Hôm nay,  

Song ngữ: Praying and chanting sutras / Cầu nguyện và tụng kinh

07/12/202309:33:00(Xem: 18388)
blank 

Cầu nguyện và tụng kinh

 

Tâm Diệu

 

Đạo Phật trên ý nghĩa thiết yếu là “biện chứng giải thoát” hay là con đường giải thoát. Giải thoát khỏi khổ đau, sinh tử luân hồi. Tuy cùng đi trên một con đường, nhưng vì con người có nhiều tâm tính, trình độ, khả năng và căn cơ khác nhau, lại vì tùy hoàn cảnh, tùy phong tục, tập quán, luật lệ thay đổi theo từng địa phương và tùy thời điểm, cho nên Đức Phật đã đưa ra vô số phương tiện khác nhau, thường được tiêu biểu bằng con số 84 nghìn pháp môn, để hướng dẫn mọi người đạt đến cứu cánh giác ngộ, giải thoát. Cầu nguyện và tụng kinh, tuy không phải là cứu cánh, nhưng cũng là một trong 84 nghìn pháp môn.

 

CẦU NGUYỆN

 

Thời Đức Phật tại thế, có chàng trai trẻ đến xin Phật làm lễ cầu siêu cho người cha vừa quá vãng. Biết rằng chàng trai trẻ tràn ngập nỗi đau khổ chắc khó có thể hiểu được những lý lẽ trong lúc này, nên Đức Phật đã phải dùng phương tiện bằng hình ảnh cụ thể với những đặc tính đối lập, một hòn đá và một lon dầu, cả hai được ném xuống hồ, đá nặng chìm xuống và dầu nhẹ nổi lên.  Đức Phật trả lời, như một hòn đá nặng được thả chìm xuống đáy hồ, cho dù với sức cầu nguyện của số đông, hòn đá vẫn không thể nổi lên mặt nước. Qua đó, Đức Phật khẳng định nếu con người tạo nghiệp xấu thì chịu quả báo xấu và tạo nghiệp tốt thì được hưởng quả báo tốt, cầu nguyện không thể làm thay đổi được nghiệp lực, nhất là khi nghiệp đã chín muồi. Rõ ràng, cầu nguyện để mong giải tội, xóa sạch ác nghiệp đã tạo, phó thác hoàn toàn vào tha lực như các Bà la môn hằng tin tưởng là một việc làm vô ích. [01]

 

Tuy nhiên, trong một vài trường hợp khác, cũng trong kinh Pali, Đức Phật cho thấy sự cầu nguyện có ảnh hưởng đến người khác và môi trường sống chung quanh.  Điển hình là trường hợp Tỳ kheo Angulimāla (Vô Não), ông vốn là một tay cướp giết người nổi tiếng, nhưng Angulimāla được Phật hoá độ, trở thành Tỳ kheo. Một hôm, Angulimāla đi khất thực, gặp một người đàn bà sắp lâm bồn đang rên siết đau đớn bên đường. Không biết làm thế nào, Angulimāla trở về hỏi Đức Phật. Đức Phật khuyên Angulimāla đem lời sau đây nói với người đàn bà: “Này cô, từ ngày được sanh vào Thánh tộc (nghĩa là từ ngày tôi xuất gia), tôi chưa hề có ý tiêu diệt đời sống của một sinh vật nào. Do lời chân thật này, ước mong cô được vuông tròn và con của cô được bình an vô sự.”[02] Angulimāla học thuộc lòng bài kinh, rồi đi đến nơi, ngồi cách người phụ nữ một bức màn che, đọc lại với lòng chân thật. Người mẹ đau đớn liền sanh được dễ dàng.

