Hôm nay,  

Thấy Trong Bóng Tối

31/07/202600:00:00(Xem: 249)
Thấy Trong Bóng Tối
"Tin là con chim cảm thấy bình minh hót khi trời còn tối" - trích từ bài Fireflies, câu 191: Rabindranath TagoreMinh họa: Đinh Trường Chinh.
 
Con người từ thuở hồng hoang đã không chỉ sống bằng điều mình biết. Người mẹ sinh con chưa biết đứa trẻ mai này sẽ ra sao. Người gieo hạt chưa lường được kết quả vụ mùa. Kẻ xuống thuyền vượt biển không thấy được bờ bến.

Người ta vẫn cắm cúi đi. Không vì cái biết, mà vì lòng tin. Biết thuộc về ánh sáng, tin thường khởi sự nơi tối tăm.

Tin một điều có nghĩa là chấp nhận điều ấy có thật. Tin một người là trao vào tay người ấy một phần sinh mệnh của chính mình. Tin một lý tưởng là lấy đó làm lẽ sống, làm phương hướng.

Emily Dickinson trong bài “Faith is a fine invention” nhìn đức tin bằng con mắt tinh nghịch:

“Đức tin” là một phát minh hay
dành cho kẻ tưởng mình đã thấy,
nhưng khi hữu sự,
kính hiển vi, tất nhiên, vẫn hơn.”

Dickinson không phủ nhận đức tin, bà chỉ đặt nó vào đúng chỗ nó thuộc về. Niềm tin không giúp người ta nhìn thấy rõ chi tiết, cũng như kính hiển vi không phải là ngọn đèn bão giúp người ta đi hết đêm dài.

Pascal cho rằng“Trái tim có những lẽ riêng mà lý trí không biết.” Với ông: “chính trái tim cảm nhận Thượng Đế, không phải lý trí.” Đức tin không đến từ suy luận. Và lý trí có thể mở đường, nhưng không tự mình đi hết con đường ấy.

Kierkegaard trong ‘Kính Sợ Và Run Rẩy’ tô rõ hơn: “Đức tin khởi đi nơi tư tưởng dừng lại”.  Có những quyết định không thể chờ đến lúc mọi sự sáng tỏ. Bởi nếu mọi sự đã tỏ tường hay lối đi đã cắm biển thì con người cần gì đến đức tin.  Chính khi còn run rẩy là lúc đức tin giúp người ta đặt bước.

William James nêu câu hỏi trên bình diện thực tế, liệu con người có quyền tin khi chưa đủ chứng cứ hay không? Để trả lời chính mình ông cho rằng phải tin đời đáng sống tuy không phải cứ tin là thành, nhưng không thể thành nếu từ đầu đã không có niềm tin.

Lấy tình bạn hay tình yêu làm ví dụ, không ai đứng ngoài cuộc tình đòi chứng minh trọn vẹn rồi mới bước vào. Chính sự tín nhiệm ban đầu là yếu tố mở đường để thời gian rồi sẽ chứng thực.

Đôi khi, niềm tin không chỉ dẫn đến sự thật mà còn góp phần tạo nên sự thật. Một người trở nên đáng tin hơn vì đã được tin. Một đứa trẻ lớn lên vững vàng hơn vì có người tin cậy. Một cộng đồng có thể hồi sinh vì mỗi người trong đó còn tin tưởng nhau.

Theo Simone Weil, niềm tin là kinh nghiệm trong đó trí tuệ được tình yêu soi sáng. Đức tin đúng nghĩa không khiến trí tuệ nhắm mắt, mà trái lại nó đòi trí tuệ phải nghiêm cẩn hơn, tra vấn nhiều hơn để phân biệt giữa ánh sáng và ảo ảnh.

Trong tôn giáo, đức tin vượt ngoài việc chấp nhận rằng Thượng Đế hiện hữu. Người có đạo đặt đời mình dưới những điều thiêng liêng “không thấy mà tin”. Trong Kinh Thánh đức tin ghi rõ là “bảo đảm cho điều đang hy vọng, là xác tín về điều chưa thấy”.

