Nhã Ca: Thơ Từ Vết Thẹo.

2/10/202300:00:00(View: 4521)

Hình-chính-trang-nhất
Nhà văn Nhã Ca. 2 & 3: Tập thơ Nhã Ca vừa tái bản lần đầu tại Hoa Kỳ, và Tuyển Tập Truyện Ngắn O Xưa, phát hành và ra mắt độc giả hôm nay, thứ Sáu 10 tháng Hai, 2023 tại Westminster, California.

 

Tôi thích đọc thơ. Khi thích thơ của tác giả nào, thì bói thân phận của tác giả đó. Bói theo phương pháp thông diễn, nghĩa là tìm hiểu chiều sâu của thơ qua chiều sâu của tác giả.

Tôi thích thơ Nhã Ca từ thời còn là học sinh trường trung học Lê Quí Đôn, Nha Trang.  Khi nghe bút hiệu Nhã Ca, hầu hết mọi người đều có cảm giác thanh cao, trong sáng, sảng khoái. Nhưng khi bói về hán nôm, thì số mệnh của bút hiệu kia, không phải như vậy. Có một chút tiết lộ trong vài câu thơ của chính tác giả:

“Đời sống ôi buồn như cỏ khô …

Khi về tay nhỏ che trời rét …

Và nỗi tàn phai gõ một lần …”

                                                        “Thanh Xuân.” 

1. Vết Thẹo.

Theo tự của Hán Nôm,  “Nhã” có hai nghĩa đáng quan tâm và “Ca” có bốn nghĩa đáng chú ý.

10-2-2023-_18-pages_-VB_-6



“Nhã” có nghĩa thanh cao, tao nhã; vừa có nghĩa  là một loài cỏ thơm, có người gọi là Bội lan nhược.

Trong khi “Ca” có bốn nghĩa: thứ nhất là ;lời ca, hát ca, trong trường hợp này là thi ca; thứ hai, là nghịch ngợm, ranh mãnh; thứ ba là tiếng ho, tiếng nôn mửa; thứ tư là màu cà sa hoặc áo cà sa.

Trong bài “Khi Hai Mươi Tuổi,” Nhã Ca cũng đã tự nhận mình là loài cỏ. “Khi ngã xuống những tháng ngày mục rã / Tôi cũng không cần ai nhớ ai quên / Người con gái chết đi mang tên loài cỏ dại.”

Từ những ý nghĩa của bút hiệu Nhã Ca, tôi có thể viết ra một đoạn bói số mệnh nhà thơ:

“Nhã Ca: tuy là một loài cỏ dại, nhưng có tiếng thơ thanh thoát tao nhã bên ngoài, bên trong chứa đầy nghịch ngợm, khác thường. Trải qua cuộc sống thăng trầm, tiếng thơ trở thành tiếng ho, tiếng nôn mửa, rồi tiếng thơ đó, về chiều, lắng đọng thành âm điệu cà sa.”

Tác phẩm “Nhã Ca, Thơ” toàn tập cho phép tôi có cái nhìn tổng thể và cũng trả lời được nỗi niềm thắc mắc của cậu học trò mới lớn, khi đọc bài thơ “Vết Thẹo.”

Từ tuổi thiếu niên vươn lên tuổi thanh niên, ngoài trừ thân xác nẩy nở, trí tuệ cũng gia tăng tò mò và tưởng tượng. Hầu hết, tò mò tưởng tượng lúc đó, hướng về phụ nữ, đối với tôi là một nhân vật thần bí. Khi vô tình đọc được bài thơ “Vết Thẹo”, tôi vô cùng sửng sốt.

“Tôi sống tự do trong thân thể mình / Nghe vết thẹo lớn dần và mọc rễ.” Đọc lên, nghe vừa lạ lùng, vừa khiêu khích, vừa bí mật. Sau đây là một nửa phần trên của bài thơ:

Đứa trẻ gái ra đời mang vết thẹo cô đơn

Giữa thời không đói không no không mùi vị

Tôi sống tự do trong thân thể mình

Nghe vết thẹo lớn dần và mọc rễ

 

