Thơ: Nghĩ Về Đảng

06/05/200500:00:00(Xem: 8678)
Bờm rằng bờm chán lắm rồi!
Những lời ngon ngọt loại người phú ông
Nói như chia núi, cho sông
Mà chiếc mo quạt thì ông vẫn giành
(Trích chưa biết tên tác giả)

Tôi vào lính tuổi vừa tròn mười sáu
Để lại đằng sau: bố mẹ, các em
Đôi chân nhỏ nhoi rong ruổi mọi miền
Lửa chinh chiến đốt tuổi xanh năm tháng
Và một ngày kia...
ngày tôi vào Đảng
Giơ tay nguyện thề chiến đấu đến cùng
Giữ lời thề qua ngàn núi, trăm sông
Cùng cây súng đi đến ngày chiến thắng
Mái tóc xanh đã phai màu bạc trắng
Thân già nua với gối mỏi, chân chồn
May mắn thay trí óc vẫn còn khôn
Cứ trăn trở nghĩ suy về năm tháng
Cao trên hết, hướng lòng về với Đảng
Là người cha, chỗ dựa của niềm tin
Đến với Đảng, đâu vì Mác-Lê nin.
Mà giản dị là tấm lòng yêu nước

Đến với Đảng để học điều nhân đức
Một chút cỏn con góp sức với đời
Nếu hôm nay còn một chút gì vơi
Thì ắt hẳn ngay mai đầy chan chứa
Thời gian trôi như bóng câu qua cửa
Đảng cứ lụi dần chân lý trong tôi
Đau thắt lòng... tôi muốn hỏi: Đảng ơi!
Sao lại thế" Đảng mùa thu tháng tám
Vẻ vang thay người Đảng viên Cộng sản
Ngày qua ngày, tồi tệ thế này ư"
Sách mấy triệu trang, chữ triệu triệu từ
Rao giảng thì hay, việc làm lại khác
Lúc trích Lê-Nin, khi theo lời Mác
Đem thực thi không thuyết phục nhân tâm
Đã có lúc Đảng gắn bó với dân
Nó mộc mạc, nó giản đơn như đất
Đảng vẫn nói: nhân dân là trên hết
Nói hộ dân và nghĩ cũng hộ dân
Và người dân chỉ còn mỗi đôi chân
Lại bắt đứng bằng đôi chân của Đảng
Những tuyên ngôn của buổi đầu Cách mạng
Đảng không hề ham quyền chức cao sang
Sự nghiệp thành công, cáo lão về làng
Vui thú điền viên, thung dung câu cá
Thế mà rồi... chẳng thấy ai về cả
Cứ bám quyền với mũ áo xênh xang
Cứ tự chia nhau nhà cửa khang trang
Chẳng ông nào về quê cha đất tổ
Từ huyện, xã, quận, phường và thành phố
Đảng cứ một bên, nhà nước một bên
Bí thư thành uỷ, Chủ tịch uỷ ban
Hai cỗ máy đè nặng dân khôn kể
Đây nội, ngoại thương, đây ban kinh tế
Nội chính bên này, bên nọ công an
Cứ dăng dăng bao dinh, sở khang trang
Một cổ hai tròng người dân tội nghiệp
Đảng dạy dăn: giữ tấm lòng liêm khiết
Sao nhận tặng quà hàng triệu đô la"
Của tư bản, vốn không phải bạn ta
Người nhận là Tổng bí thư của Đảng
Để lấy lòng, Đảng tặng người lao động
Chức vu vơ trừu tượng "chủ nhân ông"
Làm chủ vu vơ: nhà máy ruộng đồng
Đảng chỉ giữ tiền và quyền sinh sát
Thân "ngọc ngà" khi trở về với đất
Đảng chiếm giữ riêng "Mai Dịch" cho mình
Lớn tiếng khen "Hoàn vũ" rất môi sinh
Nhưng với Đảng, không ai vào thiêu cả!
