Cái-tôi trong thơ

18/08/202300:00:00(Xem: 3583)
 
Minh-họa-Đinh-Cường
Minh họa Đinh Cường
 
Nhà phê bình văn học Trung Quốc đời nhà Thanh, Viên Mai, có nói, “Làm người không nên có cái tôi, nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi”. Thi hào Tagore cho rằng, “Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ảnh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong”. Cả hai nhận định này đều đề cao cái Tôi-làm-Thơ, và cách biểu hiện những thuộc tính về Tôi ấy như thế nào trên ngôn từ thơ. Có hai yếu tố không ai phủ nhận được là cảm xúc và sáng tạo, chính hai yếu tố này định hình phong cách của nhà thơ. Cảm xúc thực được chuyển tải qua thi ngữ, thi ảnh mới mẻ, cá biệt, thì thơ càng có sắc thái nổi bật để lại dấu ấn riêng trong lòng người đọc, dường như không quá để nói rằng điều này định đoạt sinh mệnh một bài thơ. Thơ chỉ thực sự sống khi nó phản ảnh được bản ngã độc đáo của nhà thơ.
   
Mời bạn đọc thơ của các nhà thơ: Federico Garcia Lorca, Thanh Tâm Tuyền, Emily Dickinson, Elinor Wylie, Duy Thanh, Tuệ Mai, Trương Đình Phượng, Tần Vy, Vi Thùy Linh, Nhã Thuyên, Lưu Mêlan, Wislawa Szymborska, để thấy nơi thế giới nội tại của họ sừng sững một cái Tôi Tự Do, Cô Độc, Quyết Liệt, và điều khiến người ta chấp nhận cái Tôi Ngạo Nghễ ấy, là họ luôn có cái nhìn tự hỏi và tra vấn về mình, đó là hành trình tiến đến sự hoàn thiện, đấy là cái “bên trong” mà Tagore nhắn nhủ, từ đó cái Tôi trở nên vừa độc lập vừa chan hòa trong những mối tương quan ngoại tại. – NTKM.
 
***
 
FEDERICO GARCIA LORCA (1898-1936)
 
Tôi muốn trở thành thi sĩ,
từ đầu đến chân,
sống và chết với thơ.
 
Ngu Yên dịch (Trích trong Thơ Toàn Tập của Federico Garcia Lorca.)
 
*
 
THANH TÂM TUYỀN
 
“Ở đây tôi là vị hoàng đế đầy đủ quyền uy. Bởi vì người vào trong đất đai của tôi.
Người hoàn toàn tự do/ để cai trị tôi có những luật lệ tinh thần mà người phải thần phục nếu người muốn nhập lãnh thổ. Người hoàn toàn tự-do và có thể ném cuốn sách ra cửa sổ”…
(Lời mở đầu tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc).
 
Phục sinh (trích đoạn)
 
Tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thủy tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
Thanh Tâm Tuyền
Buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường
Tôi xin một chỗ quỳ thầm kín
Cho đứa nhỏ linh hồn
Sợ chó dữ
Con chó đói không màu
 
Tôi hét tên tôi cho nguôi giận
Thanh Tâm Tuyền
Đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi
em bé quàng khăn đỏ ơi
này một con chó sói
thứ chó sói lang thang
 
Tôi thèm sống như thèm chết
giữa hơi thở giao thoa
ngực cháy lửa
tôi gọi khẽ
em
hãy mở cửa trái tim
tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ
trong sạch như một lần sự thật 
 
*
 
EMILY DICKINSON (1830-1886)
 
Tôi là kẻ vô danh tiểu tốt! Bạn là ai?
 
Tôi là kẻ vô danh tiểu tốt!
Bạn là ai?
Cũng là kẻ vô danh tiểu tốt?
Ồ, ta sẽ thành đôi bạn tri âm
nhưng nhớ đừng cho ai biết
vì người ta sẽ trục xuất chúng mình!
 
Chán biết bao
phải là ông nọ bà kia 
được mọi người biết tiếng
Như con ễnh ương 
suốt ngày
phải nói tên mình
cho một bãi lầy ái mộ.
 
(Đỗ Tư Nghĩa dịch)
 
*
 
ELINOR WYLIE (1885-1928)
 
Xin đừng ai vì chút hy vọng nhân từ
 
Xin đừng ai vì chút hy vọng nhân từ
lẫn lộn tâm hồn tôi
với hình ảnh của sơn dương và chim ó 
Tôi chẳng phải thế đâu – từ bản chất.
 