Tuổi ấu thơ rồi thoắt tuổi thành niên

Ôi đầu mình tay chân thời trẻ dại

Tôi lớn lên quen mùi vị ái tình

Bước một bước qua hết thời con gái

Tám câu thơ tạo ra nhiều tưởng tượng. Lúc đó, tôi cũng không hiểu vì sao Nhã Ca lại có vết thẹo ghê gớm như vậy. Dù không hiểu nhưng vẫn thấy mới lạ và hay. Chất nghịch ngợm hiện hình: “Bước một bước qua hết thời con gái.” Lạ thật? Tôi bước suốt mấy năm vẫn còn thời con trai. Còn cô này bước đi đâu mà vội vàng mất thời con gái? Thành thật mà nói, tận trong thâm tâm, tôi cũng muốn có vết thẹo như vậy, vì tuy mơ hồ nhưng tôi có cảm giác vết thẹo này làm cho thơ hay.

Mãi về sau, tôi mới hiểu, vết thẹo là gì. Mời đọc tám câu tiếp theo của bài thơ;

Đứa trẻ gái ra đời không ai tưởng

Tôi một mình trong vết thẹo thâm sâu

Thân thể rỗng lưu thông từng mảnh vụn

Vết thẹo đau thương lau sậy lút đầu

 

Không nói không nhìn không tất cả

Tôi mang tính tình mình trong suốt từng ấy năm

Từng ấy năm ngó đời như kẻ lạ

Cuộc chiến trong tôi tiếp diễn lạnh lùng.

A, thì ra vết thẹo bên ngoài chỉ là một biểu tượng cho một vết thẹo bên trong. Chúng ta, mỗi người sinh ra đều có vết thẹo. Dù lớn hay nhỏ, sâu hay cạn, vết thẹo sẽ không bao giờ lành. Chúng ta mang thương tích suốt đời vì cuộc chiến trong thâm tâm tiếp tục làm vết thẹo chảy máu. Nếu những nghệ sĩ tự tìm hiểu vết thẹo và khai thác vết thương, tôi tin rằng họ sẽ có những sáng tác có giá trị. Còn những ai không sáng tác, cũng đều có vết thẹo, hiểu được vết thẹo, thì sẽ hiểu được, vì sao chúng ta thường xuyên không hài lòng về cuộc sống của mình.

Vết thẹo đó nhức nhối, phiền hà suốt đời, đã khiến Nhã Ca viết ra những câu thơ sâu sắc nhân sinh quan, những câu thơ đọc lên thấy bùi ngùi cho tác giả và cho chính mình, vì vết thẹo trong lòng chúng ta bắt được sự đồng cảm. Nhã ca viết:

- Bài dạ khúc cắt đôi chiều thứ ba / Chàng có giọng hát buồn như nước chảy / Tôi ở lại gọi trăm lần nhã ca / Tiếng gọi thê lương kéo suốt thời thơ dại.

 

Hai mươi tuổi thôi hết thời con gái / Cành xanh xao với trái mùa thu / Tuổi trẻ bị bỏ quên không bao giờ ngó lại / Tôi với ngày qua biển xám mây mù.

                                              (Nhã Ca Mùa Hạ.)

- Đêm thì dầy và mượt như nhung / Đất thì tối và sần như núi / Đám đông thì đen và dài như sông / Tôi thì trơn và trườn như rắn.

                                                            (Đêm 64.)

- Nuốt miếng cơm mặt mày như xối / Nuốt luôn dùm nhau gáo mồ hôi / Cây ước vọng lòng ta cằn cỗi / Mồ hôi ơi hãy tưới dùm tôi.

                                            (Cơm Trưa Mùa Hạ.)

- Giấc mộng nào làm tôi thức dậy / Và trên không từ mút trời cao / Thả xuống linh hồn này từng vùng lũng tối / Xuyên cánh đồng đốm lửa đầu tiên / báo tin một vì sao tạ thế / Một đám tang cử hành ngoài vô biên / Trên lối đi hoa rắc thành bụi / nhỏ Con chim không kêu / gục đầu / cỏ úa.

                                                         (Chim Nhỏ)

 

2. Tiếng Nôn Mửa.

Triết gia Jean-Paul Sartre nôn mửa vì thất vọng, vì ghê sợ, xã hội và đồng loại. Tiếng thơ thanh cao, nghịch ngợm, và âm u của đời sống, một hôm trở thành tiếng kêu gào, nôn mửa khi Nhã Ca đấu tranh, bệnh vực, bảo vệ cho thân phận đàn bà, cho đàn bà Việt Nam.

