Hôm nay,  

Những Người Do Thái Đã Bỏ Phiếu Cho Hitler

28/08/202600:00:00(Xem: 232)

Capture
Ảnh: Max Naumann (12/1/1875 – 18/5/1939), luật sư người Berlin gốc Do Thái, cựu đại úy Lục quân Bayern trong Thế chiến I. Ông là người sáng lập và chủ tịch của Verband nationaldeutscher Juden (Hiệp hội Người Do Thái Quốc gia Đức) — tổ chức theo khuynh hướng đồng hóa và dân tộc chủ nghĩa, được thành lập năm 1921, và bị chính quyền Đức Quốc xã giải tán năm 1935.
 
LTS: Người biên dịch bài này không nhằm so sánh nước Mỹ hôm nay với nước Đức của Hitler, vì lịch sử không lặp lại y nguyên, và những so sánh dễ dãi đôi khi làm mất giá trị của chính bài học lịch sử.

Điều đáng chú ý trong câu chuyện Max Naumann là ông tin mình “khác”. Ông là người Đức, yêu nước, từng chiến đấu và đổ máu cho nước Đức. Ông tin những lời công kích người Do Thái nhắm vào một hạng người Do Thái khác — di dân Do Thái đến từ Đông Âu, người Zionist, người cánh tả — chứ không phải những người yêu nước như ông.

Ảo tưởng “mình khác” ấy không chết với Max Naumann.

Trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ hôm nay cũng có người nhìn tinh thần bài trừ di dân của chính quyền Donald Trump và đảng cầm quyền rồi tự nhủ: họ nói về người vượt biên trái phép, người không giấy tờ, người từ những xứ nghèo, tầng lớp khác... Chúng ta đến đây hợp pháp, đã nhập tịch, làm ăn, đóng thuế. CHÚNG TA KHÁC.

Hoàn cảnh quả có thể có khác. Nhưng lịch sử, nếu không là một bài học để lòng, thì ít nhất cũng để cảnh tỉnh một điều: câu “họ không nói về mình” thường chỉ đúng cho đến ngày họ bắt đầu “nói về mình”; và chúng ta chỉ “khác” cho đến ngày kẻ khác quyết định rằng chúng ta không còn khác nữa.

***

Tối 5 tháng Hai năm 1930, nhà phê bình văn nghệ Paul Fechter bước lên diễn đàn của Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia tại Berlin.
Ông biết đề tài mình sắp nói sẽ khó nghe.

Fechter nói rằng người Đức từ lâu đã quá “sợ hãi và dè dặt” khi nói công khai về người Do Thái. Ông đặc biệt công kích Kurt Tucholsky, một nhà văn trào phúng Do Thái nổi tiếng, vì cuốn Deutschland, Deutschland über alles (Nước Đức, Nước Đức Trên Hết), trong đó Tucholsky châm biếm quân đội, cảnh sát, công chức, quốc ca và nhiều biểu tượng chủ nghĩa quốc gia của nước Đức.

Nhưng Fechter không dừng ở một nhà văn. Ông nói một phần lớn giới văn chương và nghệ thuật Đức “nằm trong tay người Do Thái”; các nhà hát, nhà xuất bản lớn và giới buôn tranh đều ít nhiều “dưới sự kiểm soát của người Do Thái.” Ông trách các nhà buôn tranh Do Thái chuộng Manet, Monet, Renoir, Gauguin, Picasso và Cézanne — những họa sĩ Pháp và hiện đại — hơn hội họa truyền thống Đức.

Rồi Fechter đi xa hơn nữa, cho rằng tinh thần chống nước Đức trong giới Do Thái còn mạnh hơn cả tinh thần bài Do Thái của phe quốc gia cực hữu Đức.
Fechter đang nói ngay trước mặt người Do Thái những điều thường được người Đức dùng để công kích họ.