 

Đến nay bài kinh Angulimāla Paritta [03] này vẫn còn được lưu hành ở một số quốc gia Phật giáo Nam Truyền. Điều này cho thấy năng lực nội tại (qua tâm từ và giữ giới) của hành giả có thể có tác dụng đến ngoại giới, đến môi trường chung quanh và ảnh hưởng ấy lại được chuyển tải bởi ngôn ngữ (lời kinh).  Sức mạnh của tâm từ và năng lực trì giới của Tôn gỉa Angulimāla đã chuyển hoá tai họa của sản phụ, khiến cho mẹ con được an lành.

 

Cũng vào thời Phật, có một số tỳ kheo sống trong rừng sâu bị rắn độc cắn bị thương nhiều có khi gây tổn hại đến sinh mệnh, nên Phật đã dạy các tỳ kheo ấy hãy rải tâm từ đến các loài rắn độc thì sẽ tránh khỏi. Phật dạy bài kệ. Nội dung bài kệ không phải là những câu thần chú bí hiểm, mà chỉ là những lời ước nguyện, mong cho tâm từ của hành giả lan toả đến chúa tể các loài rắn độc, các sinh vật không chân, hai chân và bốn chân; ước nguyện chúng sinh các loại đều được an lành, không làm hại đến tỳ kheo. Văn ước nguyện này được gọi là “hộ chú” (parittam). [04]

 

Trong thời cận đại, một vị  bác sĩ người Pháp qua Việt Nam làm các việc từ thiện ở những năm đầu thập niên thế kỷ 20 cũng xác nhận rằng nhờ “tâm từ” mà ông đã thoát được nạn rắn độc. Đó là trường hợp bác sĩ Yersin: “Năm 1894 bác sĩ Yersin đi từ cao nguyên Lang Bian đến Darlac rồi từ Darlac đến Attopeu, một bữa nọ bác sĩ đang đi trong rừng, mắt chăm chú nhìn lên các ngọn cây cao, thì bỗng nghe sau lưng có tiếng động. Quay lại thì ngó thấy một con rắn hổ mang to lớn đứng thẳng lên trên đuôi, phùng mang le nọc độc.  Bác sĩ Yersin đứng yên, thái độ hoàn toàn bình thản. Rắn lắc lư chiếc đầu dẹp muốn nhảy đến chụp, nhưng lại trù trừ. Hồi lâu hạ mình xuống vụt phóng vào bụi rậm rồi đi mất. Nghe được câu chuyện, có người đến hỏi bác sĩ có phải nhờ thuật thôi miên mà thoát nạn chăng? Bác sĩ cười đáp: “Rắn độc cũng như thú dữ, cắn người chỉ để tự vệ. Chúng đều có linh tính. Một khi nhận biết rằng mình không có ác tâm, ác ý đối với chúng thì không bao giờ chúng làm hại mình”[05] .

 

 

Trên đây là một số trường hợp cầu an cứu hộ có tính cách cá nhân cho mình hoặc cho người, nương nhờ vào năng lực từ tâm và trì giới.  Trong trường hợp số đông chúng sinh như các vùng bị thiên tai, bão lụt làm mất tích và chết nhiều người, dẫn đến các bệnh dịch tàn phá khác. Phật giáo, ngoài những nỗ lực cứu giúp bằng các phương tiện vật chất còn có biện pháp cứu hộ khác bằng năng lực cầu nguyện của số đông với tâm từ bi, với chánh tín và chánh kiến qua việc đọc tụng kinh Châu Báu [06] như tại các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Nam truyền thường áp dụng.

 

Như thế có thể nói rằng ngoài tự lực, trong Phật giáo còn có tha lực và cầu nguyện. Sự cầu nguyện có thể được giải thích như là một ý lực mạnh mẽ muốn chuyển hóa nghiệp lực đối với tự thân đồng thời hỗ trợ cho tha nhân chuyển hóa nghiệp lực của họ, mà chủ yếu là sức mạnh của tâm từ bi và giữ giới luật. Tuy nhiên, điều chánh yếu là việc cầu nguyện phải phù hợp với lý và pháp. Hòa thượng Tịnh Không, trong một bài giảng có nói rằng việc cầu nguyện sẽ được hiệu nghiệm nhưng phải là “Như lý như pháp mà cầu”. Như lý như pháp là phải vì mục đích hạnh phúc của số đông, của tất cả chúng sinh, không chỉ riêng cho mình.