Vào thời điểm thơ Nhã Ca đang vùng vẫy, văn hóa Việt đầy dẫy những điều răn của Khổng Tử, xã hội Việt nghiêm túc ‘trọng nam khinh nữ’. Thân phận đàn bà Việt gần như là nô tì tự nguyện. Mặc dù ban đêm, có một số nô tì lên làm chủ, nhưng ban ngày, họ vâng dạ, tam tòng tứ đức, thờ chồng, chờ chồng. Ngay cả bây giờ, một số phụ nữ Việt lớn tuổi vẫn còn là cái bóng của chồng, cái dây leo của đàn ông. Vào thời đoạn đó, không thấy các nghệ sĩ Việt lên tiếng bênh vực quyền phụ nữ. Các nhà thơ thường ca tụng phụ nữ vì bản thân của họ. Ví dụ như nhà thơ Nguyên Sa, ông dẫn đầu trong số các nam thi sĩ ca tụng phụ nữ, nhưng cũng chỉ như ông vua, ban thưởng ân huệ cho hoàng hậu và phi tần, rồi bất ngờ chém đầu lúc nào không ai biết.

Nhã Ca đã thi hành đúng đắn vị trí và vai trò của nghệ sĩ thời đại. Cùng thời với bà, hàng loạt nhà thơ nam nữ trên thế giới đã lên tiếng và hành động chống lại những áp bức nhân quyền, bao gồm quyền phụ nữ. Nhã Ca đã đối đầu với những bất công xã hội, đả phá những vòng rào truyền thống, trả lại cho đàn bà những gì thuộc về đàn bà. Của cesar trả lại cho Cesar. Nhã Ca viết:

-Tại sao ta làm đàn bà

tại sao ta được yêu thương

được phản bội

được bị lừa dối

được sinh con, đẻ cái

tại sao, tại sao?

Ôi, biết bao giờ ta hết hỏi

 

Cái nhà của ta, con cái ta

chăn gối của ta, giấc mơ ta

Hãy để ta, tự ta

Làm đàn bà để sống

Làm đàn bà để chết.

                                             (Làm Đàn Bà)

Trong bài thơ “Đàn Bà Là Mặt Trời,“ Nhã Ca Viết:

- Hỡi các chị, chúng ta đều sáng như mặt trời

tinh khiết như bình minh

vì chúng ta làm ra ái tình

ra hoa lá và sự sống trên trái đất

 

Người đàn bà nào cũng đẹp

Mùa xuân và hoa hồng đều nở vì chúng ta

Chúng ta ban phát ái tình

Cho thiên đàng của chúng ta tươi tốt mãi [...]

 

Chúng ta góp sông biển núi đồi trên thân thể

và rừng trong tóc

Tôi sẽ hỏi mượn các chị

mọi thứ xinh đẹp và nóng bỏng

tôi sẽ gõ những cánh cửa im lặng thật nhẹ

để chàng kinh hoàng nhận ra tôi [...]

 

Tôi sẽ là mặt trời trong lòng chàng

Buổi mai nào cũng lộng lẫy rực rỡ

Tôi sẽ mát như trăng nhưng cũng nóng hơn lửa

hơn cát ở sa mạc

hơn cả cơn giận của trận hồng thủy trong thánh kinh

Bởi tôi là đàn bà

người đàn bà nào cũng xinh đẹp

cũng làm ra sự sống ;...]

 

Cám ơn Thượng Đế đã cho tôi đôi vú

cho tôi da mịn và tóc dài

cho tôi rực rỡ như mặt trời

Để tôi làm ra ái tình và rượu ngọt

tràn trên trái đất [...]

 

3. Tiếng Ho.

Vết thẹo trong hồn, vết thương kinh niên, dĩ nhiên gây thành tâm bệnh bật ra tiếng ho. Ho là một âm thanh bình thường quen thuộc đối với mọi người. Không có ai mà chưa từng ho. Vì vậy, nghe tiếng ho là thông cảm ngay. Bất chợt, nghe tiếng ho là biết có người đang bệnh, đang cưu mang điều gì khó chịu trong thâm tâm.