Nhưng điều lạ nhất không nằm ở diễn giả. Nó nằm ở người đã mời ông tới: Max Naumann, người sáng lập tổ chức.

Naumann sau đó còn cho đăng lại bài diễn văn ấy trên tờ nguyệt san Người Do Thái-Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia, phát cho khoảng 7,000 hội viên thuộc hơn 20 chi nhánh trên khắp nước Đức. Phần đông hội viên là những người trung lưu có học — luật sư, bác sĩ, thương gia, những người đã có một chỗ đứng vững vàng trong xã hội Đức.

Bản thân Naumann là một luật sư Do Thái tại Berlin.

Ông sinh năm 1875 trong một gia đình trung lưu gồm chủ ngân hàng, điền chủ và thương gia vải vóc, vào lúc người Do Thái Đức vừa bước vào một thời kỳ tưởng như đầy hứa hẹn.

Họ đã có quyền bỏ phiếu. Có thể ứng cử. Những nghề trước kia đóng cửa với họ — luật, y khoa, đại học — nay bắt đầu mở ra. Trên giấy tờ, họ được luật pháp bảo vệ như những công dân khác.

Naumann học luật tại Đại Học Friedrich Wilhelm ở Berlin. Ông gia nhập một hội sinh viên và mang trên cằm một vết sẹo do đấu kiếm — thứ huy hiệu danh dự rất được coi trọng trong giới sinh viên Đức thời ấy, đặc biệt trong truyền thống quân sự Phổ (Prussia), vương quốc lớn và hùng mạnh nhất trong Đế Quốc Đức thời ấy.

Nhưng bình đẳng trên giấy không có nghĩa thành kiến đã biến mất.

Naumann từng không được nhận vào hàng sĩ quan trong quân đội Phổ vì ông là người Do Thái. Ông bèn sang phục vụ trong Trung Đoàn Bộ Binh Bavaria số 2.

Trong Đệ Nhất Thế Chiến, ông lần lượt lên trung úy, thượng úy rồi đại úy. Ông được thưởng Thiết Thập Tự Đệ Nhất Hạng, Thiết Thập Tự Đệ Nhị Hạng cùng nhiều huy chương khác vì lòng can đảm ngoài mặt trận.

Naumann yêu nước Đức. Không phải bằng lời nói. Ông đã đổ máu cho quốc gia này. Và ông không phải người Do Thái duy nhất như vậy. Khoảng 100,000 người Do Thái Đức đã phục vụ ngoài mặt trận trong Đệ Nhất Thế Chiến. Ba mươi lăm ngàn người được tưởng thưởng vì chiến công. Mười hai ngàn người chết cho tổ quốc.

Nhưng khi nước Đức thua trận, người Do Thái lại bị quy một phần trách nhiệm cho thất bại và sự đầu hàng.

Các tổ chức Do Thái đáp lại theo nhiều cách.

Liên Đoàn Cựu Chiến Binh Do Thái Đức nhắc lại những con số hy sinh ngoài chiến trường. Hiệp Hội Trung Ương Công Dân Đức Theo Do Thái Giáo tìm cách chống kỳ thị bằng luật pháp. Phong trào Zionist thì cho rằng người Do Thái nên nghĩ tới việc sang Palestine để tìm một quê hương an toàn hơn.

Naumann không đồng ý với cách nào cả.

Ông không muốn người Do Thái-Đức tự coi mình là một cộng đồng đứng ngoài dân tộc Đức. Cũng không muốn họ bỏ đi.

Theo Naumann, họ phải chứng minh rằng mình là người Đức.

Ông tự gọi mình là nationaldeutscher Jude — một người Do Thái trước hết xem mình là người Đức, đặt lòng trung thành với nước Đức lên trên căn tính Do Thái.

Chính từ đó nảy sinh một điều khác. Naumann đặc biệt khắt khe với những người Do Thái Đông Âu đang chạy khỏi các cuộc đàn áp ở Nga, Romania, Áo, Hungary, Ba Lan và những nơi khác để tìm đường vào Đức.

