Thơ: Nghĩ Về Đảng

06/05/200500:00:00(Xem: 8680)
Bờm rằng bờm chán lắm rồi!
Những lời ngon ngọt loại người phú ông
Nói như chia núi, cho sông
Mà chiếc mo quạt thì ông vẫn giành
(Trích chưa biết tên tác giả)

Tôi vào lính tuổi vừa tròn mười sáu
Để lại đằng sau: bố mẹ, các em
Đôi chân nhỏ nhoi rong ruổi mọi miền
Lửa chinh chiến đốt tuổi xanh năm tháng
Và một ngày kia...
ngày tôi vào Đảng
Giơ tay nguyện thề chiến đấu đến cùng
Giữ lời thề qua ngàn núi, trăm sông
Cùng cây súng đi đến ngày chiến thắng
Mái tóc xanh đã phai màu bạc trắng
Thân già nua với gối mỏi, chân chồn
May mắn thay trí óc vẫn còn khôn
Cứ trăn trở nghĩ suy về năm tháng
Cao trên hết, hướng lòng về với Đảng
Là người cha, chỗ dựa của niềm tin
Đến với Đảng, đâu vì Mác-Lê nin.
Mà giản dị là tấm lòng yêu nước

Đến với Đảng để học điều nhân đức
Một chút cỏn con góp sức với đời
Nếu hôm nay còn một chút gì vơi
Thì ắt hẳn ngay mai đầy chan chứa
Thời gian trôi như bóng câu qua cửa
Đảng cứ lụi dần chân lý trong tôi
Đau thắt lòng... tôi muốn hỏi: Đảng ơi!
Sao lại thế" Đảng mùa thu tháng tám
Vẻ vang thay người Đảng viên Cộng sản
Ngày qua ngày, tồi tệ thế này ư"
Sách mấy triệu trang, chữ triệu triệu từ
Rao giảng thì hay, việc làm lại khác
Lúc trích Lê-Nin, khi theo lời Mác
Đem thực thi không thuyết phục nhân tâm
Đã có lúc Đảng gắn bó với dân
Nó mộc mạc, nó giản đơn như đất
Đảng vẫn nói: nhân dân là trên hết
Nói hộ dân và nghĩ cũng hộ dân
Và người dân chỉ còn mỗi đôi chân
Lại bắt đứng bằng đôi chân của Đảng
Những tuyên ngôn của buổi đầu Cách mạng
Đảng không hề ham quyền chức cao sang
Sự nghiệp thành công, cáo lão về làng
Vui thú điền viên, thung dung câu cá
Thế mà rồi... chẳng thấy ai về cả
Cứ bám quyền với mũ áo xênh xang
Cứ tự chia nhau nhà cửa khang trang
Chẳng ông nào về quê cha đất tổ
Từ huyện, xã, quận, phường và thành phố
Đảng cứ một bên, nhà nước một bên
Bí thư thành uỷ, Chủ tịch uỷ ban
Hai cỗ máy đè nặng dân khôn kể
Đây nội, ngoại thương, đây ban kinh tế
Nội chính bên này, bên nọ công an
Cứ dăng dăng bao dinh, sở khang trang
Một cổ hai tròng người dân tội nghiệp
Đảng dạy dăn: giữ tấm lòng liêm khiết
Sao nhận tặng quà hàng triệu đô la"
Của tư bản, vốn không phải bạn ta
Người nhận là Tổng bí thư của Đảng
Để lấy lòng, Đảng tặng người lao động
Chức vu vơ trừu tượng "chủ nhân ông"
Làm chủ vu vơ: nhà máy ruộng đồng
Đảng chỉ giữ tiền và quyền sinh sát
Thân "ngọc ngà" khi trở về với đất
Đảng chiếm giữ riêng "Mai Dịch" cho mình
Lớn tiếng khen "Hoàn vũ" rất môi sinh
Nhưng với Đảng, không ai vào thiêu cả!