Thơ Việt Nam từ trước cho đến giờ, ít có ai mang tiếng ho vào trong thơ. Hầu hết thơ Việt từ thời thơ Mới đều yêu chuộng ngôn ngữ mượt mà bóng bẩy, đôi khi hoa hòe, đọc lên vang rền mà không có mấy ý nghĩa. Từ thời thơ Hậu Hiện Đại (1960-1990) và có lẽ đã bắt đầu trước đó, phong trào thế giới sử dụng lời nói hàng ngày để làm thơ được ủng hộ mạnh mẽ, vì tính chân thật, dễ hiểu, và quen thuộc. Tiếng ho là biểu tượng cho lời lẽ bình thường nói lên những tình cảm khi cảm xúc tràn ngập hoặc sự chân thật vượt qua những ngôn từ hoa mỹ.

Sử dụng lời nói bình thường vào thơ, nếu tay nghề không vững, sẽ làm cho bài thơ trở nên bình dân, tiếng giang hồ gọi là thơ “mùi”. Nhưng nếu sử dụng đúng chỗ, đúng lúc, đúng mỹ thuật, thì vô cùng lợi hại. Sẽ gây kinh ngạc và cảm thông giữa người đọc và tác giả.

Đọc toàn tập thơ Nhã Ca, có thể thấy ngay, dấu ấn của nhà thơ nằm trên loại thơ bảy chữ, tám chữ. Những câu thơ hay hầu hết xuất hiện ở câu thơ dài đủ cho một hơi thở. Nhưng rồi, Nhã Ca đã sớm phát hiện cách sử dụng lời nói hàng ngày, đưa vào thơ, tương tựa mời người đọc ăn một bữa tiệc thịnh soạn. Thỏ nấu rượu, vịt Bắc Kinh, Cá suhsi, bỗng dưng khách mời thấy tô canh chua, cá kho tộ. Ngạc nhiên biết bao. Ngon quá trời.

Người đọc sẽ nghe người vợ nói:  

Anh rung cành, em hái trái / Cùng cắn ngập răng / Trái nghiệp chướng đắng nghét, hấp dẫn /

Trúng độc rồi, phải không / Cùng tử thương /

Chết nhé.

 

Người chồng trả lời:

Chết đâu dễ, / Còn bao nhiêu là việc /

Đành chờ. /

 

Người vợ hỏi:

Sống tiếp hả anh?

                                                   (Tháng Giêng.)

“Chết đâu dễ / Sống tiếp hả anh”, đọc đến đây, tôi giật mình. Sống thật là khốn nạn. Muốn sống tiếp cũng phải hỏi. Câu hỏi hết sức bình thường, nhưng rơi vào đoạn thơ này, đã nói lên nỗi niềm thất lạc trong tận cùng thất vọng của một đôi vợ chồng trúng độc vì đi tìm hạnh phúc.

Nhưng tôi còn giật mình hơn nữa, khi đọc bài thơ “Khi Trở Lại Sài Gòn.”

Bây giờ là dĩ vãng vùi lấp

Không còn gì nữa

 

Lời hứa của chàng cùng mùa mưa lũ

Vừa thức dậy

Làm sao quên được

Chuyến xe đêm những bầy sao tình tự

Trời mưa, trời mưa, vẫn trời mưa

Má ơi má ơi

Con còn sống

Năm đó, tôi hẹn với mẹ về ăn tết. Thằng con này ít khi về nhà. Mẹ mừng viết thư chờ đợi. Nhưng rồi, thằng con ham chơi kia, quên mất. Mãi đến trưa 30 tết, mới sực nhớ. Nhảy lên chuyến xe đò tốc hành cuối cùng, chạy về thăm mẹ. Tôi đến nhà gần nửa khuya. Mẹ đã vào giường ngủ. Khi nghe tiếng tôi từ phòng khách, “Con đã về rồi mẹ.” Tôi nghe bà bật khóc từ phòng trong. Khóc vui mừng. Khóc tủi thân. Vừa khóc vừa đi ra ôm tôi. Vết thẹo đó đến nay vẫn còn chảy máu.

Tôi khẳng định rằng, trên cõi đời này, không có bà mẹ nào đang chờ đợi con, không biết nó lưu lạc sống chết ra sao, bỗng một hôm, đột ngột, nghe được tiếng con mình trở về. Tôi tin rằng bà mẹ đó sẽ bật khóc, khóc nhiều hơn mẹ tôi, vì đứa con đó không chỉ trở về mà sống sót trở về.

“Má ơi má

Con còn sống.”

