Hôm nay,  

Đức Phật ra đời, như mặt trời chói sáng

17/05/202205:29:00(Xem: 6517)
blank

Đức Phật ra đời, như mặt trời chói sáng
 

Nguyên Giác

  

Nếu không có mặt trời, chúng ta sẽ chìm trong bóng đêm, không thể nhìn thấy gì nữa. Thế giới đã có sẵn trước mắt, nhưng chỉ khi ánh mặt trời bừng chiếu, chúng ta mới thấy trọn vẹn trước mắt. Tương tự, nếu Đức Phật không xuất hiện trong đời này, chúng ta sẽ chìm trong tà kiến, không biết tới khi nào mới nhìn thấy Pháp để tìm ra lối giải thoát. Do vậy, ngày Phật Đản cũng là ngày một thế giới giải thoát trọn vẹn được hiển lộ trước mắt cho chúng sinh trong cõi này.
 

So sánh Đức Phật như ánh mặt trời là từ sách Luận Đại Trí Độ của Bồ Tát Long Thọ. Bản Việt dịch của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu (1921-2001), trong Tập 1, Chương 7, bản do Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành năm 1997 giải thích về ý nghĩa Đức Phật ra đời: “…người tuy có phước đức, trí tuệ, nhưng nếu Phật không ra đời, thì chỉ thọ báo trong thế gian mà không thể đắc đạo. Nếu gặp Phật ra đời mới có thể đắc đạo, ấy là một lợi ích lớn. Ví như người có mắt, lúc không có mặt trời, thì không thể trông thấy được, cần phải có ánh sáng mặt trời, mới trông thấy được, nên không được nói: “Ta có mắt, cần gì mặt trời”…”
 

Do vậy, khi ánh sáng mặt trời chói rạng, là lúc chúng ta phải bước đi trên đường giải thoát được hiển lộ ra, không phải để thuần túy vui chơi. Chính ngay trong những Kinh nói về những điều hy hữu, trong nhóm Kinh vị tằng hữu, Đức Phật cũng nhấn mạnh và khuyến tấn về pháp tu. Truyền thống chúng ta mừng Lễ Phật Đản thường nhắc cho nhau về các sự tích phi thường để tăng tín tâm và mời nhau cầu nguyện, đôi khi lại quên nói về lời Đức Phật dạy pháp tu sau khi kể các hiện tượng rấr mực bất khả tư nghì.
 

Như trường hợp trong Trung Bộ, Kinh MN 123, còn gọi là “Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp” Ngài A Nan nói tuần tự các hiện tượng phi thường khi Đức Phật ra đời, mỗi lần bắt đầu kể một chuyện phi thường là nói câu “Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn” và khi kể xong là nói câu “con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.” Thọ trì tức là ghi nhớ, tin nhận, giữ mãi trong lòng, không quên. Kinh MN 123 ghi rằng Ngài A Nan nói 19 lần như thế. Tuy nhiên, Đức Phật cuối Kinh lại nhấn mạnh về pháp tu.
 

Kinh MN 123, bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu (1918–2012), trích vài đoạn như sau:

"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Bồ-tát khi sanh ra, này Ānanda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn."…(…)

“Do vậy, này Ānanda, hãy thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai. Ở đây, này Ānanda, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Này Ānanda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai.” (ngưng trích)
 

Nghĩa là, trong khi Ngài A Nan liên tục gọi các hiện tượng vượt ngoài các định luật vật lý (như Đức Phật mới sinh đã bước đi 7 bước, và nói một câu…) là hy hữu, Đức Phật đã kéo Ngài A Nan về đúng chỗ phải tu: phải liên tục thấy cảm thọ sinh, trụ, dị, diệt, tương tự thấy như thế với tưởng và tầm (niệm).
 
Trong Kinh này, Đức Phật nhấn mạnh về quan sát 3 đối tượng nơi thân tâm (thọ, tưởng, tầm). Cả hai bản Anh dịch của Sujato và Thanissaro đều dịch ba chữ này là: thọ (feelings), tưởng (perceptions), niệm (thoughts). Ngắn gọn, có thể gọi chung là các hiện tượng sinh diệt trong tâm. Tức là, liên tục thấy tâm. 
 