Ông thương họ, nhưng đó là một thứ thương hại từ xa. Naumann từng viết rằng lòng thương ấy cũng giống như khi nghe chuyện người Armenia bị người Thổ Nhĩ Kỳ tàn sát hay người da đen bị treo cổ tại Hoa Kỳ: đáng thương, nhưng không phải chuyện của mình.

Ông cũng gay gắt với người Zionist và những người Do Thái cánh tả. Ngay cả Albert Einstein cũng bị ông công kích vì, theo Naumann, đã đặt căn tính Do Thái lên trên căn tính Đức.

Naumann cho rằng chính những người ấy, cùng làn sóng di dân Do Thái Đông Âu, đã góp phần làm người Đức thêm ác cảm với dân Do Thái.

Nói cách khác, đứng trước sự kỳ thị, Naumann không chỉ nhìn vào kẻ kỳ thị. Ông nhìn sang những người Do Thái khác và hỏi họ đã làm gì để người Đức ghét mình.

Naumann tin rằng nạn bài Do Thái có thể bị đánh bại không phải bằng kiện tụng hay luật lệ, mà bằng lòng trung thành.

Ông đã từng thấy điều ấy ngoài mặt trận.

Trong chiến hào, theo Naumann, người ta không hỏi người lính bên cạnh thuộc giai cấp hay chủng tộc nào. Người ta chỉ nhìn xem anh ta có đứng lại khi đạn bay tới hay không. Hành động quan trọng hơn lời nói. Nếu người Do Thái chứng minh được họ là những công dân Đức tốt, can đảm, hữu dụng và trung thành, Naumann tin, thành kiến rồi sẽ tự tan.

Ông không cô độc.

Bác sĩ Alfred Peyser, một nhân vật có tiếng trong giới y khoa Berlin, cũng cho rằng người Do Thái không nên trở lại đời sống biệt lập, cũng không nên bỏ Đức đi Palestine.

“Chúng ta yêu mảnh đất này, ngôn ngữ này, dân tộc này,” Peyser viết. “Chúng ta gắn liền với nó.”

Samuel Breslauer, chủ bút một nhật báo bảo thủ nổi tiếng tại Berlin, cũng đứng gần họ. Ông là người Do Thái, nhưng đồng thời là một người theo chủ nghĩa quốc gia Đức nhiệt thành.

Trong một thời gian, Naumann và tổ chức của ông đứng gần Đảng Nhân Dân Đức, một chính đảng hữu khuynh ôn hòa dưới sự lãnh đạo của Gustav Stresemann.

Rồi chính trường Đức đổi khác. Tháng Chín năm 1930, Đảng Quốc Xã tăng số phiếu gần gấp mười lần trong cuộc tuyển cử toàn quốc. Một phong trào từng đứng bên lề bỗng trở thành một thế lực.

Trong giới của Naumann bắt đầu xuất hiện một câu hỏi mà trước đó khó tưởng tượng: Một người Do Thái có thể ủng hộ chủ nghĩa Quốc Xã hay không? Một số người bắt đầu nghĩ là có.

Naumann nhìn sang nước Ý của Benito Mussolini. Người Do Thái đã tham dự cuộc Tiến Quân Vào La Mã năm 1922. Guido Jung, một người Do Thái, từng làm bộ trưởng tài chánh. Renzo Ravenna, cũng là người Do Thái, làm thị trưởng Ferrara.

Nếu người Do Thái có thể sống dưới chế độ phát xít ở Ý, Naumann nghĩ, tại sao không thể ở Đức?

Ông còn tìm thấy một cách giải thích khác. Naumann cho rằng người Do Thái tại Ý ít bị ghét hơn vì họ ít chen vào những ngành trí thức như luật, y khoa và báo chí. Ông khuyên thanh niên Do Thái Đức nên học nghề mộc, nghề nề thay vì cứ đổ vào đại học và những nghề chuyên môn.