Dostoevsky trong Anh Em Nhà Karamazov cho rằng “không phải phép lạ sinh ra đức tin, mà chính đức tin làm nảy sinh phép lạ”. Người không tin có thể gọi phép lạ là hiện tượng chưa giải thích, trong khi người đã tin thấy điều thiêng liêng ngay trong cái tầm thường. Gọi là bình minh hay cho là ân sủng tùy vào mức độ tín ngưỡng.

Riêng Stephen Hawking trong cuốn sách cuối đời cho rằng không có Thượng Đế, không có thiên đường, không có kiếp sau. Đối với ông các định luật tự nhiên đã đủ để cắt nghĩa sự vận hành của vũ trụ. Tuy nhiên ông vẫn đặt nặng lòng biết ơn đối với đời sống, trách nhiệm đối với thế hệ mai sau, một tương lai con người phải cùng nhau kiến tạo. Người ta có thể nói rằng đó không phải là đức tin, nhưng là gì khác hơn nếu không phải sự tín nhiệm đặt vào con người, vào tương lai.

Tôn giáo hay đức tin không phải một cuộc đổi chác. Không phải cứ cầu là được, không phải cứ sống ngay lành là tránh khỏi tai ương. Theo T.S. Eliot, trong East Coker, “đức tin, tình thương và hy vọng đều nằm trong sự đợi chờ”. Đợi chờ là phần thiết yếu của đức tin, vì điều được tin không phải lúc nào cũng đến.

Có những lời cầu nguyện được đáp lại bằng im lặng. Có những câu hỏi phải mang theo suốt đời. Paul Tillich cho rằng hoài nghi không đối nghịch với đức tin, mà là một phần của đức tin. Đức tin có chỗ cho hoài nghi, nhưng không dung chứa cuồng tín. Tin rằng lửa không làm bỏng tay là mê muội. Tin rằng sau đám cháy con người vẫn có thể dựng lại căn nhà là xác tín. Tin rằng một người lãnh đạo không bao giờ sai là sùng bái. Tin rằng một dân tộc có thể nhận lỗi và sửa sai là hy vọng.

Niềm tin hiếm khi nảy nở lúc đời sống yên ổn, mà đến giữa chiến tranh, chia lìa, biến động, giữa những bất tắc vô lường. Trong “Viễn du” của Phạm Duy, người lữ hành ra sông mới thấy trời rộng. Nhưng cũng chỉ khi ra khơi con người mới “thấy mộng ngày mai, thấy niềm tin mới.”

Với người Việt tị nạn, niềm tin đó không chỉ là ý niệm, mà cụ thể là chiếc ghe mong manh. Người bước xuống ghe không ra đi vì biết chắc mình sẽ sống, mà vì  họ thấy ánh sáng bên kia bờ. Niềm tin dẫu mong manh như tiếng khóc trẻ thơ cũng đủ nhắc người lớn không được phép buông xuôi, đủ để chở được cả một gia đình, có khi, cả một thế hệ.

Sau cùng, không ai có trong tay ngọn đèn đủ nhiên liệu để soi trọn con đường. Phần nhiều, ánh sáng chỉ vừa đủ soi cho bước kế tiếp giúp con người không chùn chân mà hướng tới. Để người làm báo vẫn đặt sự thật lên trang giấy giữa thời sự thật không được trọng thưởng. Để người già trồng thêm cây non dẫu biết mình không kịp ngồi dưới bóng mát. Để người mẹ mỗi ngày ngồi bên giường bệnh của con chờ phép mầu.

Như con chim nhỏ của Emily Dickinson nhìn thấy hy vọng “đậu trong tâm hồn, cất khúc ca không lời, và chẳng bao giờ ngưng.”

Con chim ấy không biết giông bão sẽ tan, thuyền sẽ đến bờ, lòng tốt sẽ được đền đáp, hay công lý cuối cùng sẽ thắng hay không.

Nó chỉ không ngưng hót.

Niềm tin, cũng vậy, giữ cho người cầu nguyện vững lòng sắt son.

Để bài ca vẫn vang lên trong đêm.

Để niềm tin — khi ấy, không phải là bình minh, mà là tiếng chim báo sáng khi trời còn tối.
 