Kinh tương đương bên Tạng A Hàm là Kinh MA 32, kể rằng Đức Phật mới sinh bước đi 7 bước, nhưng không kể chuyện chỉ tay lên trời và nói. Thêm nữa, Kinh này ghi lời Ngài A Nan kể rằng Đức Phật liên tục bảy năm suy niệm về thân không gián đoạn, và yêu cầu chư Tăng thọ trì như thế. Nghĩa là, Kinh MA 32 là lời dạy rằng phải liên tục quán sát thân và tâm không gián đoạn, và như thế mới là hy hữu, là vị tằng hữu tối thắng. Bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ, trích như sau:

“Con nghe rằng, khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy bước không khiếp sợ, không kinh hãi, quan sát các phương. Nếu Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy bước không khiếp sợ, không kinh hãi, quan sát các phương; thì con xin thọ trì pháp vị tằng hữu này của Đức Thế Tôn.

“Con nghe rằng Đức Thế Tôn, trong suốt bảy năm suy niệm về thân, luôn luôn suy niệm không gián đoạn. Nếu Đức Thế Tôn trong suốt bảy năm suy niệm về thân, luôn luôn không gián đoạn; con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Đức Thế Tôn.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo rằng: “Này A-nan, ngươi hãy nghe Như Lai nói mà thọ trì thêm pháp vị tằng hữu này nữa. Này A-nan, Như Lai biết thọ sanh, biết trụ, biết diệt, luôn luôn biết, chẳng có lúc nào chẳng biết. Này A-nan, Như Lai biết tư và tưởng sanh, biết trụ, biết diệt, luôn luôn biết. Không lúc không biết. Cho nên, này A-nan hãy nên từ nơi Như Lai mà thọ trì thêm pháp vị tằng hữu này.” (ngưng trích)
 

Hơn hai thiên niên kỷ sau, các bậc long tượng đã nhận được ý chỉ của Đức Phật, nên khi viết sách hoằng pháp đã giảm yếu tố siêu nhiên để tập trung nhấn mạnh về pháp giải thoát.
 

Trong sách “Đức Phật Lịch Sử” – bản Việt dịch của GS Nguyên Tâm Trần Phương Lan dựa vào bản tiếng Đức của ngài H.W. Schumann và bản Anh dịch của ngài M.O'C. Walshe, đã xóa các chi tiết siêu nhiên hy hữu, chuyện y hệt như ở một làng quê Việt Nam, trích:

“...hoàng hậu Màyà đã bốn mươi tuổi, ngay trước thời kỳ lâm sản đã lên đường trở về quê song thân ở Devadaha để sinh con và nhờ mẫu thân Yasodharà bảo dưỡng. Cuộc hành trình bằng xe ngựa hay xe bò cọc cạch lắc lư trên những con đường đất bụi nóng bức khiến cho việc lâm sản xảy ra sớm trước khi về đến Devadaha. Gần làng Lumbini (Lâm-tỳ-ni, nay là Rumindai) giữa trời không có nhà cửa che chở, chỉ có được tàng cây sàla (tên khoa học Shorea Robusta) và cũng không có thầy thuốc nào lo việc hộ sản, hoàng tử ấu nhi Siddhattha sinh ra đời khoảng tháng năm, năm 563 trước CN.” (ngưng trích)
 

Tương tự, trong sách “Đường Xưa Mây Trắng” Thầy Nhất Hạnh (1926-2022) soạn, nơi quyền 1, phần 2, chương 6, cũng không ghi lại các hiện tượng phi thường của Đản Sanh, trích:

“…Tục lệ của nước bà là người con gái có chồng phải về sinh con tại nhà cha mẹ. Trên đường đi, bà đã ghé vào nghỉ tại vườn Lumbini. Trong vườn muôn hoa đang nở rộ, chim chóc đang ca hát vang lừng. Những con công xòe đuôi rực rỡ trong nắng mai. Thấy một cây Vô ưu hoa nở rực đầy cành, bà bước tới. Khi tới gần cây này, bà thấy hơi lảo đảo. Bà vội đưa tay nắm chặt một cành cây vô ưu. Một giây sau đó, bà sinh em bé. Thái tử Siddhatta được các thị nữ nâng lên và bọc lại trong một tấm khăn choàng bằng lụa màu vàng. Các thị nữ biết rằng chuyến đi Ramagama không cần thiết nữa cho nên dìu hoàng hậu ra xe bốn ngựa đi trở về Kapilavatthu. Thái tử được đem tắm bằng nước ấm rồi được đặt lên giường bên cạnh hoàng hậu…” (ngưng trích)
 

