Thơ: Ừ Thôi Về Thôi

09/05/200500:00:00(Xem: 7771)
Chạy tới chạy lui, chạy xin gõ cửa,
năn nỉ anh sứ, níu áo chị sứ,
cho tôi về với, tôi về tung hô,
tôi nói thiệt mà, cho về cho về,

ừ thôi tôi về, bạn bè đợi chờ
bao năm bao năm, giấy tờ khó thế,
tôi cũng Việt Kiều, tôi cũng thương nước,
ừ thôi về thôi, có thầy tôi mong,

có bạn tôi ngồi, có em tôi chờ,
có cháu tôi đợi, chờ đợi bao năm,
bao năm bao năm. Ừ thôi về thôi,
cho tôi về với, theo đúng chính sách,

tôi ôm tiền về, rải khắp quê nhà,
cho dân bớt đói, cho người bớt đau,
cho mưa bớt lạnh, cho lòng biết thương,
cho lời năn nỉ, dễ bớt đi mà,

dân khổ nhiều rồi, Việt Kiều hòa giải,
xin quan bớt tham, nói theo chính sách,
đổi mới đổi mới, tôi đổi mới thiệt,
năn nỉ xin về, tôi ôm tiền về,

tiền về tiền về. Ừ thôi về thôi,
tôi về giữa chợ, Bến Thành Bà Chiểu,
Đồng Xuân Thanh Trì, tôi ngồi giữa phố,
Tự Do Công Lý, Phố Cổ Hà Nội,

Phố Cổ Hội An, tôi ôm tiền về,
tôi về tôi thuê, phướng lọng đám cưới,
tôi trả tiền thuê, dàn kèn đám ma,
tôi làm đám rước, đi khắp cả nước,

mời gọi toàn dân, đổi mới đổi mới,
đổi mới thiệt mà, thuê khắp dân nghèo,
tiền tôi rải ra, giúp em đánh giày,
cứu em bán dâm, loa kèn kêu gọi,

từ bi từ bi, tôi rải hoa trời,
tặng khắp mười phương, trong tù ngoài ngục,
lòng từ vô lượng, vô lượng vô lượng.
Tôi mời đồng bào, cả nước ra ngồi,

giữa phố đầu phố, không cần tụng kinh,
không cần gõ mõ, không cần tung hô,
không cần kèn trống, không cần phướng lọng,
thôi ngồi xuống thôi, lắng nghe lắng nghe,

đừng nói đừng nói, này thân tôi ngồi,
này mắt tôi nhìn, này tai tôi nghe,
này lòng tôi mở, này là không thật,
này là biến hiện, này không thật tôi,

này không thật chị, này không thật em,
này là thân ngồi, nhưng không là tôi,
nhưng không của tôi. Tiền tôi ôm về,
tôi rải làm mưa, này tôi im lặng,

không nói một lời, tôi không dám phiền,
không dám làm phiền, này tôi áo rách,
này tôi dép sứt, này tôi ấp úng, n
ày tôi theo Phật, lặng lẽ lặng lẽ,

tới không ai biết, đi không ai hay,
học hạnh hải đảo, vào ngồi xưởng gốm,
xin trọ qua đêm, thuyết tới gần sáng,
xin đừng trổi nhạc, xin đừng tung hô,

để cùng lắng nghe, dòng đêm đang chảy,
dòng đời đang trôi, vô thường vô thường,
chỉ một dòng sông, không hề có tôi,
không có của tôi, tôi học lặng lẽ,

im vắng im vắng, chỉ có cái thấy,
chỉ có cái nghe, không có tôi thấy,
không có tôi nghe, chỉ có lắng nghe,
không có tôi nghe, chỉ có lắng nghe,

không có ai nghe… Không nói không tôi,
không tôi không nói, không tôi hề nói,
không nói tôi hề, tôi hề không nói,
không lời không lời, đất trời vắng lặng,

vắng lặng đất trời, tôi cùng đồng bào,
ngồi đứng ngổn ngang, giữa phố đầu phố,
không lọng đám cưới, không kèn đám ma,
mời gọi lắng nghe, cả nước ra phố,

ngồi nghe đứng nghe, nghe tim mẹ thở,
nghe vọng em khóc, nghe khổ cúm gà,
nghe cửa tù mở, nghe tóc trắng dậy,
nghe nước mắt lăn, nghe đất trời lặng,

niềm thương vô lượng, vô lượng vô lượng…

PHAN TẤN HẢI
02/23/2005
(http://thotanhinhthuc.com/ )