Trong tác phẩm thơ toàn tập, người đọc sẽ nhận ra nhiều câu nói bình thường trở nên rung cảm, xúc động, dưới tài năng của nhà thơ Nhã Ca.

                                                                  
Ngu Yên.

Ghi chú:

Trở về lại với bói tự Hán Nôm, sau khi kết thúc tác phẩm thơ toàn tập, tôi nghĩ, có lẽ, Nhã Ca sẽ dành nhiều thời giờ lắng đọng vào âm thanh của Phật pháp, của màu cà sa. 

Bên trong gương mùa đông đang chờ đợi… Trong biên vực ảo ảnh của chờ đợi thì anh có thể, dựa vào lưng gương lạnh giá/ hát nghêu ngao một cách vô tư… cho đến khi tiếng rung cuối cùng của tấm gương trong suốt ấy mở ra thiên địa mới… Có vẻ như trong bụng chờ đợi của mùa đông đang sửa soạn để khai sinh. Mời người lắng vào thơ của các tác giả Han Kang- Nguyễn Man Nhiên, Nguyễn Lương Vỵ, Trương Đình Phượng, Nguyễn Đạt, Bei Dao (Bắc Đảo)-Cù An Hưng, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Ngọc Diệp, Trịnh Thanh Thủy, Nguyễn Thị Khánh Minh, Vũ Hoàng Thư, Vân Thuyết, Hoàng Xuân Sơn, Trịnh Y Thư, Khế Iêm, Nguyễn Xuân Thiệp, để nghe nỗi trở dạ rộn ràng cùng u buồn của mùa Đông.
Thiên Lý Độc Hành, là tựa một tập thơ của Thầy, và cũng là bốn chữ được viết treo trên hương án của Thầy tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, nơi Thầy ở vào những năm tháng cuối đời. Thiên lý độc hành, hình ảnh biểu trưng nhất về Thầy Tuệ Sỹ, muôn dặm cô lữ dằng dặc nỗi ưu tư phận nhà vận nước…Và, khó làm sao để tường tận cái chấp chới của vạt áo tỳ khưu đẫm ánh trăng đêm, thấp thoáng ẩn hiện Người và cõi thơ tịnh tĩnh. Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở/ Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan... Hỏi, tại sao, vì đâu, lòng muối kiên định... để bất khuất chưa tan?
Tháng tư nắng quái trên tàng lá / Ngày nóng rang, khô khốc tiếng người / Nước mắt ướt đầm trên mắt mẹ / Nghìn đêm ai khóc nỗi đầy vơi? / Tháng tư em dắt con ra biển / Hướng về nam theo sóng nổi trôi / Thôi cũng đành, xuôi triều nước lớn / Làm sao biết được, trôi về đâu?
Dù đứng bên bờ vực của tận diệt, con người vẫn có thể cứu chuộc chính mình bằng ngôn từ và ký ức, đó là tinh thần của giải Nobel Văn Chương năm nay. Trong ánh sáng của niềm tin, Việt Báo đăng lại bài thơ “Hãy để nước Mỹ lại là nước Mỹ” của Langston Hughes – một khúc ca vừa đau đớn vừa thiết tha, viết gần một thế kỷ trước, mà như viết cho thời đại ngày nay. Giấc mơ Hughes gọi tên lại vang lên – giấc mơ về một xứ sở nơi lời hứa của nước Mỹ là hơi thở chung của những người cùng dựng lại niềm tin vào công lý, vào tự do, vào chính con người.
Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp, nhất là trong tập Tôi Cùng Gió Mùa, nếu cho là chủ quan, tôi vẫn nói rằng, Khí thơ của Nguyễn Xuân Thiệp là khí thu. Trăng ở thơ đó là trăng thu. Gió ở thơ đó mang cái hắt hiu thu. Không biết tại sao, chỉ thấy Khi đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp tôi lại liên tưởng đến cảm xúc của Trương Trào trong U Mộng Ảnh xưa: “Thơ và văn được như cái khí mùa thu thì là hay.”. Nguyễn Xuân Thiệp, xuất hiện lần đầu tiên trên dòng thơ của văn học miền Nam Việt Nam vào năm 1954 trên Thẩm Mỹ Tuần Báo với bài thơ Nhịp Bước Mùa Thu. Bài thơ tính đến lúc này là 71 năm -tiếng thở dài một đời người-, hôm nay tôi đọc lại, cảm xúc vẫn bị lay động bởi hình ảnh u buồn của lịch sử vào thời gian xa xăm đó.