Chốn đô thành chạy dọc ngang phố xá
Đặt tên đường, Đảng cũng giữ phần mình
Hết đường Lê Duẩn rồi đến Trường Chinh
Đường to đẹp, Đảng để dành dự trữ
Các tỉnh huyện ổn định cùng lịch sử
Bắt nhập hai, ba tỉnh sáp với nhau
Việc sáp nhập chưa "ân ái" bao lâu
Cũng vẫn Đảng lại truyền ra lệnh tách
Rất tuỳ tiện, Đảng làm theo ý thích
Nhập vào rồi lại đem tách như chơi
Nếu có khổ thì chỉ khổ dân thôi
Còn ý Đảng cứ luôn luôn là đúng
Ghế "Đảng trị" giữ cho bền, cho vững
Đảng cho xiềng luôn hai chữ "Tự do"
Từ miền quê cho đến chốn thành đô
Cấm ngôn luận, cấm tự do báo chí
Đảng chúa ghét cái lũ văn nghệ sĩ
Nhàn cư ngồi hay bới móc lăng nhăng
Ai lớn gan đòi hỏi lẽ công bằng
Đối phó lại, Đảng trị bằng nhiều cách
Về bầu cử, Đảng có khuôn bằng sắt
Rất "tự do", rất "dân chủ", "khách quan"
Nhân danh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Duyệt danh sách cho phép ra ứng cử
Ôi thế là!... bao nhân tài tứ xứ
Đảng gạt loại ra hết sức thần tình
Các đại biểu toàn người của Đảng mình
Quốc hội diễn trò: điều trần, hỏi đáp
Giống chuyện xưa, mấy nhà thơ con cóc
Con cóc nhảy ra, con cóc nhảy vô
Các bồi bút thì ra sức điểm tô
Cứ: sáng đúng chiều sai... mai lại đúng
Chống chân lý bằng lưỡi lê và súng
Đảng trượt theo vết xe đổ ngày xưa
Chuyện nghĩa tình là: sớm nắng, chiều mưa
Chữ "đồng chí" là mỹ từ vô nghĩa
Đảng nghe chăng dòng đời đang mai mỉa
Đảng lộng quyền đạp dân chủ dưới chân
Đã một thời Đảng chiến đấu vì dân
Cả dân tộc đều nghiêng mình kính trọng
Suốt mấy chục năm như diều bay bổng
Đảng ngất ngây trong những tiếng ngợi ca
Mấy trăm tờ báo, hàng triệu cái loa
Ra rả mãi về công ơn của Đảng
Có điều lạ: Đảng nghe không nhàm chán!
Quên được sao, bao lầm lỗi gây nên
Chồng, vợ, cha, con gia cảnh ấm êm
Trong cải cách, bỗng gia đình tan nát
Nếu "có phúc" được chia vài thước đất
Suốt mấy chục năm, nghèo vẫn hoàn nghèo
Nhóm "Nhân văn" bị vu khống, đặt điều"
Nỡ đầy đoạ cuộc đời bao nghệ sĩ
Bao trí thức bỏ tù thời chống Mỹ
Gán cho là: "Chống Đảng" tội tầy trời!
Lửa chiến tranh than nguội đã lâu rồi
Sao gây mãi cảnh "Nồi da xáo thịt""
Hai Đảng bạn đồng hành bao thân thiết
Đảng Dân Chủ, Đảng Xã Hội Việt Nam.
Vai sát kề vai suốt mấy chục năm
Gắn bó thế, hà cớ chi loại bỏ"...
Chanh hết nước, còn dùng chi cái vỏ
Bè bạn thuỷ chung sao nỡ thế này"...
Nỗi đoạn đường qua trăm đắng ngàn cay
Sợ hậu hoạ, Đảng xuống tay chấm hết!
Đêm đã khuya trước khi ngừng bút viết
Nhắc lại câu của Goeth tặng cho đời:
Lý luận nào rồi cũng xám, bạn ơi!
Còn cây đời vẫn xanh tươi mãi mãi.

*
Như tờ giấy gói vần thơ này lại
Vài dòng thêm tôi gửi nói với đời
Thơ của tôi như một hạt bụi rơi
Làm cộm mắt mà không hề có hại
Dân tộc biết ơn: Đảng ta vĩ đại!
Đừng biến thành cuộc đổi chác bán mua
Đừng biến mình thành: những chúa, những vua
Lại cai trị dân đen như thưở trước
Nếu Đảng cậy có công giành đất nước
Chức, quyền, tiền, dân đã trả Đảng xong!
Xin hỏi lại: Đảng có nợ dân không"...
Dân còn khổ Đảng nỡ ngồi mà hưởng!