Ý tưởng vẫn không thay đổi: nếu người Do Thái thay đổi, cách người khác đối xử với họ cũng sẽ thay đổi.

Mùa hè năm 1932, Naumann đi thêm một bước.

Ông viết rằng chủ nghĩa Quốc Xã là con đường có thể đưa nước Đức tới một cuộc phục hưng và khôi phục thanh thế quốc gia.

Trên thực tế, ông gần như kêu gọi người Do Thái bỏ phiếu cho Hitler.

Các tổ chức Do Thái khác kinh hoàng.

Họ nhắc Naumann rằng Hitler chưa bao giờ giấu thái độ đối với người Do Thái. Những lời kích động không phải chuyện của vài thuộc cấp quá khích. Hitler chưa từng cải chính họ. Sự thù ghét người Do Thái nằm ngay trong nền tảng tư tưởng của Quốc Xã.

Naumann vẫn nghĩ khác.

Ông tin một phần những lời dữ dội ấy là khẩu khí chính trị. Một khi Hitler phải thật sự cai trị, những vấn đề lớn hơn sẽ chiếm chỗ: phục hồi nước Đức, lập lại trật tự, chống Cộng, giải quyết kinh tế.

Rồi cơn sốt bài Do Thái sẽ nguội.

Naumann nhìn vào những lý do khiến nhiều người Đức đến với Quốc Xã — lòng khao khát phục hưng quốc gia, nhu cầu trật tự, chống Cộng, nỗi khốn khó kinh tế — và tin rằng đó mới là những động lực chính.

Ông coi nhẹ một điều - những tài liệu Quốc Xã được nghiên cứu sau này cho thấy 26 phần trăm những người được hỏi đã nói thẳng rằng lòng căm ghét người Do Thái là một lý do khiến họ gia nhập đảng.

Ngày 30 tháng Giêng năm 1933, Hitler trở thành Thủ Tướng.

Không phải đợi lâu để biết những lời chống Do Thái có phải chỉ là lời tranh cử hay không.

Bạo lực bùng lên.

Người Do Thái bị đánh trên đường phố, trong cửa tiệm, ngay tại nhà. Một thanh niên bị đánh đến tóe máu rồi bị xát tiêu vào vết thương; ông chết vì nhiễm trùng. Một căn nhà trên đường Friedrichstrasse sang trọng ở Berlin bị biến thành nơi tra tấn.

Báo chí ngoại quốc loan tin.

Ngày 25 tháng Ba, Hermann Göring triệu tập Naumann cùng một số lãnh tụ Do Thái tới văn phòng. Trên bàn Göring là một chồng báo ngoại quốc. Ông ta nổi giận, gọi những bản tin về bạo lực tại Đức là vu khống và dọa rằng nếu chúng không chấm dứt, chính quyền không còn có thể bảo đảm an toàn cho người Do Thái.

Naumann thực ra đã mang theo một danh sách những cuộc hành hung để phản đối. Nhưng khi bước ra khỏi cuộc họp, ông lại tuyên bố rằng tuy quả có những hành vi quá đáng đối với người Do Thái, người Đức không cần ngoại quốc xen vào chuyện nội bộ của mình. Naumann khuyên đồng bào mình hãy kiên nhẫn.

Nước Đức đang trải qua những “ngày thịnh nộ,” ông viết. Cơn giận rồi sẽ qua. Ông chờ một ngày người “Aryan và Do Thái” lại có thể bắt tay nhau vì tổ quốc.

Trong lúc ông chờ, chính quyền Hitler bắt đầu viết sự thù ghét thành luật. Người “không Aryan” bị loại khỏi công chức. Người Do Thái bị cấm hành nghề luật. Max Naumann mất nghề. Số sinh viên Do Thái được nhận vào trường học và đại học bị hạn chế. Naumann vẫn chưa đoạn tuyệt với chế độ.