Nguyên Yên, một trong những nhà thơ đương đại nổi tiếng ở hải ngoại. Cô chưa in một tập thơ nào, chỉ xuất hiện trên một số trang web như Việt Báo, Văn Việt, Hợp Lưu, Blog Trần thị Nguyệt Mai, Phố Văn… Ngoài những bài viết về thời sự, bình luận ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình. Tôi thực sự bị dòng thơ này lôi cuốn.
Theo đại thi hào R.Tagore "Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong". Theo tác giả cổ đại Ovid (khoảng năm 43 trước Công Nguyên) thì: “Có ít nhiều sự thoải mái trong cơn khóc”. Thi sĩ Colley khẳng định: “Lời nói để khóc và nước mắt để nói” Thi sĩ người Pháp Alfred de Musset có câu thơ: “Cái duy nhất còn lại cho tôi ở trên đời/ Chính là những lúc đã đôi lần nhỏ lệ”. Thi sĩ người Anh Robert Herrick: “Giọt lệ chính là ngôn ngữ cao quý của đôi mắt” .Nhà thơ trẻ Nepal, Santosh Kalwar tâm sự: Tôi đã mỉm cười ngày hôm qua. Tôi đang mỉm cười ngày hôm nay và khi ngày mai đến, tôi sẽ mỉm cười. Vì đơn giản, cuộc sống quá ngắn để ta khóc về mọi thứ – Và ai đó đã cho rằng: Không có gì đẹp hơn một nụ cười đã trải qua những giọt nước mắt.
Trong tập Bốn Mùa Trời và Đất, Márai Sándor cảm giác về mùa hè, …Tôi đứng trên ban công, giữa một vùng xanh, nghe tiếng rì rào thức dậy của cây cỏ. Mùa hè đây rồi, tôi nghĩ; và nó giống như một cảm xúc tràn ngập trong tôi, không khoan nhượng, và đầy những kỷ niệm giản dị… (Giáp Văn Chung dịch) Trong tản văn Hoa Nở Vì Ai, Vũ Hoàng Thư viết, …Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm… Và mùa hè trong truyện của Đặng Thơ Thơ, … Đó là lúc chín nhất của mùa hè. Những trái táo bắt đầu căng mật. Từ trong lá cây thoảng ra những ngọn gió màu xanh thẫm...Ở Cảnh Nhàn của Bạch Vân Cư Sĩ có thú sống, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao…, có lẽ thời của người, nước còn trong ao còn sạch.
Bạn đang nghe thấy gì trong khí hậu tháng Tư? / Tiếng kêu từ đáy huyệt cuối trời. / Tiếng gió xoáy những cột cờ tử thương tuẫn tiết. / Tiếng phố vỡ triệu mảnh thủy tinh cắt lồng ngực tháng tư rỉ máu mãi chưa khô. / Tiếng sóng hôi dao mùi hải tặc từ oan nghiệt một thời biển huyết. / Tiếng oan hồn dật dờ tìm về cố quận, đáy vực kia bầy cá hoang tảo mộ. / Tiếng hậu chấn từ tâm hồn con dân tháng Tư choàng lên thảng thốt. Dấu chàm xanh lưu xứ để nhận ra nhau. / Tiếng con bướm gáy trong giấc ngủ đôi bờ chiến tuyến. / Tiếng vô vọng của dòng thơ đớn đau, sỉ nhục trải dài trên đất đai tổ quốc. /Tiếng mong mỏi trên những dòng thơ đang vuốt mắt lịch sử, xin hãy chết yên, chết quên, và mở lòng ra ôm những vết thương, trồng lại bóng Quê Nhà…
“Chìm trong biển chết trôi tim người / Còn gì đâu tiếc thương xa xôi …” Chiếc tàu nhỏ rời bến Constantine, Algeria, chở Enrico Macias đến một nơi xa lạ, người lưu vong không bao giờ được phép trở về. Làm sao cánh chim di có thể quên lối cũ? Chiến tranh xua đuổi ông ra khỏi quê nhà. Tàu khởi hành không một người đưa tiễn. “Người tình ơi, ta xa nhau. Mượn đôi mắt em lên đường.” Với cây guitar làm hành trang, ông ghi lại, “J'ai quitté mon pays …”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.