Chốn trần ai, lại công hầu khanh tướng
Đảng một bên và dân lại một bên
Những ngôn từ "Các Mác" với "Lê-Nin"
Là vô nghĩa với con Hồng, cháu Lạc
So với Đảng có súng, bom, đại bác
Vần thơ tôi chỉ là tiếng thì thầm
Tố Như ơi! tôi sẽ đợi trăm năm
Để sự thật trả về cho lịch sử
Đảng ngày xưa...
Đảng sẽ là bất tử!
Còn Đảng hôm nay...
Ai sẽ trả lời"...
Xuân kỷ Mão 1999
Người Lính Già (Vũ Cao Quận)

Mắt tháng Tư không còn hạt lệ. Mắt tháng Tư chiêu niệm màu cờ. Mắt tháng Tư chập chờn bia mộ hồn tử sĩ từ cổ kim thao thức. / Mắt tháng Tư rưng màu huyết phượng. Mắt tháng Tư ngào cơn huyết biển. Thân giạt cỏ bồng hồn khua nước bao lâu rồi thủy mộ. / Trái tim người đi rơi dần từng mảnh, buồng ngực khô nhớ gió phương nam máu đỗ quyên khắc khoải quê nhà. / Mắt tháng Tư nở bông hoa trên cành hy vọng mỗi đóa hoa như một giọt nước mắt hồng rơi xuống trái tim tôi. / Mắt tháng Tư dẫu ngàn năm vô tự, mảnh lao đao lịch sử. Lật từng chương… / Giấy mực đời chép ra, ví thiếu. / Lấy da này viết để tạ nhau…
tháng tư đưa tay nhặt / vỡ nát của ngày xưa / còn đây, chồng sách cũ / những quả chín trái mùa / còn đây, chiều gió nổi / những ngôi mộ rạp mình / bia gỗ nào run rẩy / hồn linh nào tủi thân / chiến trường lâu đã nguội / hơi sắt và hơi đồng / mấy chục mùa hoa rụng / hư không tìm hư không
Cõi thơ Viên Linh là cõi nhân sinh đầy hệ lụy của định mệnh. Định mệnh của một dân tộc điêu linh, lưu lạc. Định mệnh của con người bé nhỏ và yếu ớt trong dòng chảy cuồng lưu của kiếp sống. Định mệnh của tình yêu mệt mỏi, chán chường và bất trắc. Thơ Viên Linh là một biểu hiệu cho Con Người như là một hữu-thể-tại-thế với tất cả những khổ đau và hoan lạc. Ông vừa tạ thế hôm cuối tháng Ba vừa rồi, Việt Báo trân trọng đăng lại một số ít thơ của ông như một nén tâm hương gửi đến người Thi Sĩ quá cố.
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ là một vị học giả uyên bác về Phật giáo, nguyên giáo sư của Đại học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, nhà văn, nhà thơ, dịch giả và là một người bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền và đã bị cầm tù trong nhiều năm. Năm 1998, Hòa Thượng được tổ chức Human Rights Watch tặng giải thưởng về nhân quyền Hellmann-Hamett Awards. Hòa Thượng là Xử lý Thường Vụ Viện Tăng Thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Hòa Thượng thông thạo tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Pali, tiếng Phạn và tiếng Nhật, đọc hiểu tiếng Đức. Hòa Thượng được giới học giả Việt Nam đánh giá cao vì đã công bố nhiều tiểu luận, chuyên khảo, thơ và nhiều công trình dịch thuật Phật giáo từ tiếng Phạn, tiếng Trung Hoa và tiếng Nhật, được coi là nhà sư uyên bác nhất của Phật giáo Việt Nam, đã soạn thảo quyển Bách Khoa Phật Học Đại Tự Điển.