Là con người, tôi ra đời cô độc
Là đàn bà, tôi bị đời bao vây
Tôi đã vắt ra từ đá khô
chút dưỡng chất
để nuôi mình.
 
Dưới những chiếc mặt nạ bạo tàn và khắc nghiệt
tháng năm trôi – thẳng tắp một hàng
Nhưng chẳng có điều chi đáng cho tôi sợ hãi
Và chẳng có điều chi
thoát khỏi nụ cười tôi.
 
(Đỗ Tư Nghĩa dịch)
 
*
 
DUY THANH (1931-2019)
 
Chân Dung (trích từ Sầu Tám Khúc)
 
hai cánh tay trần trụi giơ lên
cặp mắt mở tròn không chớp
có nghe những tiếng kêu rừng rú trên làn da
như thú dữ chạy dài ngàn khuya lửa cháy
hãy nhìn lên nhìn lên sẽ thấy
chiếc đầu kia gối trên những ngôi sao lạ bồng bềnh
hai cánh tay ruỗi dài thẳng mãi
và mồm kia cứ mãi nín câm.
 
*
 
TUỆ MAI (1928-1982)
 
Đêm Tôi

dòng thương nét nhớ miên man
tôi năm dấu chữ trên trang thư tình
tim dồn nhịp chấm âm thanh
lửa người hồn khói lênh đênh tưởng vời

sầu mi giọt đọng thương hoài
tôi viên thuốc ngủ đưa người qua đêm
còn không môi nóng môi mềm
tôi ly nước cạn đứng yên góc bàn

nhạc mềm ru bước tình lang
tôi trăng giữa tháng cười vàng đêm xanh
chợ đời vui quá đi anh
tôi bìa tạp chí mang hình phấn son

bụi tung ngã rẽ đường còn
tôi giày da cũ đế mòn lạc đôi
đêm mờ làng cũ xa xôi
tôi con đom đóm vờn soi ao bèo

người tình duyên quấn quít theo
tôi cây thay lá trên đèo còn trông
bạn bè ngủ giấc buồn chung
tôi trao cánh vạc thinh không thốt lời...

*
 
WISLAWA SZYMBORSKA (1923-2023)
 
Bầu trời (trích đoạn)
 
Những mảnh trời đặc sệt, loãng tan và lởm chởm
những vùng trời rực nắng, nhẹ bay
những làn gió thổi ngang trời và bao đụn lúa.
Bầu trời ở khắp mọi nơi
ngay dưới làn da, cả trong bóng tối.
 
Tôi ăn bầu trời, tôi thải bầu trời.
Tôi là bẫy trong bẫy
một cư dân được phép ngụ cư
một cái ôm được ôm
câu hỏi trong trả lời câu hỏi.
 
Sự phân chia thành trái đất, bầu trời
đó chẳng phải là cách đúng
của tư duy về sự vẹn toàn
nó chỉ cho phép sống
với một địa chỉ chính xác hơn, dễ tìm hơn
nếu như tôi bị tìm.
Những dấu hiệu của riêng tôi
đó là sự đắm say và thất vọng.
 
(Tạ Minh Châu dịch)
 
*
 
TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG
 
Tranh chân dung
 
Bạn cố định nghĩa những nỗi buồn của bạn
Khi một sợi tóc lìa mái đầu
Hay một sáng thức dậy, soi gương, bạn thấy trán mình thêm nếp nhăn
Vào những chiều bạn ngồi trên ban công
Ngắm từng đám mây tử nạn phía chân trời
Hằng đêm bạn vẫn hay ngồi bên cửa sổ
Khung cửa sổ đã khá cũ, ám mùi của những tháng năm cay đắng
Và bạn lắng nghe hương của loài hoa dại ngoài mảnh vườn nhỏ
Tâm sự
Rồi bỗng một hôm loài hoa đó qua đời sau một trận bão lớn
Đêm đêm chỉ còn bạn với bóng tối, và tiếng côn trùng buốt nhói.
 
Bạn đã cố trải lòng mình với những con chữ
Và bạn nghĩ
Dòng sông tâm tư của bạn sẽ có người đến tát cạn muộn phiền
Nhưng
Bạn chợt nhận ra
Khi bạn mở cánh cửa tâm hồn
Có nghĩa là
Sẽ có rất nhiều nỗi niềm xâm lược trái tim bạn.
 
Bạn đã cố tô vẽ cảm xúc của bạn
Bằng cơ man sắc màu
Nhưng
Bạn biết
Mọi nỗi buồn hay hạnh phúc chỉ có một khuôn mặt.
 