Một hôm, con trai của Alfred Peyser gặp Naumann trên xe điện ngầm Berlin. Ông vừa dự một buổi họp với các lãnh tụ lực lượng xung kích Quốc Xã trở về. Ông nói về “những lý tưởng cao đẹp” của họ và về sự cần thiết phải cố hiểu cách họ nhìn thế giới.

Peyser sau này nhớ lại rằng, trước tất cả những gì đã xảy ra, thái độ ấy gần như không thể hiểu nổi. Trong những buổi họp của nhóm Naumann bắt đầu xuất hiện cờ chữ vạn của đảng Quốc Xã.

Có chuyện kể rằng hội viên chào Hitler và hát đảng ca Quốc Xã. Naumann phủ nhận chuyện hát, nhưng ông bênh vực kiểu chào giơ thẳng cánh tay và nói người Do Thái cần “vượt qua nỗi sợ chữ vạn swastika.”

Tháng Tám năm 1934, Tổng Thống Paul von Hindenburg qua đời. Hitler tổ chức trưng cầu dân ý để nhập quyền Tổng Thống vào chức Thủ Tướng, trên thực tế đưa quyền lực quốc gia vào tay mình. Naumann kêu gọi những người Do Thái “cảm thấy mình là người Đức” bỏ phiếu Thuận.

Một năm sau, tháng Năm 1935, Gestapo ghi nhận khoảng 400 người Do Thái Đức theo chủ nghĩa quốc gia họp tại Berlin. Naumann nhấn mạnh rằng họ là những người Đức chân chính và đã hoan nghênh cuộc thay đổi mà Hitler đem tới cho nước Đức.

Buổi họp kết thúc bằng khúc ca hào hùng Deutschland, Deutschland über alles. (Nước Đức, Nước Đức Là Trên Hết).

Naumann đã dành nhiều năm tìm cách chứng minh với chính quyền mới rằng những người như ông không phải kẻ thù.

Chính quyền ấy chưa bao giờ đáp lại.

Ngày 15 tháng Chín năm 1935, Hitler ban hành Luật Nuremberg.

Max Naumann, cựu đại úy, người mang hai Thiết Thập Tự danh dự, người từng chiến đấu cho nước Đức và kêu gọi đồng bào mình trao thêm quyền cho Hitler, bị tước quốc tịch Đức cùng khoảng nửa triệu người Do Thái khác.

Hai tháng sau, ngày 18 tháng Mười Một, Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia bị giải tán. Gestapo bắt Naumann ngay trong ngày. Ông bị đưa tới Columbia-Haus, một nhà giam và nơi tra tấn của SS tại Berlin.

Vài tuần sau, Naumann dùng mảnh kính lấy từ chiếc kính đeo mắt để cắt cổ tay tự tử. Ông sống sót và được thả.

Naumann chết vì ung thư vào tháng Năm năm 1939, gần như cô độc. Người vợ đã ly dị. Con gái tuyệt giao với ông vì lập trường thân Quốc Xã.

Những người từng đi cùng con đường với ông cũng không được Hitler dành cho một ngoại lệ nào.

Alfred Peyser bị tước giấy phép hành nghề y, bị giam một thời gian rồi may mắn trốn sang Thụy Điển.

Siegfried “Fred” Bon bị đưa tới trại Theresienstadt năm 1940 và chết tại đó năm 1944.

Samuel Breslauer mất chức chủ bút, mất tài sản, rồi chết tại Theresienstadt cùng người vợ Bertha.

Những người đi theo Naumann chưa bao giờ đông. Họ chiếm chưa tới 2 phần trăm trong khoảng nửa triệu người Do Thái Đức.

Nhưng chính vì thế câu chuyện của họ càng đáng nhớ.