Trong sách “Đức Phật và Phật Pháp” của Đại Đức Narada Maha Thera (1898–1983), qua bản Việt dịch của ngài Phạm Kim Khánh, cũng không có hiện tượng siêu nhiên nào trong việc đản sanh, trích:

“Nhằm ngày trăng tròn tháng năm, năm 623 trước D.L., trong vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni) tại Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ) bên ranh giới Ấn Độ của xứ Nepal ngày nay, có hạ sanh một hoàng tử mà về sau trở thành vị giáo chủ vĩ đại nhất trên thế gian. Cha hoàng tử là Đức Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) thuộc quý tộc Sakya (Thích Ca) và mẹ là Hoàng Hậu Maha Maya (Ma Da). Sau khi hạ sanh hoàng tử được bảy ngày thì hoàng hậu thăng hà. Em bà là Maha Pajapati Gotami, cũng cùng kết duyên với Vua Tịnh Phạn, thay thế bà để dưỡng dục hoàng tử và gởi con là Nanda cho một bà vú nuôi chăm sóc.” (ngưng trích)
 

Sách “Phật Học Phổ Thông” của HT Thích Thiện Hoa (1918 – 1973), trong ấn bản Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn Hành 1997, trong Khóa Thứ Nhất: Nhân Thừa Phật Giáo, Bài Thứ 2 cũng viết đơn giản, trích:

“Đến sáng ngày mồng tám tháng tư âm lịch (trước Tây lịch 624 năm), tại vườn Lâm Tỳ Ni, cách thành Ca Tỳ La Vệ 15 cây số, Hoàng hậu Ma Da đang ngoạn cảnh, trông thấy cành hoa Vô Ưu mới nở, thơm ngát, bà đưa tay phải với hái, thì Thái Tử cũng vừa xuất hiện ngay đấy. Ngày đản sanh Thái Tử, trong thành Ca Tỳ La Vệ, cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ, cây cỏ đều đơm hoa trổ trái; sông, ngòi, mương, giếng nước đều trong đầy; trên hư không chim chóc và hào quang chiếu sáng cả mười phương. Vua Tịnh Phạn vui mừng khôn siết mời các vị tiên tri đến xem tướng Thái Tử.” (ngưng trích)
 

Tương tự, sách “Phật Học Cơ Bản” của Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, nơi Tập 1, Phần 1, Bài 3, ghi cũng rất đơn giản, trích:

“Đến thời khai hoa nở nhụy, theo tục lệ thời bấy giờ, Hoàng hậu phải trở về quê cha là trưởng giả Anjana ở nước Koly (Câu Ly) để an dưỡng, chờ ngày lâm bồn. Trên quãng đường đi, Hoàng hậu Màyà vào vườn Lumbini thưởng ngoạn mùa hoa đang đua nở. Bên tàng cây asoka (vô ưu) che rợp mát, sắc màu tươi sáng, hương thoảng nhẹ bay, Hoàng hậu đã hạ sanh Thái tử. Tin lành Thái tử chào đời nhanh chóng được loan truyền trong dân chúng.” (ngưng trích)
 

Tại sao quý ngài khi viết sách đã cắt bỏ các chi tiết truyện cổ tích ly kỳ hấp dẫn như thế? Kinh SN 12.20, bản dịch của Thầy Minh Châu ghi như lời Đức Phật giải thích, nhấn mạnh vào lý duyên khởi, nghĩa là phải thấy thực tướng vô ngã:

“Do vì, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử khéo thấy như chơn với chánh trí tuệ lý duyên khởi này và các pháp duyên sanh này, nên chắc chắn vị ấy không chạy theo quá khứ (với những câu hỏi): “Ta có mặt trong quá khứ? Ta không có mặt không quá khứ? Ta là gì trong quá khứ? Ta có mặt như thế nào trong quá khứ? Hay trước ta đã là gì, và nay trong quá khứ ta là gì?”…”(ngưng trích)
 

Đối với Thiền Tông, các hiện tượng siêu nhiên cũng được giản lược, có khi bỏ quên, để Đại Lễ Phật Đản trở thành một câu hỏi đơn giản: “Thế nào là mẹ của chư Phật?” Nghĩa là, pháp nào là mẹ của giác ngộ. Trong “Lâm Tế Ngữ Lục” của ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền (?-867), bản Việt dịch của Thầy Thích Duy Lực (1923-2000), trích:
 