 

TỤNG KINH

 

Tụng kinh là cách hành trì rất phổ biến của cả hai trường phái Phật giáo Nam Truyền và Bắc Truyền.

 

Kinh có nghĩa là những lời Phật dạy, bao gồm những bài thuyết pháp của Đức Phật từ buổi thuyết pháp đầu tiên tại Ba La Nại cho đến lúc Phật nhập Niết Bàn.

 

Tụng kinh là để ôn lại những lời Phật dạy và để tự nhắc nhở mình ứng dụng lời của Phật dạy vào cuộc sống hằng ngày là không làm các việc ác, làm các việc lành và tự thanh lọc tâm ý.  Khi tụng kinh, do chú tâm vào lời kinh nên cả ba nghiệp là thân, khẩu và ý không có cơ hội tạo tác.  Do đó xa lìa được các gốc rễ của khổ đau như tham lam, sân hận, si mê, đem lại lợi lạc cho mình và người.

 

Nhiều bài kinh quan trọng từ giáo lý căn bản của Đức Phật được chọn ra từ các bộ kinh. Tên những bộ kinh nguyên thủy bằng chữ Pali được chọn ra là: Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya), Trung Bộ Kinh (Majjiima Nikaya), Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikaya), Tăng Chi Bộ Kinh, (Anguttara Nikaya) và Tiểu Bộ Kinh (Khuđaka Nikaya).  Các Kinh nguyên thủy bằng chữ Sanskrit gồm có các bộ A Hàm (Agamas) như Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm, và Tạp A Hàm (tương đương với các bộ Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh, và Tiểu Bộ Kinh thuộc văn hệ Pali). Ngoài ra còn có các kinh thuộc Phật giáo Bắc Truyền như: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Kim Cang, Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Đại Bảo Tích, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Viên Giác, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, Kinh Duy Ma Cật, Kinh A Di Đà, và còn rất nhiều nữa.

 

Những kinh mà người Phật tử tụng trong truyền thống Phật giáo Nam Truyền để cầu an là Kinh Châu Báu và Kinh Phật Lực. Cầu siêu là Kinh Vô Ngã Tướng và Kinh Hồi Hướng Vong Linh.  Đối với Phật giáo Bắc truyền kinh Cầu an là Kinh Phổ Môn, Knh Dược Sư và cầu siêu là Kinh A Di Đà và Kinh Địa Tạng.

 

 “Cầu An” có nghĩa là ước nguyện cho chính chúng ta hay cho người khác tránh khỏi các hình thái của ma quỷ, bất hạnh, đau ốm, và ảnh hưởng xấu của những sự thay đổi môi trường sống trong hệ thống hành tinh cũng như để đặt tin tưởng nơi tự tâm bằng chính tâm từ bi, chánh tín, chánh kiến và năng lực giữ giới hạnh của chúng ta. Còn “Cầu Siêu” là nguyện cầu cho những người thân quá cố hoặc bạn bè quen hay không quen của chúng ta, nhưng vì tâm từ, vì họ mà làm những việc từ thiện để hồi hướng cho họ được nương vào phước lành đó mà vượt thoát khỏi ba đường ác.

 

Việc tránh ác, làm thiện và giữ giới của mỗi cá nhân và của số đông, hợp với sức mạnh gia hộ của thanh tịnh đại hải chúng Bồ Tát, của chư Phật và các vị thiện thần có thể đem lại kết quả, đạt được mục đích cầu an như ý lực mong muốn. Sự gia hộ mà trong kinh sách thường nói đến như là một tha lực, là điều rất khó giải thích, chỉ có thể cảm nhận được bằng kinh nghiệm bản thân.