Chốn đô thành chạy dọc ngang phố xá
Đặt tên đường, Đảng cũng giữ phần mình
Hết đường Lê Duẩn rồi đến Trường Chinh
Đường to đẹp, Đảng để dành dự trữ
Các tỉnh huyện ổn định cùng lịch sử
Bắt nhập hai, ba tỉnh sáp với nhau
Việc sáp nhập chưa "ân ái" bao lâu
Cũng vẫn Đảng lại truyền ra lệnh tách
Rất tuỳ tiện, Đảng làm theo ý thích
Nhập vào rồi lại đem tách như chơi
Nếu có khổ thì chỉ khổ dân thôi
Còn ý Đảng cứ luôn luôn là đúng
Ghế "Đảng trị" giữ cho bền, cho vững
Đảng cho xiềng luôn hai chữ "Tự do"
Từ miền quê cho đến chốn thành đô
Cấm ngôn luận, cấm tự do báo chí
Đảng chúa ghét cái lũ văn nghệ sĩ
Nhàn cư ngồi hay bới móc lăng nhăng
Ai lớn gan đòi hỏi lẽ công bằng
Đối phó lại, Đảng trị bằng nhiều cách
Về bầu cử, Đảng có khuôn bằng sắt
Rất "tự do", rất "dân chủ", "khách quan"
Nhân danh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Duyệt danh sách cho phép ra ứng cử
Ôi thế là!... bao nhân tài tứ xứ
Đảng gạt loại ra hết sức thần tình
Các đại biểu toàn người của Đảng mình
Quốc hội diễn trò: điều trần, hỏi đáp
Giống chuyện xưa, mấy nhà thơ con cóc
Con cóc nhảy ra, con cóc nhảy vô
Các bồi bút thì ra sức điểm tô
Cứ: sáng đúng chiều sai... mai lại đúng
Chống chân lý bằng lưỡi lê và súng
Đảng trượt theo vết xe đổ ngày xưa
Chuyện nghĩa tình là: sớm nắng, chiều mưa
Chữ "đồng chí" là mỹ từ vô nghĩa
Đảng nghe chăng dòng đời đang mai mỉa
Đảng lộng quyền đạp dân chủ dưới chân
Đã một thời Đảng chiến đấu vì dân
Cả dân tộc đều nghiêng mình kính trọng
Suốt mấy chục năm như diều bay bổng
Đảng ngất ngây trong những tiếng ngợi ca
Mấy trăm tờ báo, hàng triệu cái loa
Ra rả mãi về công ơn của Đảng
Có điều lạ: Đảng nghe không nhàm chán!
Quên được sao, bao lầm lỗi gây nên
Chồng, vợ, cha, con gia cảnh ấm êm
Trong cải cách, bỗng gia đình tan nát
Nếu "có phúc" được chia vài thước đất
Suốt mấy chục năm, nghèo vẫn hoàn nghèo
Nhóm "Nhân văn" bị vu khống, đặt điều"
Nỡ đầy đoạ cuộc đời bao nghệ sĩ
Bao trí thức bỏ tù thời chống Mỹ
Gán cho là: "Chống Đảng" tội tầy trời!
Lửa chiến tranh than nguội đã lâu rồi
Sao gây mãi cảnh "Nồi da xáo thịt""
Hai Đảng bạn đồng hành bao thân thiết
Đảng Dân Chủ, Đảng Xã Hội Việt Nam.
Vai sát kề vai suốt mấy chục năm
Gắn bó thế, hà cớ chi loại bỏ"...
Chanh hết nước, còn dùng chi cái vỏ
Bè bạn thuỷ chung sao nỡ thế này"...
Nỗi đoạn đường qua trăm đắng ngàn cay
Sợ hậu hoạ, Đảng xuống tay chấm hết!
Đêm đã khuya trước khi ngừng bút viết
Nhắc lại câu của Goeth tặng cho đời:
Lý luận nào rồi cũng xám, bạn ơi!
Còn cây đời vẫn xanh tươi mãi mãi.

*
Như tờ giấy gói vần thơ này lại
Vài dòng thêm tôi gửi nói với đời
Thơ của tôi như một hạt bụi rơi
Làm cộm mắt mà không hề có hại
Dân tộc biết ơn: Đảng ta vĩ đại!
Đừng biến thành cuộc đổi chác bán mua
Đừng biến mình thành: những chúa, những vua
Lại cai trị dân đen như thưở trước
Nếu Đảng cậy có công giành đất nước
Chức, quyền, tiền, dân đã trả Đảng xong!
Xin hỏi lại: Đảng có nợ dân không"...
Dân còn khổ Đảng nỡ ngồi mà hưởng!