“Chỉ có Đạo nhân vô y (tự tánh) đang nghe pháp, là mẹ của chư Phật, bởi vì chư Phật đều từ vô y sanh. Nếu ngộ được hai chữ vô y (không chỗ nương), Phật cũng vô đắc. Nếu thấy được như thế, tức là kiến giải chân chính… Các ngươi, nếu muốn đi ở tự do trong sanh tử, thì phải nhận thức người đang nghe pháp đây, vốn là vô hình, vô tướng, vô căn, vô bản, không trụ xứ, mà hoạt bát rõ ràng, ứng dụng muôn thứ, chỗ dùng chỉ là không chỗ (vô sở trụ)... Nếu niệm đã khởi chớ nên tiếp tục, nếu niệm chưa khởi đừng cho sanh khởi. Làm được như thế thì hơn đi hành cước mười năm. Đừng để bất cứ nội ngoại vật nào trói buộc…” (ngưng trích)
 

Đó cũng là ý chỉ của ngài Bồ Đề Đạt Ma trong Thiếu Thất Lục Môn: Bên ngoài dứt bặt muôn duyên, bên trong không còn tư lường tăm hơi manh mối gì, tâm y hệt như tường vách, mới có thể vào đạo (Ngoại tức chư duyên, Nội tâm vô đoan, Tâm như tường bích, Khả dĩ nhập đạo).
 

Như thế, khi đọc kỹ hai Kinh Vị Tằng Hữu, chúng ta thấy Đức Phật nhấn mạnh rằng chính liên tục nhìn thấy quán sát tâm (Kinh MN 123), liên tục quán sát thân và tâm (Kinh MA 23) mới thực sự là thông điệp đản sanh, là chiếu tia sáng mặt trời để thấy Tâm Giải Thoát hiển lộ. Và nơi Tâm Giải Thoát đó, theo Thiền Tông, chính là tâm không dựa vào đâu, tâm không trụ vào đâu, tâm lặng lẽ tỉnh thức lìa trói buộc, mới chính là khi Đức Phật ra đời. Đó mới thực sự là Hoa Đàm Ngát Hương.
 

THAM KHẢO:

Kinh MN 123: https://suttacentral.net/mn123/vi/minh_chau

Kinh MA 32: https://suttacentral.net/ma32/vi/tue_sy

Kinh SN 12:20: https://suttacentral.net/sn12.20/vi/minh_chau

.

.

 