Di sản nghệ thuật của nhạc sĩ Cung Tiến không nằm ở số lượng, mà đầy ở phẩm chất. Ngoài những ca khúc, tấu khúc thuần tuý giá trị về âm nhạc, ông còn để lại những bài viết, tiểu luận dưới nhiều đề tài văn học, kinh tế, và truyện dịch. Chúng ta đã đọc, đã nghe khá nhiều về tài hoa và khả năng sáng tác của Cung Tiến từ tuổi 15 cho đến những năm tháng sau cùng. Trong những quà tặng ông để lại tôi đặc biệt yêu thích nghệ thuật phổ thơ thành nhạc của ông, chẳng những cho chúng ta thưởng thức giai điệu bán cổ điển tây phương, ngủ âm đông phương, mà còn mang thơ Thanh Tâm Tuyền, một trong vài thi sĩ hàng đầu trong thời đại của ông đến giới thưởng ngoạn nhạc nghệ thuật và lưu trữ vào kho tàng âm nhạc Việt. Thơ Thanh Tâm Tuyền không dễ phổ thành nhạc.
Như những tiếng cầu xin cứu vớt linh hồn chúng tôi / ngoài khơi bí mật đến tự một con tàu biển; / qua những mảnh danh từ dệt nên hồn mầu nhiệm / em vẫn chỉ là tóc mây cổ nõn và môi./ Sau áo len danh từ là thế giới xa vời, / là đêm không trăng sao là trùng dương thăm thẳm; / qua những chuỗi ngọc cười, em vui nước mất đẫm / vai anh, em buồn. Đêm hồn anh dài không nguôi.
Một cõi mênh mông các cảnh giới. Cũng là một chiếc kén bé nhỏ gói bí ẩn về giấc mơ một ngày kia sẽ tung ra muôn trùng tơ quấn quít hiện thực. Một khung cửa khép với chờ đợi, với cô lẻ số phận. Một bầu trời cao rộng với những đường bay mạnh mẽ hoan lạc của cánh chim tự do. Một mặt biển bị xao động bởi những con sóng ngầm làm ngạc nhiên thinh lặng của vực sâu. Là cánh cửa được mở tung bởi ngôn ngữ như những tiếng gõ dồn dập. Là bức tường bức phá bởi sức mạnh của ý tưởng. Là con đường hiểm hóc hay mượt cỏ, những bước chân vẫn đi tới đi tới. Ở đó bạn nghe được khát vọng tìm hạnh phúc chân thực như trở về cội nguồn tâm sâu thẳm. Ở đó bạn sẽ thấy cảm xúc mình bung ra như sắc mầu của chiếc kính vạn hoa. Ở đó, những con chữ như nam châm hút cảm xúc người đọc. Ở đó, từ trường say đắm thơ mộng của Đinh Thị Như Thúy, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thùy Song Thanh, Vũ Quỳnh Hương.
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.
Tôi đã đọc thơ Nguyễn Quốc Thái từ hơn một thập niên. Và nhiều người đã đọc thơ anh hơn một nửa thế kỷ. Hình như, tôi chưa thấy dòng thơ nào vui của anh. Và ngay cả những dòng thơ có thể được suy đoán là vui, cũng vẫn có một nỗi buồn thần bí trong đó – nơi đây, đành nói là thần bí, vì không giải thích minh bạch được. Cũng có thể vì tôi thấy nét mặt anh lúc nào cũng buồn. Đó là những lần tôi được gặp anh, khi anh có dịp thăm Quận Cam. Cũng có thể vì Nguyễn Quốc Thái là một nhà thơ ra đời trước tôi khoảng một thập niên, thuộc một thế hệ có nhiều chia ly hơn là gặp gỡ, nhiều tan vỡ hơn là hàn gắn. Cũng có thể vì một vài câu thơ của Nguyễn Quốc Thái, tôi đã đọc qua, và chợt nhớ một vài ý trong đó. Như bài thơ có nhan đề Todo Passa. Anh làm bài thơ này từ Sài Gòn, vào tháng 12 năm 2017. Trích năm dòng đầu như sau. / Một mình tôi với những câu thơ đau đớn mới/ Lời vỗ về an ủi như tiếng gió lùa qua bến bờ lau sậy / Tôi ngã xuống như một hẹn ước dở dang ...
thở lên cầu lộng chân mây/ loa xa nhánh nữa cởi vai sông triền / từng say đắm rượu bách niên / cây nhân gian sẽ nhện phiền muộn giăng / bím thư sinh bới lọn mầm / lưới yêu mị chải lệch tâm lược ngà / nhá nhem đóm lội tịch tà / cái hôn ám cũ tách ra giữa vời
Một nhà phê bình văn học ngoại quốc đã nói đại ý: Nếu các nhà thơ hiện đại không có độc giả, họ có thể tạo ra độc giả. Đây thuộc vào phần lớn thi tài của nhà thơ. Để có được một bài thơ ra thơ, nghĩa là, được sinh ra từ cảm xúc thực, có sự mới lạ của chữ và nghĩa, và ít nhất là có nhạc thơ. Thơ hiện đại có khi nghiêng về lý sự mà coi nhẹ cảm xúc. Làm thế nào để một bài thơ triết lý, suy tư, gây được rung động Thơ nơi người đọc? Thơ Nguyên Yên có một gợi mở như thế. Thơ của cô trầm tĩnh, đầy những suy tư triết lý, và táo bạo một cách sáng suốt để không phá đi thẩm mỹ từ của thi ngữ. Cô tôn trọng thi ngữ, cô triết lý bằng cảm xúc thơ (là khi trái tim phỉnh cái đầu… ), và vì vậy dòng thơ hiện đại của cô bật lên được nhạc chữ rất riêng của thơ tự do, đọc lên, có được cảm xúc đọc một bài thơ, cảm được cái mới lạ của chữ, nghĩa, hình ảnh. Suy tư mà vẫn ánh lên nét thơ mộng, lãng mạn, đặc biệt là những bất ngờ ở cuối bài thơ. Đó là những yếu tố mà thơ Nguyên Yên đã chinh phục được người đọ
Em đi để lại mây ngàn quyện vào chuông mõ, phím đàn nửa đêm Thương anh không ngủ giấc thiền nụ cười em gửi ngoài hiên cúng dường Em đi phả lại mùi hương ướp làn gió sớm, thơm đường mây trưa Thương anh trăm nắng ngàn mưa lái đò cổ độ giúp đưa qua bờ.
em dáng mới tháng giêng về ngụ/ giọt bích ngần thư thái vô ưu/ ngày nguyên đán phô nguyên lời gió/ tóc thơm mây rạng rỡ ca từ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.