 

 

Chú Thích:

 

[01] HT. Thích Minh Châu, Kinh Tương Ưng Bộ Tập IV Thiên 6 xứ Ch.8 Đoạn 6:

 

[02] HT. Narada Maha Thera, Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1998, Đức Phật và Phật Pháp

 

[03] HT. Thích Minh Châu, Kinh Trung Bộ, Angulimala Sutta, kinh thứ 86.

 

[04] Suzuki - TT. Thích Tuệ Sỹ, Thiền và Bát Nhã,  Viện CĐPH Hải Đức, 2004.

 

[05] Quách Tấn, Xứ Trầm hương. Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa tái bản 2003.

 

[06] HT. Thích Minh Châu, Kinh Tiểu Bộ Tập I Kinh Tập, (I) Kinh Châu Báu (Ratana Sutta) (Sn 39)

 

(Trích từ sách Phật Pháp Trong Đời Sống, Nhà xuất bản Hồng Đức 2014)

 

Nguồn:

https://thuvienhoasen.org/p22a21700/06-cau-nguyen-va-tung-kinh

 

.... o ....

 

Praying and chanting sutras

 

Author: Tâm Diệu

Translated by Nguyên Giác

 

At its core, Buddhism is a path to liberation. Buddhists who follow this path strive to distance themselves from suffering and break free from the cycle of birth and death. Although the path to liberation in Buddhism is universal, practitioners have diverse temperaments, abilities, and conditions. This is because the approach to enlightenment depends on various factors such as circumstances, customs, regional laws, and the era in which one lives. The Buddha, recognizing this diversity, offered numerous methods, symbolized by the number 84,000, to guide individuals towards the ultimate goal of enlightenment and liberation. Praying and chanting sutras, although not the ultimate method, is also one of the 84,000 methods.

 

PRAYING

 

During Buddha's time, a young man came to ask Buddha to perform a prayer ceremony for his father, who had just passed away. Knowing that the young man was filled with suffering and could hardly understand the arguments at this time, the Buddha had to use a concrete image with contrasting characteristics: a stone and a jar of oil. After both were thrown into the lake, the heavy rock sank while the light oil floated to the surface. Buddha replied that, just like a heavy stone dropped to the bottom of a lake, even with the prayers of many people, the stone could not float to the surface. The Buddha affirmed that if people engage in bad deeds, they will receive bad karma, while if they engage in good deeds, they will enjoy good karma. Prayers cannot change the karmic outcomes, especially when the karma has already matured. Obviously, praying to absolve sins and erase the negative karma you have accumulated, while completely entrusting yourself to the power of others, as the Brahmins always believe, is a futile endeavor.

 

However, in a few other cases, as mentioned in the Pali scriptures, the Buddha demonstrated that prayer can have an influence on both individuals and the surrounding environment. Like the case of Bhikkhu Angulimāla, in the past, he was a notorious murderer before being converted by the Buddha and becoming a monk. One day, Angulimāla went to beg for alms and encountered a pregnant woman in distress, moaning in pain on the side of the road. Not knowing what to do, Angulimāla returned to ask the Buddha. The Buddha advised Angulimāla to say the following to the woman: "Dear lady, since the day I was born into the Holy Clan (that is, since the day I became a monk), I have never had any intention to harm or take the life of any living being. May you find peace and may your newborn baby be safe and sound, as these words hold true." Angulimāla memorized the saying, then went to the place, sat a few feet away from the pregnant woman, and read it again with sincerity. The mother immediately felt less pain and gave birth easily.

 

The Angulimāla Paritta Sutta is still circulated in some Theravada Buddhist countries to this day. This demonstrates that the inner capacity of the practitioner (through compassion and adherence to precepts) can impact the external world and the surrounding environment. This influence is communicated through the language used in the sutta. The power of Venerable Angulimāla's compassion and his ability to uphold precepts transformed the misfortune of the pregnant woman, ensuring the safety of both her and her newborn baby.