Đó là tựa đề một bài viết của nhà thơ Phan Tấn Hải, và đây là kết của bài: “Chữ nghĩa không vô ích. Chúng ta trong cõi này hãy rủ nhau làm thơ, đọc thơ, ngâm thơ, in thơ, hát thơ… Nếu chúng ta không đủ sức nương vào thơ để ngộ nhập tri kiến Phật, và nếu chúng ta cũng không có đủ sức mạnh của hát thơ để chữa sản nạn như thời Vua Hùng Vương, ít nhất thơ cũng giúp chúng ta giảm được những đau đớn của trần gian này, kể cả khi buộc phải nghe tới bốn dòng thơ ly biệt tương tự của Cha Rồng và Mẹ Tiên thời lập quốc dân tộc Việt Nam (Ta là giống Rồng / Mình là giống Tiên / Thủy thổ khắc nhau / Không ở cùng được.) Nàng thơ ơi, hãy cứu lấy trần gian này. Hãy biến tất cả những trận mưa bom trên trần gian này thành các trận mưa thơ…” (Phan Tấn Hải, Thơ sẽ chữa lành thế giới
Ta về một cõi tâm không / Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn / Còn yêu một thuở đi hoang / Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya / Ta đi dẫm nắng bên đèo / Nghe đau hồn cỏ rủ theo bóng chiều / Nguyên sơ là dáng yêu kiều / Bỗng đâu đảo lộn tịch liêu bến bờ / Còn đây góc núi trơ vơ / Nghìn năm ta mãi đứng chờ đỉnh cao
Nhà văn Jon Fosse vừa đoạt giải Nobel Văn chương về kịch nghệ năm nay, 2023. Ngoài ra, ông cũng nổi tiếng trong lãnh vực thơ và truyện. Tác phẩm của ông được dịch ra khoảng 50 ngôn ngữ. Tìm hiểu về mục đích sáng tác, ông cho biết, “I hope they can find a kind of peace in, or from, my writing.” (Tôi hy vọng người đọc có thể tìm thấy sự bình an trong các tác phẩm của tôi.) Tác phẩm nổi tiếng với nội dung sâu đậm của ông là dãy “Septology”. Đây là một từ vựng mới, có ý nghĩa là một loạt bảy cuốn sách. Có lẽ, Septology phát xuất từ “Heptalogy” mà ví dụ rõ rệt nhất là dãy tác phẩm Harry Potter.
Mùa thứ ba trong năm đã chớm về. Autumn ngoài nghĩa mùa thu, còn mang nghĩa ẩn dụ là chỉ lúc xế chiều, lúc ngày sắp tàn, là mùa mà ban ngày ngắn và dần lạnh hơn. Bên cạnh hình ảnh biểu tượng là mùa lá rụng, lại cũng là mùa phần lớn trái cây được thu hoạch, vì gắn với đời sống thiên nhiên này mà từ rất lâu văn hóa Tây phương đã nhân cách hóa mùa thu là người phụ nữ trẻ đẹp đầy sức sống với mái tóc gắn đầy lá hoa quả chín, là hình ảnh vừa nên thơ vừa chứa đựng sức sống diệu kỳ của mùa gặt hái.
Nhà phê bình văn học Trung Quốc đời nhà Thanh, Viên Mai, có nói, “Làm người không nên có cái tôi, nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi”. Thi hào Tagore cho rằng, “Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ảnh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong”. Cả hai nhận định này đều đề cao cái Tôi-làm-Thơ, và cách biểu hiện những thuộc tính về Tôi ấy như thế nào trên ngôn từ thơ. Có hai yếu tố không ai phủ nhận được là cảm xúc và sáng tạo, chính hai yếu tố này định hình phong cách của nhà thơ. Cảm xúc thực được chuyển tải qua thi ngữ, thi ảnh mới mẻ, cá biệt, thì thơ càng có sắc thái nổi bật để lại dấu ấn riêng trong lòng người đọc, dường như không quá để nói rằng điều này định đoạt sinh mệnh một bài thơ. Thơ chỉ thực sự sống khi nó phản ảnh được bản ngã độc đáo của nhà thơ.
Tháng 7. Mùa hè đang gửi đến đây một sứ giả vô cùng dễ thương. Phượng tím. Đi đâu chợt cũng bị màu tím thơ mộng ấy níu mắt nhìn, làm dịu đi cái nóng chói chan. Bạn đang ở đâu, buổi sáng rực nắng đi chơi hay chiều mệt nhoài sau giờ làm việc, hay tối, hay khuya, hàn huyên bạn thiết, hoặc giả nói chuyện một mình, tất cả những tâm trạng thời gian đó, bạn sẽ tìm thấy được trong Căn phòng chứa đựng mọi khoảnh khắc, nơi các nhà thơ Hoàng Trúc Ly, Duy Thanh, Nguyễn Thùy Song Thanh, Tomas Transtromer, Âu Thị Phục An, Chiêu Anh Nguyễn, Nguyễn thị Khánh Minh, Trương Đình Phượng, Inrasara, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Xuân Thiệp, đọc cho bạn nghe những vần thơ mang âm hưởng chói chan của mặt trời mùa hạ, hoang mạc gai xương rồng, mật ngọt của thiên nhiên…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.