Tin từ tờ San Francisco Chronicle hôm 10/10 cho hay gia đình bốn người bị tìm thấy đã chết tại nhà riêng ở Westwood Highlands, San Francisco, sau khi một người bà con của họ tìm cách vào nhà vì đã không liên lạc được gần một tuần lễ. Bốn nạn nhân này được xác định là bà Paula Trương, 53 tuổi, chồng là ông Thomas Russell Ocheltree, 57 tuổi, và hai con của họ là Alexandra Ocheltree, 12 tuổi và Mackenzie Ocheltree, 9 tuổi, theo nguồn tin của SF Chronicle cho biết.
OPEC cho biết trữ lượng dầu của Venezuela là lớn nhất thế giới. Và do vậy, khó bình yên. Chính quyền Trump trong mấy tuần qua đã dội bom làm chìm 3 tàu cá của ngư dân Venezuela và làm chết nhiều ngư dân, mà Hoa Kỳ nói là ghe chở ma túy
- Đảng Cộng Hòa Chỉ Trích Tổng Thống Trump Lạm Dụng Quyền Hành - Putin Khen Trump Xứng Đáng Được Giải Nobel Hòa Bình - Dịch Sởi Bùng Phát Tại Nam Carolina – Hàng Trăm Học Sinh Phải Cách Ly - Bắc Triều Tiên Phô Trương Tên Lửa Liên Lục Địa Mới Hwasong-20 - Người Venezuela Tại Mỹ Mừng Machado Đoạt Nobel Nhưng Vẫn Lo Sợ Bị Trục Xuất - Nữ Nhân Viên Đài WGN Bị ICE Bắt Giữ Giữa Phố Chicago - Trung Quốc Treo Thưởng Truy Nã Sĩ Quan Đài Loan
Theo báo Government Executive: Việc Trump cảnh báo sẽ sa thải nhân viên do đóng cửa chính phủ dẫn đến ít nhất 4.200 người bị cắt giảm tại bảy cơ quan. Nhiều khả năng sẽ có thêm các cuộc cắt giảm nhân sự liên bang (RIF) khi chính quyền Trump đang thực hiện lời đe dọa lợi dụng việc đóng cửa chính phủ để thực hiện cắt giảm
Chỉ số Trung bình Công nghiệp Dow Jones lập tức sụt giảm 560 điểm, tương đương 1,2%. S&P 500 mất 1,7%, trong khi Nasdaq Composite giảm 2,3%. Ghi nhận: Trước khi Trump hăm dọa, cổ phiếu đã tăng mạnh, với Nasdaq đạt mức cao kỷ lục mới trong ngày.
Ai cũng biết hít thở không khí ô nhiễm có hại cho lá phổi, nhưng còn não bộ của chúng ta thì sao? Một nghiên cứu mới đã đưa ra những bằng chứng đầy thuyết phục, cho thấy ô nhiễm không khí có thể làm tăng đáng kể cơ nguy phải vào bệnh viện vì bệnh trí nhớ suy giảm thể Lewy (Lewy body dementia). Căn bệnh này hiện ảnh hưởng đến hơn một triệu người tại Hoa Kỳ, có hai dạng chính: trí nhớ suy giảm với thể Lewy (Dementia with Lewy) và bệnh Parkinson kèm theo suy giảm trí nhớ (Parkinson’s disease dementia). Cả hai đều xảy ra khi protein alpha-synuclein tích tụ quá mức trong não bộ, dần dần phá hủy các tế bào thần kinh khỏe mạnh. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science vào tháng 9 năm 2025, hé lộ cơ chế đứng sau mối liên quan đáng lo ngại này.
- Trump Trượt Giải Nobel Hòa Bình Dù Được Đề Cử Rộng Rãi. - Dân Biểu Oregon Hòa Nguyễn Qua Đời Ở Tuổi 41 Sau Thời Gian Chống Chọi Với Ung Thư - Israel Chấp Thuận Giai Đoạn Một Của Thỏa Ước Ngưng Chiến Với Hamas Do Hoa Kỳ Bảo Trợ. - Căng Thẳng Giữa Chính Quyền Trump Và Giới Tư Pháp Leo Thang. - IRS Công Bố Khung Thuế Thu Nhập Liên Bang 2026, Giữ Nguyên Thuế Suất Nhưng Nâng Mức Thu Nhập Theo Lạm Phát. - Thống Đốc Texas Dọa Cắt Ngân Khoản Nếu Không Xóa Vạch Cầu Vồng Và Biểu Tượng “Chính Trị” Trên Đường Phố. - Letitia James Trở Thành Mục Tiêu Mới Trong Chiến Dịch Báo Thù Của Trump. - Nga Oanh Kích Quy Mô Lớn Khiến Kyiv Chìm Vào Bóng Tối. - Tập Cận Bình Đích Thân Tham Gia Soạn Kế Hoạch 5 Năm Mới Của Trung Quốc.
Nhà lãnh đạo đối lập Venezuela María Corina Machado được trao Giải Nobel Hòa Bình năm 2025, nhằm vinh danh cuộc tranh đấu bền bỉ suốt nhiều thập niên của bà chống lại chế độ độc tài, sự can đảm trong công cuộc bảo vệ dân chủ, và vai trò lãnh đạo đạo đức giữa một đất nước đang kiệt quệ vì khủng hoảng.