 

Also, during the time of the Buddha, there were monks who lived in remote forests and were occasionally bitten by venomous snakes, resulting in injuries that posed a threat to their lives. Therefore, the Buddha taught the monks to cultivate compassion towards poisonous snakes, ensuring their safety. Buddha taught the monks a verse. The content of the verse is not a mysterious mantra, but rather a simple wish. It expresses the hope that the practitioner's compassion will extend to all beings, including poisonous snakes, creatures without legs, those with two legs, and those with four legs. The verse wishes for the safety and well-being of all living beings and for no harm to come to monks. This written wish is called a "protective mantra" (parittam).

  

In modern times, a French doctor who came to Vietnam to do charity work in the early 20th century also confirmed that he was able to escape from poisonous snakes thanks to his "compassion." That was the case with Dr. Yersin. In 1894, Dr. Yersin traveled from the Lang Bian plateau to Darlac, and then from Darlac to Attopeu. One day, the doctor was walking in the forest, gazing up at the towering trees, when he suddenly heard a noise behind him. Turning around, he saw a large cobra standing upright on its tail, releasing venom. Doctor Yersin stood still, maintaining a completely calm demeanor. The snake shook its flat head and attempted to lunge at the doctor, but hesitated. After a while, the snake lowered itself, jumped into the bushes, and disappeared. After hearing the story, someone approached the doctor to inquire whether he had used hypnosis to escape the danger. The doctor smiled and replied, "Poisonous snakes are similar to wild animals; they only bite people in self-defense. They all have premonitions. Once you realize that you harbor no malice or hostility towards them, they will never harm you."

 

Above are some personal instances of praying for safety for oneself or others, relying on the power of compassion, and adhering to precepts. In situations involving a significant number of living beings, such as areas impacted by natural disasters, storms, and floods, numerous individuals go missing and perish, resulting in additional catastrophic outbreaks. Buddhism, in addition to providing material assistance, also offers other forms of support through the collective power of prayer, rooted in compassion, right faith, and right view. One such practice is the recitation and chanting of the Ratana Sutta, which is commonly observed in Theravada Buddhist countries.

 

So, it can be said that in addition to relying on one's own strength, Buddhism also emphasizes reliance on the strength of others and the power of prayer. The practice of prayer can be understood as a sincere intention to change one's own karma while also assisting others in transforming their karma. It is primarily driven by compassion and the commitment to uphold moral principles. However, the main thing is that prayer must be in accordance with reason and dharma. In a sermon, Venerable Tinh Khong said that prayer can be effective, but it must be “practiced in accordance with reason and with the dharma.” Practice in accordance with reason and dharma must be for the sake of the happiness of the majority of all sentient beings, not just for oneself.

CHANTING SUTRAS

Chanting sutras is a widely practiced tradition in both Southern and Northern Buddhism.

 

Sutras are the teachings of the Buddha, encompassing his sermons from the first sermon at Ba La Nai until his entry into Nirvana.

  

Chanting sutras is a way to study the teachings of the Buddha and to remind the chanter to apply those teachings in their everyday life. This involves refraining from engaging in harmful actions, actively engaging in virtuous actions, and cultivating a pure mind. When chanting, due to focusing on the words of the sutra, there is no opportunity for the three karmic actions of body, speech, and mind to arise. Therefore, by avoiding the causes of suffering, such as greed, anger, and ignorance, you can bring benefits to both yourself and others.

 

Many important suttas from the Buddha's fundamental teachings were selected from the sutras. The selected names of the early Pali scriptures are: Digha Nikaya, Majjhima Nikaya, Samyutta Nikaya, Anguttara Nikaya, and Khuddaka Nikaya. Early Buddhist Sutras in Sanskrit include Agamas such as Dīrgha Āgama, Madhyama Āgama, Saṃyukta Āgama, and Ekottara Āgama (equivalent to Digha Nikaya, Majjhima Nikaya, Samyutta Nikaya, and Anguttara Nikaya in the Pali Canon).