*
 
TẦN VY
 
Trong đêm
 
Tôi nhắm mắt làm bóng tối
Buồn tỉnh khô trên mặt dửng dưng
Tình ái đảo điên vô tình từ biệt
Áng bụi mờ trăng hiển hiện mù khơi.
 
Cuối góc phố một vì sao băng
Ước vọng âm thầm và bất lực
Trong linh hồn trong cảm nghĩ đầy sự điên cuồng
Đêm trống rỗng như một lỡ làng không còn ai tiếp nối.
 
Ngoại trừ hy vọng như mật đắng
Mơ hồ níu kéo bước chân đi
Mỗi người là một giới hạn của mình
Tình mong manh loãng tan cùng gió.
 
Trong cõi trú của hồn từng tiếng kêu thất thanh
Nỗi rạo rực của từng dự định
Đổi thay tâm hồn tôi cùng tiếng nói tương lai
Tôi an ủi mình bắt đầu làm lại.
 
*
 
VI THÙY LINH
 
Sinh năm 1980
 
Hoa mẫu đơn e lệ nở
Khai mạc đêm từ Linh
Những đứa bé ùa về đòi chào đời
Bắt đầu vẽ chân dung Mẹ

Trong bóng tối mới tinh, vẫn bài ca hoang dã
Tôi ứa máu những câu thơ cầu siêu
Rách cằm ngã đêm đơn độc

Khe khẽ hoa Thuỳ Linh nở
Xuất thần một cuộc yêu chưa từng thấy
Cơn mơ hoang tàn cháy

Phía sau bạo liệt tham vọng
Chứa đầy yếu đuối và ước mơ bình yên, được yêu
Chờ mãi chưa linh ứng
Buông thõng chiêm bao thiếu nữ

Đỉnh yêu độc đạo
Thơ chất con đường lửa
Phóng sinh ký ức ngàn năm bất lực
Xoá bỏ ức chế yếm thế luân chuyển
*
 
NHÃ THUYÊN
 
Dấu vết của khoảng trống
 
chuyến tàu qua thị trấn mỗi sáng và chiều kể tôi nghe câu chuyện về sự bất động của con đường. chẳng lẽ đây không là sự thật: tôi là đường ray, nằm đó và ảo tưởng mình chuyển động, những chuyến tàu chạy trên thân thể tôi úp sấp, gió phiêu giạt, hơi thở bập bềnh theo nhịp thở của đất. tôi đọc những ký hiệu tạo thành từ vệt tàu lăn qua để lại trên da thịt. bài thơ, dấu vết trầm tích trên đường ray, in dấu và xói mòn bởi ánh sáng, gió và những bất trắc, những dấu vết đắm đuối với chốn không người, những dấu vết trôi nổi, tự huỷ và vô hình trước khi người đọc đến.

bây giờ thị trấn đang chiều tà, mặt trời rút máu, chữ o tròn đỏ nhợt dần trong khoảng trống, cái miệng ngáp. tôi đã rung lên dữ dội đôi lần một ngày và giờ, tôi âm u đếm những dao động tắt dần trên da thịt để dụ dỗ giấc ngủ.
 
*
 
LƯU MÊLAN
 
Tôi
 
Tôi đã sợ tên tôi là một quả mìn
giết chết tôi
bất kể đêm ngày bất kể nơi đâu
những chiếc lá dương xỉ non cuốn cong lại
và một con sâu đang đục một thân cây thông lớn
những trảng đất bị rữa
những thân người chết cháy
 
Tôi đã sợ tên tôi là một biểu tượng của mù loà
trái tim như một liều thuốc độc
bơm ánh sáng vào nó
và những huyễn tưởng mà sự thật không đánh lừa nổi
chiếu vào tôi như một nhát súng
 
Ngày thì đang trôi qua
đôi cánh của quỷ vươn dần
và mùa mưa cũng sắp đến
 
Chỉ em đang dối lừa tôi.
 
Tôi đã tưởng tên tôi là một niềm kiêu hãnh của hạnh phúc
giờ thì nó biến mất tôi cháy một nửa còn lại với những cặn bã tàn
 
Tôi đi giữa những bờ vực và dưới kia
tên tôi là một hình nhân đang nhìn sâu vào bóng nó cô độc
nơi nó vừa tìm ra một mảng đen kỳ lạ
không tên và sự sống mà tôi vừa chiếu vào.
 
*
 
TAGORE
 
Thuyền giấy
 
Ngày lại ngày, tôi thả thuyền giấy của tôi từng chiếc xuống dòng khe chảy xiết
Tôi viết to và đậm tên tôi và tên làng tôi trên mạn thuyền
Tôi hy vọng có người ở nơi nào xa lạ bắt được thuyền và biết rõ tôi là ai…
… Đêm về tôi giúi mặt vào cánh tay và mơ thấy thuyền giấy của tôi trôi miên man dưới ánh sao khuya…
 
(Cao Huy Đỉnh dịch).
 