Chốn trần ai, lại công hầu khanh tướng
Đảng một bên và dân lại một bên
Những ngôn từ "Các Mác" với "Lê-Nin"
Là vô nghĩa với con Hồng, cháu Lạc
So với Đảng có súng, bom, đại bác
Vần thơ tôi chỉ là tiếng thì thầm
Tố Như ơi! tôi sẽ đợi trăm năm
Để sự thật trả về cho lịch sử
Đảng ngày xưa...
Đảng sẽ là bất tử!
Còn Đảng hôm nay...
Ai sẽ trả lời"...
Xuân kỷ Mão 1999
Người Lính Già (Vũ Cao Quận)

Bên trong gương mùa đông đang chờ đợi… Trong biên vực ảo ảnh của chờ đợi thì anh có thể, dựa vào lưng gương lạnh giá/ hát nghêu ngao một cách vô tư… cho đến khi tiếng rung cuối cùng của tấm gương trong suốt ấy mở ra thiên địa mới… Có vẻ như trong bụng chờ đợi của mùa đông đang sửa soạn để khai sinh. Mời người lắng vào thơ của các tác giả Han Kang- Nguyễn Man Nhiên, Nguyễn Lương Vỵ, Trương Đình Phượng, Nguyễn Đạt, Bei Dao (Bắc Đảo)-Cù An Hưng, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Ngọc Diệp, Trịnh Thanh Thủy, Nguyễn Thị Khánh Minh, Vũ Hoàng Thư, Vân Thuyết, Hoàng Xuân Sơn, Trịnh Y Thư, Khế Iêm, Nguyễn Xuân Thiệp, để nghe nỗi trở dạ rộn ràng cùng u buồn của mùa Đông.
Thiên Lý Độc Hành, là tựa một tập thơ của Thầy, và cũng là bốn chữ được viết treo trên hương án của Thầy tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, nơi Thầy ở vào những năm tháng cuối đời. Thiên lý độc hành, hình ảnh biểu trưng nhất về Thầy Tuệ Sỹ, muôn dặm cô lữ dằng dặc nỗi ưu tư phận nhà vận nước…Và, khó làm sao để tường tận cái chấp chới của vạt áo tỳ khưu đẫm ánh trăng đêm, thấp thoáng ẩn hiện Người và cõi thơ tịnh tĩnh. Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở/ Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan... Hỏi, tại sao, vì đâu, lòng muối kiên định... để bất khuất chưa tan?
Tháng tư nắng quái trên tàng lá / Ngày nóng rang, khô khốc tiếng người / Nước mắt ướt đầm trên mắt mẹ / Nghìn đêm ai khóc nỗi đầy vơi? / Tháng tư em dắt con ra biển / Hướng về nam theo sóng nổi trôi / Thôi cũng đành, xuôi triều nước lớn / Làm sao biết được, trôi về đâu?
Dù đứng bên bờ vực của tận diệt, con người vẫn có thể cứu chuộc chính mình bằng ngôn từ và ký ức, đó là tinh thần của giải Nobel Văn Chương năm nay. Trong ánh sáng của niềm tin, Việt Báo đăng lại bài thơ “Hãy để nước Mỹ lại là nước Mỹ” của Langston Hughes – một khúc ca vừa đau đớn vừa thiết tha, viết gần một thế kỷ trước, mà như viết cho thời đại ngày nay. Giấc mơ Hughes gọi tên lại vang lên – giấc mơ về một xứ sở nơi lời hứa của nước Mỹ là hơi thở chung của những người cùng dựng lại niềm tin vào công lý, vào tự do, vào chính con người.
Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp, nhất là trong tập Tôi Cùng Gió Mùa, nếu cho là chủ quan, tôi vẫn nói rằng, Khí thơ của Nguyễn Xuân Thiệp là khí thu. Trăng ở thơ đó là trăng thu. Gió ở thơ đó mang cái hắt hiu thu. Không biết tại sao, chỉ thấy Khi đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp tôi lại liên tưởng đến cảm xúc của Trương Trào trong U Mộng Ảnh xưa: “Thơ và văn được như cái khí mùa thu thì là hay.”. Nguyễn Xuân Thiệp, xuất hiện lần đầu tiên trên dòng thơ của văn học miền Nam Việt Nam vào năm 1954 trên Thẩm Mỹ Tuần Báo với bài thơ Nhịp Bước Mùa Thu. Bài thơ tính đến lúc này là 71 năm -tiếng thở dài một đời người-, hôm nay tôi đọc lại, cảm xúc vẫn bị lay động bởi hình ảnh u buồn của lịch sử vào thời gian xa xăm đó.