 

There are also sutras in Northern Buddhism, such as the Lotus Sutra of Wonderful Dharma, the Avatamsaka Sutra, the Diamond Sutra, the Maha Prajnaparamita Sutra, the Mahaparinirvana Sutra, the Great Treasure Sutra, the Shurangama Sutra, the Perfect Enlightenment Sutra, the Heart Sutra, the Vimalakirti Sutra, the Amitabha Sutra, and many more.

 

The sutras recited by Buddhists in the Southern Buddhist tradition to pray for peace are the Ratana Sutta and the Buddhajayamaṅgalagāṭhā (the Power of Buddha Sutta). For praying for the deceased, they recite the Anattalakkhaṇa Sutta (the No-Self Sutta) and the Sutta Dedicated to the Dead. For Northern Buddhism, the sutras used to pray for peace include the Universal Gateway Sutra and the Medicine Buddha Sutra. On the other hand, the Amitabha Sutra and the Ksitigarbha Sutra are recited to pray for the deceased.

 

Praying for Peace means wishing for ourselves and others to be free from all forms of evil, misfortune, illness, and the negative effects of environmental changes in the planetary system. It also means having trust in our own minds, cultivating compassion, having right faith, right view, and the ability to maintain morality. The Requiem Prayer is a prayer offered for our deceased relatives, friends, or even unfamiliar individuals. It is an act of compassion where we perform charitable deeds on their behalf, dedicating the merits of these actions to help them escape the three evil paths and find blessings.

 

Avoiding evil, doing good, and adhering to the precepts, both individually and collectively, along with the benevolent influence of numerous Bodhisattvas, Buddhas, and divine beings, can yield fruitful outcomes, enabling the fulfillment of prayers in accordance with one's desires. The blessing, often referred to as a force of others in the scriptures, is very difficult to explain and can only be felt through personal experience.

 

(Excerpted from the book Live The Buddhist Teachings, Hồng Đức Publishing House, 2014)

 

.... o ....