Khi mặt trời bỏ đi / tuyết đầu mùa tìm đến / những cánh tay màu trắng / cầm trái tim trẻ em
Một chút gì gợn lên nơi mùi cà phê sáng, nơi tách trà nhâm nhi buổi xế chiều, nơi ly vang đỏ nồng đêm tối, làm cồn cào nhớ đến câu thơ đã đọc từ lâu lắm, thơ xưa chăng, nhưng sao cái rung động hôm nay về nó vẫn làm ta xao xuyến đến vậy.
Mùa thu dẫu vừa khảy đôi ba nhịp vàng trên tàn cây. Mùa thu dẫu đang đốt hết mình trên hàng cây maple đỏ lá suốt dặm dài. Và mùa thu cho dù cũng vừa khép cánh cửa để ra đi, khép rất nhẹ nhàng như sợ làm thức giấc ai đó đang say ngủ. Tất cả. Những bổng trầm của mùa thu đều rúng động mấy tầng cung bậc cảm xúc của ta. Phiến lá vàng óng kia ẩn mật điều gì. Dấu chân vàng ố chiếc lá cuối thu như thể là những dấu chân cuối cùng để – nhẹ hẫng về mai sau – Ngọn gió của mùa thu ly tan nào vẫn thảng thốt trong nỗi chờ đợi. Hạt mưa nào xám tro quán phố. Và người ngồi nghe gió mùa thu về như – tiếng thổn thức của thời gian. Bạn ơi, xin lắng lòng trong buổi đêm tịch mịch để nghe cảm xúc bạn hòa âm thế nào với âm vang thu, để biết tác động mãnh liệt của thu – phù vân thôi cũng nát đời như chơi…
Phần lớn các nhà thơ nữ sinh sau cột mốc đau thương 1975, đã dường như nhẹ nhàng hơn, những ám ảnh của chiến tranh, ít bị day dứt hơn vấn đề ý thức hệ. Họ ít nhiều đã hưởng được quả ngọt của nữ quyền, thoát ra khỏi khung cửa chật hẹp của định kiến, góp phần nở rộ một dòng thơ mạnh mẽ, tự tin, khao khát tự do, và bản lĩnh, nói rất thực nhân sinh quan của mình về những mối tương quan trong một thế giới vật chất như hiện nay. Họ cũng rất phóng khoáng thể hiện những cảm xúc đam mê dạt dào nữ tính. Mang những trạng thái có vẻ như đối nghịch nhau như thế khiến dòng thơ của lớp thơ nữ này tỏa sức quyến rũ lạ lẫm, tạo nên một lớp độc giả với cảm thụ thi ca mới mẻ.
Khi toàn quốc chiến đấu, người phụ nữ cũng xuất hiện trên các chặng đường của đất nước. Chúng ta đã nhìn thấy hình ảnh người phụ nữ trong cuộc chiến ở Ukraine trên truyền hình, trên YouTube. Họ là các y tá, những chị bếp, hay người nữ chiến binh… nghĩa là tất cả những phương tiện phục vụ cho chiến trường chống lại quân Nga. Nơi đó, giữa những tiếng súng chúng ta nghe được từ màn hình TV, giữa những lời kêu gọi tác chiến, vẫn có những lời thơ đầy nữ tính từ đất nước đau khổ Ukraine. Nhà nghiên cứu Julia Friedrich của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Công Toàn Cầu (Global Public Policy Institute - GPPi) tại Berlin trong bài nghiên cứu về hình ảnh phụ nữ tại Ukraine, nhan đề “Feminist Activism in Ukraine Usually Means Demanding More Weapons” (Hoạt động nữ tính tại Ukraine thường có nghĩa là xin thêm vũ khí) đăng trên tạp chí Tagesspiegel Online bằng tiếng Đức ngày 6/8/2022 cho thấy ngoài làn sóng di tản ra hải ngoại, còn rất nhiều phụ nữ ở lại Ukraine để trở thành trụ cột cho một giềng mối mới
Bà nổi tiếng với bộ tự truyện 6 cuốn. Quyển thứ nhất nổi tiếng nhất trên thế giới viết về 17 năm đầu đời của bà, I Know Why The Caged Bird Sings (1969), bà nói: “Đầu tiên người đời phải học cách chăm sóc chính mình để rồi có thể chăm sóc người khác. Đó là lý do làm cho “chim trong lồng hót”. Với tự truyện này bà được xem là một trong những phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên dám công khai bạch hóa đời riêng của mình. Maya Angelou được chọn làm “Người Phụ Nữ của Năm 76” (Woman of the Year) về Truyền Thông của tạp chí Ladies’ Home Journal. Giải Thưởng Matrix của Hội Women in Communications, Inc. vào năm 1983, Giải Thưởng Văn Chương North Carolina vào năm 1987, Giải Thưởng Candace 1990 của Cơ Quan Liên Minh Quốc Gia Phụ Nữ Da Đen (The National Coalition of Black Women).