Nguyên Yên, một trong những nhà thơ đương đại nổi tiếng ở hải ngoại. Cô chưa in một tập thơ nào, chỉ xuất hiện trên một số trang web như Việt Báo, Văn Việt, Hợp Lưu, Blog Trần thị Nguyệt Mai, Phố Văn… Ngoài những bài viết về thời sự, bình luận ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình. Tôi thực sự bị dòng thơ này lôi cuốn.
Theo đại thi hào R.Tagore "Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong". Theo tác giả cổ đại Ovid (khoảng năm 43 trước Công Nguyên) thì: “Có ít nhiều sự thoải mái trong cơn khóc”. Thi sĩ Colley khẳng định: “Lời nói để khóc và nước mắt để nói” Thi sĩ người Pháp Alfred de Musset có câu thơ: “Cái duy nhất còn lại cho tôi ở trên đời/ Chính là những lúc đã đôi lần nhỏ lệ”. Thi sĩ người Anh Robert Herrick: “Giọt lệ chính là ngôn ngữ cao quý của đôi mắt” .Nhà thơ trẻ Nepal, Santosh Kalwar tâm sự: Tôi đã mỉm cười ngày hôm qua. Tôi đang mỉm cười ngày hôm nay và khi ngày mai đến, tôi sẽ mỉm cười. Vì đơn giản, cuộc sống quá ngắn để ta khóc về mọi thứ – Và ai đó đã cho rằng: Không có gì đẹp hơn một nụ cười đã trải qua những giọt nước mắt.
Trong tập Bốn Mùa Trời và Đất, Márai Sándor cảm giác về mùa hè, …Tôi đứng trên ban công, giữa một vùng xanh, nghe tiếng rì rào thức dậy của cây cỏ. Mùa hè đây rồi, tôi nghĩ; và nó giống như một cảm xúc tràn ngập trong tôi, không khoan nhượng, và đầy những kỷ niệm giản dị… (Giáp Văn Chung dịch) Trong tản văn Hoa Nở Vì Ai, Vũ Hoàng Thư viết, …Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm… Và mùa hè trong truyện của Đặng Thơ Thơ, … Đó là lúc chín nhất của mùa hè. Những trái táo bắt đầu căng mật. Từ trong lá cây thoảng ra những ngọn gió màu xanh thẫm...Ở Cảnh Nhàn của Bạch Vân Cư Sĩ có thú sống, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao…, có lẽ thời của người, nước còn trong ao còn sạch.
Bạn đang nghe thấy gì trong khí hậu tháng Tư? / Tiếng kêu từ đáy huyệt cuối trời. / Tiếng gió xoáy những cột cờ tử thương tuẫn tiết. / Tiếng phố vỡ triệu mảnh thủy tinh cắt lồng ngực tháng tư rỉ máu mãi chưa khô. / Tiếng sóng hôi dao mùi hải tặc từ oan nghiệt một thời biển huyết. / Tiếng oan hồn dật dờ tìm về cố quận, đáy vực kia bầy cá hoang tảo mộ. / Tiếng hậu chấn từ tâm hồn con dân tháng Tư choàng lên thảng thốt. Dấu chàm xanh lưu xứ để nhận ra nhau. / Tiếng con bướm gáy trong giấc ngủ đôi bờ chiến tuyến. / Tiếng vô vọng của dòng thơ đớn đau, sỉ nhục trải dài trên đất đai tổ quốc. /Tiếng mong mỏi trên những dòng thơ đang vuốt mắt lịch sử, xin hãy chết yên, chết quên, và mở lòng ra ôm những vết thương, trồng lại bóng Quê Nhà…
“Chìm trong biển chết trôi tim người / Còn gì đâu tiếc thương xa xôi …” Chiếc tàu nhỏ rời bến Constantine, Algeria, chở Enrico Macias đến một nơi xa lạ, người lưu vong không bao giờ được phép trở về. Làm sao cánh chim di có thể quên lối cũ? Chiến tranh xua đuổi ông ra khỏi quê nhà. Tàu khởi hành không một người đưa tiễn. “Người tình ơi, ta xa nhau. Mượn đôi mắt em lên đường.” Với cây guitar làm hành trang, ông ghi lại, “J'ai quitté mon pays …”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.