Quyền công dân theo nơi sinh tại Hoa Kỳ hiện đang được Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xem xét lại một lần nữa. Tổng thống Donald Trump đã đích thân tham dự phiên tranh luận miệng tại Tòa, điều mà nhiều người cho là không phù hợp. Quyền công dân theo nơi sinh có nghĩa là hầu hết các em bé sinh ra tại Hoa Kỳ được tự động trở thành công dân Hoa Kỳ. Luật này xuất phát từ Hiến pháp. Trường hợp ngoại lệ chính là con của các nhà ngoại giao nước ngoài.
Trung Quốc hiện nắm vị trí gần như áp đảo trong việc sản xuất hầu hết những bộ phận then chốt của lưới điện hiện đại, từ tấm pin mặt trời, cáp điện cao thế, máy biến thế cho đến các loại pin dùng để tích điện. Ngay trước khi chiến sự với Iran nổ ra, các công ty Trung Quốc đã đẩy mạnh bước chân ra ngoài nước, giúp nhiều quốc gia xây những hệ thống điện mới để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng lớn, nhất là trong thời đại trí tuệ nhân tạo đang ngốn điện khắp nơi.
Chính quyền Trump đã đạt thỏa thuận với Hiệp Hội Thư Viện Hoa Kỳ và một nghiệp đoàn công nhân văn hóa, chấm dứt nỗ lực kéo dài suốt một năm nhằm giải thể Viện Bảo Tàng Và Dịch Vụ Thư Viện, tức cơ quan liên bang phụ trách cấp ngân khoản cho thư viện, viện bảo tàng và nhiều định chế văn hóa trên toàn quốc. Thỏa thuận, do Bộ Tư pháp đạt được vào tuần trước, xác nhận rằng cơ quan này sẽ tiếp tục cấp trợ khoản và duy trì các chương trình đang có tại mọi tiểu bang và lãnh thổ của Hoa Kỳ. Chính quyền Trump cũng xác nhận đã phục hồi toàn bộ những khoản trợ cấp từng bị hủy bỏ trước đó, đúng theo một phán quyết pháp lý riêng ban hành từ năm ngoái, đồng thời thu hồi các quyết định cắt giảm nhân sự và cam kết sẽ không tiến thêm bước nào để thu nhỏ cơ quan này nữa.
Theo Sonja Anderson, phóng viên thường trực của Smithsonian Magazine, viết ngày 3 tháng 4 năm 2026, một hệ thống thang cuốn ngoài trời dài gần 3.000 foot vừa được đưa vào sử dụng tại huyện Vu Sơn, Trùng Khánh, mở ra một lối đi mới lên vùng cao vốn từ lâu rất khó qua lại. Công trình này mang tên “Nữ Thần”, gồm 21 thang cuốn riêng biệt, 8 thang máy, 4 lối đi chuyển động cùng nhiều cầu bộ hành nối tiếp nhau. Toàn bộ hành trình đưa người đi lên độ cao khoảng 800 foot, tương đương một tòa nhà chừng 80 tầng. Nếu đi trọn hệ thống, hành khách mất khoảng hơn 20 phút.
Jess Reia, giáo sư phụ khảo về khoa học dữ liệu tại Đại học Virginia, viết trên The Conversation ngày 27 tháng 3 năm 2026 rằng hàng ngàn thành phố và thị trấn tại Hoa Kỳ đã âm thầm lắp đặt hệ thống máy ảnh đọc bảng số xe, và nay khi được ghép với trí tuệ nhân tạo, mạng lưới này đang làm dấy lên nhiều lo ngại về quyền riêng tư, tự do dân sự và khả năng bị nhà chức trách dùng để theo dõi dân chúng trên quy mô lớn.
Theo Ellen Wexler, phụ tá biên tập mục nhân văn, viết trên Smithsonian Magazine ngày 10 tháng 4 năm 2026, bức tranh The Parsonage Garden at Nuenen in Spring của Vincent van Gogh, từng bị đánh cắp khỏi một viện bảo tàng Hòa Lan rồi được tìm lại trong một túi Ikea cùng chiếc gối dính máu, nay đã được phục chế và đưa ra trưng bày trở lại.
Một công trình nghiên cứu dài hạn mới công bố cho thấy việc lớn lên trong cộng đồng có pha chất fluoride vào nước máy không làm giảm chỉ số I.Q. cũng không làm suy yếu chức năng não về sau. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Hoa Kỳ theo dõi mức phơi nhiễm fluoride trong nước sinh hoạt từ thời thơ ấu rồi đối chiếu với khả năng nhận thức cho đến tuổi 80.