Langston Hughes và Maya Angelou là hai tên tuổi lớn của nền thi ca da đen. Trang thơ xin bắt đầu với Langston Hughes. Ông sinh ở Joplin, Missouri, là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch. Thơ của ông kết hợp nhiều thể loại, mang đậm nét những bài hát dân gian da đen. Ông tôn vinh nền văn hóa người Mỹ gốc Phi châu trong thời kỳ được gọi là Thời kỳ Phục Hưng Harlem.
Là một nhà thơ, một nhà văn, và là một nhà báo. Hẳn là quá nhiều cho một đời người. Và rồi trở thành chiến binh, sau khi quân Nga tiến vào chiếm bán đảo Crimea và tấn công miền Đông Ukraine năm 2014: nhà thơ Borys Humenyuk đã tình nguyện ra trận chống quân Nga. Một số bài thơ của ông được dịch sang tiếng Anh trong tuyển tập Poems From The War, do hai dịch giả Oksana Maksymchuk và Max Rosochinsky thực hiện. Borys Humenyuk ra đời năm 1965 tại ngôi làng Ostriv, thị trấn Ternopil, miền tây Ukraine. Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà báo. Humenyuk đã tham gia tích cực vào những cuộc biểu tình cuối năm 2013 để dẫn tới Cách mạng Nhân phẩm (Revolution of Dignity) của Ukraine trong tháng 2/2014. Những câu chuyện về chiến tranh được kể trong thơ Borys Humenyuk là có thật, không hư cấu.
Chúng ta đều biết rằng Belarus là một nhà nước toàn trị, tuy mức độ cai trị không khắc nghiệt như ở Nga nhưng vẫn là độc tài hơn hầu hết các nước ở Châu Âu. Tuy nhiên văn học Belarus lại là một lĩnh vực không liên hệ bao nhiêu tới những cam kết chính trị của nhà nước Belarus trong nỗ lực hỗ trợ cuộc chiến của Putin tại Ukraine. Những bài thơ được dịch từ tiếng Belarus sang tiếng Anh đang phổ biến trên nhiều mạng trong học giới Hoa Kỳ cho thấy một khuôn mặt văn học Belarus rất mực thơ mộng của một dân tộc đang tìm tới chân, thiện, mỹ. Belarus có khoảng 9 triệu dân, thủ đô là Minsk, từng là một phần của Liên Xô cho tới năm 1991 tới tách ra, được cai trị bởi Tổng Thống Alexander Lukashenko từ năm 1994 (quá lâu, tới 28 năm nắm quyền tối cao). Biên giới Belarus vây quanh bởi Nga, Ukraine, Ba Lan, Lithuania và Latvia. Hơn 40% trong 207,600 cây số vuông (80,200 dặm vuông) là rừng. Belarus bị Thế Chiến 2 tàn phá, mất 1/3 dân số và hơn ½ tài nguyên kinh tế.
Di sản nghệ thuật của nhạc sĩ Cung Tiến không nằm ở số lượng, mà đầy ở phẩm chất. Ngoài những ca khúc, tấu khúc thuần tuý giá trị về âm nhạc, ông còn để lại những bài viết, tiểu luận dưới nhiều đề tài văn học, kinh tế, và truyện dịch. Chúng ta đã đọc, đã nghe khá nhiều về tài hoa và khả năng sáng tác của Cung Tiến từ tuổi 15 cho đến những năm tháng sau cùng. Trong những quà tặng ông để lại tôi đặc biệt yêu thích nghệ thuật phổ thơ thành nhạc của ông, chẳng những cho chúng ta thưởng thức giai điệu bán cổ điển tây phương, ngủ âm đông phương, mà còn mang thơ Thanh Tâm Tuyền, một trong vài thi sĩ hàng đầu trong thời đại của ông đến giới thưởng ngoạn nhạc nghệ thuật và lưu trữ vào kho tàng âm nhạc Việt. Thơ Thanh Tâm Tuyền không dễ phổ thành nhạc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.