Nguyên Yên
 
* Chú thích:
1. Emily Dickinson, “Faith is a fine invention”.
2. Blaise Pascal, Pensées (Tư tưởng): “Le cœur a ses raisons que la raison ne connaît point.”
3. Søren Kierkegaard, Fear and Trembling (Kính sợ và run rẩy), đoạn luận về “bước nhảy của đức tin”.
4. William James, The Will to Believe, luận về “quyền được tin” khi chứng cứ chưa đầy đủ.
5. Simone Weil, các trước tác thần học–triết học, ý về “trí tuệ được tình yêu soi sáng”.
6. Kinh Thánh, Thư Do Thái 11:1: “Đức tin là bảo đảm cho điều đang hy vọng, là xác tín về điều chưa thấy.”
7. Fyodor Dostoevsky, The Brothers Karamazov (Anh em nhà Karamazov), tư tưởng về đức tin và phép lạ.
8. Stephen Hawking, các tác phẩm và phát biểu về vũ trụ không cần Đấng Tạo Hóa cùng quan niệm về tương lai nhân loại.
9. T.S. Eliot, East Coker (trong Four Quartets), đoạn nói về “đức tin, tình thương và hy vọng đều nằm trong sự đợi chờ”.
10. Paul Tillich, Dynamics of Faith, câu “Hoài nghi không đối nghịch với đức tin; nó là một phần của đức tin.”
11.  Phạm Duy, ca khúc “Viễn du”, trích lời hát về “mộng ngày mai” và “niềm tin mới”.
12. Emily Dickinson, trích bài “Hope is the thing with feathers.”
13. Rabindranath Tagore: hình ảnh “Tiếng chim báo sáng khi trời còn tối” gợi từ bài Fireflies, câu 191: “Faith is the bird that feels the light and sings when the dawn is still dark”
 

Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.
Năm 1979, Steve cho xuất bản Indochina Newsletter là tài liệu liên quan đến các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam sau ngày 30/4/1975, sau đổi tên thành Indochina Journal, rồi Vietnam Journal. Tôi và vài người Việt nữa đã cùng làm việc với Steve trong việc phối kiểm tin tức liên quan đến tù nhân lương tâm và dịch nhiều tài liệu của các phong trào đòi tự do dân chủ tại Việt Nam sang tiếng Anh, như Cao trào Nhân bản của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Diễn đàn Tự do của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, các bài giảng về sám hối vào Mùa chay 1990 của linh mục Chân Tín, cũng như những tuyên cáo về tình trạng thiếu tự do tôn giáo của các Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát; của Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Mục tiêu ban đầu khi Tổng thống John F. Kennedy thành lập USAID trong cuộc chiến tranh lạnh với Nga vào năm 1961, nội các của ông không chỉ nhắm đến các viện trợ dân sự và nhân đạo mà còn mang mục đích sâu xa hơn: Đó là sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác sẽ bảo vệ cho nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Mục đích này vẫn không thay đổi sau hơn sáu thập niên hoạt động của USAID, qua nhiều đời tổng thống Mỹ. Bởi lợi ích của nước Mỹ nằm khắp thế giới, những sự giúp đỡ, viện trợ trước mắt mang lại lợi ích chiến lược lâu dài cho nước Mỹ. Các nghiên cứu về USAID cho thấy quyền lực mềm của nước Mỹ do USAID đã mang lại thiện cảm về nước Mỹ, giúp hàng hóa, sản phẩm Mỹ được ưa chuộng tại các thị trường nội địa và gián tiếp giúp cho các tập đoàn Mỹ nhận được các hợp đồng kinh tế to lớn so với các đối thủ. Ngược lại, khi thiện cảm này bị mất đi, hay thậm chí bị ghét bỏ, làn sóng tẩy chay hàng Mỹ là lẽ đương nhiên. Những chương trình giáo dục, huấn nghệ cho trẻ em các nước chiến tranh
Doanh nhân Donald Trump đã khởi xướng trào lưu dân tuý và hai lần thắng cử tổng thống. Ngay khi xuất hiện lần đầu tiên trên chính trường để vận động tranh cử năm 2016, Trump không có tham vọng thu tóm quyền lãnh đạo Đảng Cộng hoà trong ý tưởng thù địch, mặc dù thể hiện nhiều quan điểm chống đối gay gắt. Ngược lại, ngày nay, "chủ thuyết Trump" chế ngự toàn diện mọi sinh hoạt của đất nước. Thực ra, khi nhìn lại hoạt động của Đảng trong thời hiện đại, đây là kết quả của một tiến trình dài nhằm tái định hình chiến lược bảo thủ mà Đảng đã đề ra vào những năm 1960.
Một trong những sắc lệnh hành pháp đầu tiên của Tổng thống Donald Trump là một đòn tấn công trực diện vào nguyên tắc hiến pháp lâu đời về quyền có quốc tịch theo nơi sinh (birthright citizenship). Quyền này được quy định trong Tu Chính Án Thứ 14 của Hiến pháp Hoa Kỳ, ghi rõ rằng bất kỳ ai sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ đều đương nhiên trở thành công dân Hoa Kỳ, không phân biệt nguồn gốc hay tình trạng nhập cư của cha mẹ.
Trong hơn một thế kỷ qua, vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên phong phú của Greenland đã khiến hòn đảo này trở thành một trong những mục tiêu tham vọng của Hoa Kỳ, đặc biệt là trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh (Cold War). Nhưng các nhà lãnh đạo Greenland vẫn luôn kiên quyết từ chối những lời đề nghị này. Từ kế hoạch mua lại đất đến các cuộc đàm phán thiết lập căn cứ quân sự, Greenland đã trở thành một trong những hòn đảo được săn đón nhất trên thế giới.
Hơn năm thập niên đã trôi qua, tuần này hàng loạt các bài báo dòng chính Hoa Kỳ đã đưa ra nghi vấn Nick Út có thể không phải người chụp tấm ảnh biểu tượng cuộc chiến Việt Nam trên các tờ báo lớn Hoa Kỳ: Washington Post, Los Angeles Times, National Catholic Reporter, CBS News, BBC, Vanity Fair... Câu hỏi được chạy dòng tít lớn trên các báo là liệu Nick Út chụp tấm hình, hay một người khác tên là Nghệ Nguyen đã chụp tấm hình này?
Tết năm nay là Tết Ất Tỵ, người ta đón xuân con rắn rắn bò bò trườn trườn mình trên mặt đất, nó không có chân, nhưng lướt mình trong bụi cây, trong hang ổ ngóc ngách nơi rừng cây rậm rạp, nhất là ở các vùng nhiệt đới um tùm, rắn đang lò mò mang mùa xuân tới… rắn đang mang về mùa xuân Ất Tỵ! Hình ảnh con răn có người yêu thích, quấn quanh cổ, quanh người đi chơi, quảng cáo, bán thuốc sơn đông mãi võ, cũng có người ghét bỏ, rùng mình quay đi.
Nước ta có nhiều ngày Tết. Mỗi Tết có một ý nghĩa riêng, có đôi khi theo thói quen của Trung Hoa ngày xưa. Các lễ Tết gồm có: Tết Nguyên Đán ngày Mồng Một tháng Giêng, Tết Hàn Thực vào ngày 3 tháng 3 , Tết Đoan Ngọ ngày 5 tháng 5, Tết Trung Thu ngày 15 tháng 8 và Tết Song Thập ngày 10 tháng 10.
12:05 giờ đêm, từ buổi tiệc Giáng Sinh ở nhà cô bạn thân ra về, một cảm giác ứa nghẹn bất chợt trào lên. Trong khoảnh khắc, tôi thấy mình tắp xe vào bờ đường xa lộ, rồi không thể tự kiềm chế, từng cơn nấc ào đến, nước mắt ràn rụa, tôi khóc như thể vừa hay tin người thân yêu nhất mới qua đời. Cơn òa vỡ đầu tiên này xảy ra vào một đêm cuối tháng 12, khi tôi ở tuổi 46. Thật ra, nhiều ngày, tháng trước đó, mọi giác quan trong người đã phát ra nhiều tín hiệu cảnh báo về một cơn chấn động kéo theo những hoang mang, những trăn trở về ý nghĩa, lẽ sống… Nhưng bận rộn với việc chứng minh bản thân qua nhiều vai trò, trái tim tôi không có chỗ cho cảm xúc lạ, cái đầu coi thường khái niệm “midlife crisis”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.