chiều nhạc "Tháng Tư - Quê Hương và Tù Khúc" vào Thứ Bảy, 25 tháng Tư, 2026 từ 2:00 PM đến 5:00 PM tại hội-trường của Winn Financial & Management 6395 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683
Chính quyền Trump vừa cắt khoản ngân khoản 11 triệu đô-la của Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Sinh dành cho Tổ Chức Bác Ái Công Giáo thuộc Tổng giáo phận Miami, một tổ chức chuyên chăm sóc trẻ vị thành niên di dân không có cha mẹ đi cùng. Khoản tài trợ này thuộc chương trình trẻ em không nơi nương tựa của Văn phòng Tái Định Cư Người Tị Nạn, và đã chấm dứt từ ngày 31 tháng 3. Trên giấy tờ, đây là một quyết định hành chánh. Trên thực tế, đó là nhát kéo cắt vào một mạng lưới đã có mặt ở Nam Florida suốt nhiều chục năm.
Tân Dân Biểu Mejia ủng hộ chính sách chăm sóc sức khỏe toàn dân (Medicare for All), miễn học phí tại các trường đại học công lập, xóa nợ vay sinh viên, Đạo luật PRO (bảo vệ quyền tổ chức công đoàn), tăng cường vai trò của các công đoàn và mở rộng các biện pháp bảo vệ người lao động, áp dụng mức lương tối thiểu 25 đô la trên toàn quốc, cung cấp nhà ở giá cả phải chăng, bảo vệ quyền lợi của người thuê nhà
- Bộ Y Tế cắt tài trợ 11 triệu đô đối với hội từ thiện Công giáo. Có phải Trump trả thù? Tổng giáo phận Miami xin Bộ xét lại. - Đức Giám mục gốc Việt Michael M. Pham từ San Diego: Đức Giáo Hoàng đang thực thi sứ vụ hòa bình và công lý trong khi các bạo chúa gây ra chết chóc. - Trump xuống điểm: 52% cử tri Công giáo phản đối Trump, chỉ còn 48% ủng hộ.
• Đức Giáo Hoàng Leo XIV Lên Án “Một Nhúm Bạo Chúa” Lợi Dụng Tôn Giáo Cho Chiến Tranh • Hegseth Dọa Oanh Kích Hạ Tầng Iran, Hoa Kỳ Giữ Nguyên Phong Tỏa • Tổng Thống Lebanon Từ Chối Nói Chuyện Với Netanyahu, Trái Với Điều Trump Nói • Chính Quyền Trump Thúc Các Nước Ký Tuyên Bố “Mậu Dịch Thay Viện Trợ” • Zelenskyy Nhận Giải Quốc Tế Tôn Vinh Sự Can Đảm Của Ukraine • Hạ Viện Mỹ Mở Đường Cho Dự Luật Bảo Vệ Quy Chế Tạm Trú Cho Người Haiti • Số Người Chết Trong Trại Giam Di Dân Tăng, ICE Cắt Bớt Phúc Trình • Cựu Phó Thống Đốc Virginia Justin Fairfax Bắn Chết Vợ Rồi Tự Sát Giữa Lúc Ly Dị • San Jose Bị Kiện Vì Hệ Thống Gần 500 Camera Theo Dõi Xe Cộ • Pháp Thúc Hoa Kỳ Thả Cụ Bà 86 Tuổi Bị ICE Giam Giữ • Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Clarence Thomas Công Kích Chủ Trương Cấp Tiến, Gọi Đó Là Mối Họa Đối Với Hoa Kỳ • Live Nation Bị Kết Luận Độc Quyền Hóa Thị Trường Bán Vé • Chiến Sự Trung Đông Làm Thiếu Fluoride Cho Nước Uống Ở Hoa Kỳ • Trump Tin Nước Ngọt Diet Diệt Tế Bào
- Iran đã giấu dầu trên các kho nổi giữa biển, kể cả Biển Đông (ngoài khơi VN), và dùng đội tàu chở dầu "bóng tối" không dấu vết, đủ bán cho TQ trong 120 ngày - Bộ trưởng Tài chánh Anh quốc Rachel Reeves: Trump đánh Iran là sai lầm. Anh sẽ không tham chiến.
Hành vi trốn thuế của các doanh nghiệp đã gây thiệt hại cho ngân sách công 26,7 tỷ USD — một khoản tiền đủ để cung cấp bữa ăn trưa miễn phí tại trường cho mọi học sinh trong suốt một năm — qua đó làm nổi bật những vấn đề mang tính hệ thống trong bộ luật thuế doanh nghiệp hiện hành.
“Trung Quốc rất mừng vì tôi đang vĩnh viễn mở eo biển Hormuz. Tôi làm việc này cũng là cho họ — và cho thế giới. Chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra nữa. Họ đã đồng ý không gửi võ khí cho Iran. Chủ tịch Tập sẽ ôm tôi thật chặt khi tôi tới đó trong vài tuần nữa. Chúng tôi đang làm việc với nhau một cách khôn ngoan, và rất tốt! Như vậy chẳng hơn là đánh nhau sao??? NHƯNG HÃY NHỚ, nếu buộc phải đánh, chúng ta đánh rất giỏi — giỏi hơn bất cứ ai!!!” Tổng thống Donald Trump
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.