư tưởng được thống trị bởi người Mỹ da trắng, do đó nó có xu hướng làm trầm trọng thêm sự phân biệt chủng tộc.


Chẳng có nơi nào được thượng đế chỉ định là một quốc gia Cơ-đốc giáo. Cũng không có bằng chứng là các nhà lập quốc muốn nước Mỹ là một quốc gia Cơ đốc giáo. Trong hiến pháp Hoa Kỳ không nhắc tới Chúa, không nhắc tới thánh kinh, không khuyên 10 điều răn. Mặc dù đa số các nhà lập quốc theo đạo Cơ-đốc và ước mong rằng tôn giáo sẽ làm cho con người hướng thiện và làm những điều lành. Thomas Jefferson và James Madison ủng hộ tự do tín ngưỡng và chủ trương chính phủ và tôn giáo biệt lập. Trong bản tuyên ngôn Tripoli, năm 1797, các nhà lập pháp Hoa Kỳ đã tuyên bố: "The government of the United States of America is not, in any sense, founded on Christian religion." (tạm dịch: Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, trong bất kỳ danh nghĩa nào, không được thành lập dựa trên Cơ-đốc giáo.)

Nước Mỹ, còn gọi là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, là nơi hội tụ của nhiều sắc dân, nhiều tôn giáo. Người Mỹ yêu nước nhưng không trong khuôn khổ hẹp hỏi của một đảng phải, một sắc dân, hay một tín ngưỡng.

Chủ nghĩa dân tộc Cơ-đốc lấy tên của Đấng Cứu Thế cho một chương trình chính trị thế gian, tuyên bố rằng nó là chương trình chính trị cho mọi tín đồ chân chính. Điều đó là sai về nguyên tắc, bất kể chương trình nghị sự là gì, bởi vì chỉ có nhà thờ mới được phép công bố danh xưng của Chúa Giê-su và mang tiêu chuẩn của ngài vào thế giới.

Thậm chí nó còn tồi tệ hơn nếu chương trình chính trị ủng hộ một số sự bất công. Thí dụ như cấm ly dị hay cấm đồng tình luyến ái. Trong trường hợp đó, chủ nghĩa dân tộc Cơ đốc đang gọi cái ác là thiện và thiện là ác; nó đang lấy tên của Chúa Kitô như một chiếc lá vả để che đậy chương trình chính trị của mình, coi thông điệp của Chúa Giêsu như một công cụ tuyên truyền chính trị và nhà thờ như một người cổ vũ cho nhà nước.

Người Ki-tô hữu vẫn có thể là một người yêu nước và một tín đồ ngoan đạo. Họ làm việc để thúc đẩy các nguyên tắc của đạo Chúa, chứ không phải quyền lực hay văn hóa công giáo. Đó là điểm khác biệt chính giữa sự tham gia chính trị bình thường của người có đạo và chủ nghĩa dân tộc Cơ-đốc. Sự tham gia chính trị bình thường của Ki-tô hữu là khiêm tốn, yêu thương và hy sinh, bác bỏ định kiến ​​cho rằng họ được quyền ưu tiên hay có ưu thế lịch sử trong văn hóa Mỹ.

Nguyên Mai

Tài liệu tham khảo:
1) "What Is Christian Nationalism?" by Paul D. Miller on Christianity Today.
2) "Baptist leader speaks out: 'Christian nationalism is not Christianity'" on CNN.

Có lẽ nếu lịch sử, nói chung, có bất kỳ một huyền thoại thuần khiết nào, thì sự vươn mình trỗi dậy của người Mỹ gốc Phi để bước ra khỏi địa ngục, chính là sự thuần khiết nhất. Bởi vì, huyền thoại của họ được viết từ chính nhận thức của lương tri và sức mạnh của trí tuệ. Huyền thoại của họ là ánh sáng phát ra từ bóng tối.
Trong thời đại của những dòng tin tức u ám và bầu không khí chính trị đầy bất an, hành động tập thể và tổ chức vận động ở cấp cơ sở vẫn lặng lẽ tỏa sáng như ánh lửa ấm giữa đêm dài, không chỉ giúp xua tan tuyệt vọng mà còn khơi lên hy vọng thay đổi và tiến bộ. Chính ánh lửa đó đã thôi thúc những người bất đồng với Tổng thống Donald Trump xuống đường. Các cuộc biểu tình trong suốt mùa xuân và mùa hè đã cho thấy sự phản đối mạnh mẽ (không chỉ riêng ở Hoa Kỳ mà còn lan ra toàn thế giới) đối với nghị trình của chính quyền Trump, đặc biệt là các nỗ lực nhằm thâu tóm quyền lực và phá hoại các cơ quan và dịch vụ công trọng yếu. Hậu quả từ các chính sách ấy chủ yếu đè nặng lên các cộng đồng vốn đã chịu nhiều thiệt thòi: di dân, người nghèo, người da màu, phụ nữ và cộng đồng LGBTQIA+.
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.