Họ không ủng hộ Hitler vì không biết Hitler nghĩ gì về người Do Thái. Hitler đã nói khá rõ. Họ nghe. Họ chỉ tin rằng những lời ấy không phải toàn bộ con người Hitler. Họ tin khi phải cai trị một quốc gia, Hitler rồi sẽ bớt cực đoan. Họ tin lòng yêu nước và sự hy sinh của mình sẽ được nhìn nhận. Họ tin có thể chứng minh rằng mình không giống những người Do Thái mà Quốc Xã căm ghét.

Trên hết, họ tin rằng một chế độ nhân danh nước Đức sẽ nhận ra họ trước hết là người Đức.

Họ đã tính sai.

Max Naumann được chôn tại một nghĩa trang Tin Lành ở Stahnsdorf, phía tây nam Berlin.

Trên bia mộ có tên ông, cấp bậc quân đội, ngày sinh và ngày mất. Không có dấu hiệu nào nói ông là người Do Thái. Sau cùng, đó cũng là ân huệ, bởi suốt đời, Max Naumann muốn được nhìn nhận trước hết như một người Đức.

Cung Đô biên dịch
Tóm lược theo bài “The Jews Who Voted for Hitler” của Timothy W. Ryback, The Atlantic, ngày 25 tháng 8, 2026.
 

Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.
Năm 1979, Steve cho xuất bản Indochina Newsletter là tài liệu liên quan đến các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam sau ngày 30/4/1975, sau đổi tên thành Indochina Journal, rồi Vietnam Journal. Tôi và vài người Việt nữa đã cùng làm việc với Steve trong việc phối kiểm tin tức liên quan đến tù nhân lương tâm và dịch nhiều tài liệu của các phong trào đòi tự do dân chủ tại Việt Nam sang tiếng Anh, như Cao trào Nhân bản của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Diễn đàn Tự do của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, các bài giảng về sám hối vào Mùa chay 1990 của linh mục Chân Tín, cũng như những tuyên cáo về tình trạng thiếu tự do tôn giáo của các Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát; của Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Mục tiêu ban đầu khi Tổng thống John F. Kennedy thành lập USAID trong cuộc chiến tranh lạnh với Nga vào năm 1961, nội các của ông không chỉ nhắm đến các viện trợ dân sự và nhân đạo mà còn mang mục đích sâu xa hơn: Đó là sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác sẽ bảo vệ cho nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Mục đích này vẫn không thay đổi sau hơn sáu thập niên hoạt động của USAID, qua nhiều đời tổng thống Mỹ. Bởi lợi ích của nước Mỹ nằm khắp thế giới, những sự giúp đỡ, viện trợ trước mắt mang lại lợi ích chiến lược lâu dài cho nước Mỹ. Các nghiên cứu về USAID cho thấy quyền lực mềm của nước Mỹ do USAID đã mang lại thiện cảm về nước Mỹ, giúp hàng hóa, sản phẩm Mỹ được ưa chuộng tại các thị trường nội địa và gián tiếp giúp cho các tập đoàn Mỹ nhận được các hợp đồng kinh tế to lớn so với các đối thủ. Ngược lại, khi thiện cảm này bị mất đi, hay thậm chí bị ghét bỏ, làn sóng tẩy chay hàng Mỹ là lẽ đương nhiên. Những chương trình giáo dục, huấn nghệ cho trẻ em các nước chiến tranh
Doanh nhân Donald Trump đã khởi xướng trào lưu dân tuý và hai lần thắng cử tổng thống. Ngay khi xuất hiện lần đầu tiên trên chính trường để vận động tranh cử năm 2016, Trump không có tham vọng thu tóm quyền lãnh đạo Đảng Cộng hoà trong ý tưởng thù địch, mặc dù thể hiện nhiều quan điểm chống đối gay gắt. Ngược lại, ngày nay, "chủ thuyết Trump" chế ngự toàn diện mọi sinh hoạt của đất nước. Thực ra, khi nhìn lại hoạt động của Đảng trong thời hiện đại, đây là kết quả của một tiến trình dài nhằm tái định hình chiến lược bảo thủ mà Đảng đã đề ra vào những năm 1960.
Một trong những sắc lệnh hành pháp đầu tiên của Tổng thống Donald Trump là một đòn tấn công trực diện vào nguyên tắc hiến pháp lâu đời về quyền có quốc tịch theo nơi sinh (birthright citizenship). Quyền này được quy định trong Tu Chính Án Thứ 14 của Hiến pháp Hoa Kỳ, ghi rõ rằng bất kỳ ai sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ đều đương nhiên trở thành công dân Hoa Kỳ, không phân biệt nguồn gốc hay tình trạng nhập cư của cha mẹ.
Trong hơn một thế kỷ qua, vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên phong phú của Greenland đã khiến hòn đảo này trở thành một trong những mục tiêu tham vọng của Hoa Kỳ, đặc biệt là trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh (Cold War). Nhưng các nhà lãnh đạo Greenland vẫn luôn kiên quyết từ chối những lời đề nghị này. Từ kế hoạch mua lại đất đến các cuộc đàm phán thiết lập căn cứ quân sự, Greenland đã trở thành một trong những hòn đảo được săn đón nhất trên thế giới.
Hơn năm thập niên đã trôi qua, tuần này hàng loạt các bài báo dòng chính Hoa Kỳ đã đưa ra nghi vấn Nick Út có thể không phải người chụp tấm ảnh biểu tượng cuộc chiến Việt Nam trên các tờ báo lớn Hoa Kỳ: Washington Post, Los Angeles Times, National Catholic Reporter, CBS News, BBC, Vanity Fair... Câu hỏi được chạy dòng tít lớn trên các báo là liệu Nick Út chụp tấm hình, hay một người khác tên là Nghệ Nguyen đã chụp tấm hình này?
Tết năm nay là Tết Ất Tỵ, người ta đón xuân con rắn rắn bò bò trườn trườn mình trên mặt đất, nó không có chân, nhưng lướt mình trong bụi cây, trong hang ổ ngóc ngách nơi rừng cây rậm rạp, nhất là ở các vùng nhiệt đới um tùm, rắn đang lò mò mang mùa xuân tới… rắn đang mang về mùa xuân Ất Tỵ! Hình ảnh con răn có người yêu thích, quấn quanh cổ, quanh người đi chơi, quảng cáo, bán thuốc sơn đông mãi võ, cũng có người ghét bỏ, rùng mình quay đi.
Nước ta có nhiều ngày Tết. Mỗi Tết có một ý nghĩa riêng, có đôi khi theo thói quen của Trung Hoa ngày xưa. Các lễ Tết gồm có: Tết Nguyên Đán ngày Mồng Một tháng Giêng, Tết Hàn Thực vào ngày 3 tháng 3 , Tết Đoan Ngọ ngày 5 tháng 5, Tết Trung Thu ngày 15 tháng 8 và Tết Song Thập ngày 10 tháng 10.
12:05 giờ đêm, từ buổi tiệc Giáng Sinh ở nhà cô bạn thân ra về, một cảm giác ứa nghẹn bất chợt trào lên. Trong khoảnh khắc, tôi thấy mình tắp xe vào bờ đường xa lộ, rồi không thể tự kiềm chế, từng cơn nấc ào đến, nước mắt ràn rụa, tôi khóc như thể vừa hay tin người thân yêu nhất mới qua đời. Cơn òa vỡ đầu tiên này xảy ra vào một đêm cuối tháng 12, khi tôi ở tuổi 46. Thật ra, nhiều ngày, tháng trước đó, mọi giác quan trong người đã phát ra nhiều tín hiệu cảnh báo về một cơn chấn động kéo theo những hoang mang, những trăn trở về ý nghĩa, lẽ sống… Nhưng bận rộn với việc chứng minh bản thân qua nhiều vai trò, trái tim tôi không có chỗ cho cảm xúc lạ, cái đầu coi thường khái niệm “midlife crisis”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.