Có một anh chàng trẻ tuổi gốc Việt, hồi ở Việt Nam học nhạc viện Hà Nội, sau đó đi du học ở Nhật, hiện nay đã trở thành công dân Nhật theo diện di dân có tay nghề. Anh nhận xét rằng nền âm nhạc cổ truyền của Nhật thật đặc sắc, và còn độc đáo hơn nữa khi được các ban nhạc rock trẻ Nhật trình diễn theo phong cách mới. Thí dụ như Wagakki Band phối hợp đàn koto, trống taiko, sáo trúc… chơi cùng với những nhạc cụ rock, làm say mê hàng triệu khán giả trẻ của Nhật. Anh chàng trẻ gốc Việt tin rằng các ban nhạc trẻ ở Việt Nam rồi cũng sẽ làm được điều tương tự. Một chị quê ở Hà Nội, hiện nay đang sống ở Canada theo diện di dân đầu tư. Là người mê dân nhạc Việt Nam, chị cho biết vẫn nghe đủ thể loại chèo, quan họ, chầu văn… để đỡ nhớ quê nhà. Có một lần xem trên Youtube một nhóm trẻ ở Hà Nội kết hợp hát xẩm với nhạc rap, nhảy hip hop, chị nhận xét: “…nhạc chơi theo kiểu hiện đại, trang phục thì khá lố lăng, nhưng chắc phải hát xẩm kiểu này tụi trẻ mới thích và mới biết đến hát xẩm…”
Khi chính thức trở thành công dân Hoa Kỳ bằng con đường nhập tịch, tân công dân không chỉ được công nhận quyền công dân, mà còn nhận được những món quà kỷ niệm đáng trân quý: quốc kỳ, bản sao của Tuyên Dương Độc Lập và Hiến Pháp, cùng một lá thư chào mừng từ tổng thống đương nhiệm. Trong số này, lá thư có lẽ là thứ ít được để ý nhất vì chỉ là mẫu thư được soạn sẵn, nhưng lại chứa đựng nhiều thông điệp sâu xa về cách một tổng thống nhìn nhận đất nước mà mình điều hành.
Ngày 20 tháng 9 năm 2025, Sở Di trú Hoa Kỳ đã ban hành một bản ghi nhớ nhằm làm rõ Tuyên bố của Tổng thống Trump ngày 19 tháng 9 năm 2025, liên quan đến việc hạn chế nhập cảnh vào Hoa Kỳ đối với một số lao động không di dân diện H-1B. Ngày hôm sau, 21 tháng 9 năm 2025, Nhà Trắng đã công bố tài liệu “Câu hỏi thường gặp về H-1B” nhằm cung cấp hướng dẫn thêm.
Trong những năm qua, các chính phủ phương Tây đang biến việc trục xuất di dân thành chính sách quen thuộc, và đáng lo hơn, thành điều “bình thường mới.” Dưới thời Tổng thống Donald Trump, Hoa Kỳ nhanh chóng mở rộng các biện pháp giam giữ và trục xuất người không có quốc tịch. Chỉ trong vài tháng gần đây, chính quyền Trump đã ký thỏa thuận với nhiều quốc gia thứ ba để gửi những người bị trục xuất tới, ngay cả khi họ không hề có bất kỳ mối liên quan nào với những nơi đó.
Vào giữa tháng 9, Ủy Ban Cố Vấn Về Tiêm Chủng (AICP), cơ quan đưa ra lời khuyên cho Trung Tâm Kiểm Soát Và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC), đã họp, ban hành các đề nghị mới cho một số loại vaccine, đáng chú ý nhất là vaccine MMRV — sởi, quai bị, rubella, đậu mùa — và vaccine Viêm Gan B. Trước đó, ACIP đã ban hành hướng dẫn mới về vaccine Covid-19, hạn chế mạnh mẽ điều kiện tiêm chủng. Các tuyên bố của ủy ban là mâu thuẫn với chính sách hiện hành của nền y tế Hoa Kỳ và thế giới, khiến giới chuyên gia y tế lo ngại. Một số tiểu bang đã tuyên bố sẽ không tuân theo hướng dẫn của ACIP, sẽ xây dựng các quy định riêng của mình.
Từ phi trường, ngân hàng cho đến các trang mạng xã hội, gương mặt của chúng ta đang dần trở thành chiếc chìa khóa vạn năng, tấm vé thông hành cho vô số dịch vụ. Công nghệ nhận diện gương mặt (facial recognition), cùng các phương thức sinh trắc học (biometric) khác, đang được ca ngợi là giải pháp nhanh chóng, tiện lợi và an toàn. Nhưng đằng sau lời hứa hẹn đó là những tranh cãi xoay quanh vấn đề quyền riêng tư. Liệu đây là tương lai của ngành bảo mật, hay là một sự bành trướng công nghệ đầy nguy hiểm? Và quan trọng hơn, điều này sẽ ảnh hưởng thế nào đến các gia đình, khi chính con em chúng ta cũng đang được yêu cầu dùng gương mặt để xác minh danh tính?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.