Hôm nay,  

Song ngữ: Did the Buddha preach the Dharma, or did he not preach the Dharma? / Đức Phật có thuyết pháp hay không thuyết pháp

22/12/202317:31:00(Xem: 19165)
blank

Đức Phật có thuyết pháp hay không thuyết pháp

 

Tâm Diệu

 

Trong các thuật ngữ của đạo Phật, có lẽ không có từ ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế".

 

Thật vậy, Đức Phật, vì muốn độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi nên mới nương vào thế giới Tục đế mà nói pháp, nhằm chỉ bày cho chúng sinh thấy được cái bản chất chân thật tự nhiên của Tâm vốn sẵn có, để chúng sinh, tự nỗ lực tu hành giải thoát khỏi khổ đau sinh tử, lìa khỏi thế giới Tục đế, đến thế giới Chân đế.

 

Cũng vì thế mà Ngài Long Thọ Bồ tát nói rằng: "... Các Đức Phật vì chúng sinh, y vào Nhị đế mà nói pháp, thứ nhất là Thế tục đế và thứ hai là Đệ nhất nghĩa đế. Nếu người nào không nhận thức được hai chân lý này, thì đối với Phật pháp sâu xa, không thể hiểu được chân nghĩa. Nếu không nương tựa vào tục đế, thì không thể thấy được chân lý; nếu không thấy được chân lý, thì không thể ngộ được Niết bàn..." [1]

 

Tục đế là một hợp từ: "tục" nghĩa là thế tục, thế gian hay phàm tục, "đế" nghĩa là chân lý. Tục đế có nghĩa là những cái gì mà người thế tục đồng ý với nhau, gọi là chân lý quy ước hay còn gọi là chân lý tương đối, hoặc còn gọi là chân lý thế tục hoặc thực tại tương đối. Nó là tất cả những hiện tượng do duyên khởi tức là pháp sinh diệt trong thế gian nầy.

 

Còn Chân đế, cũng là một hợp từ, có nghĩa là chân lý chân thật không hư vọng, là chân lý tuyệt đối, là chân lý tối thượng, cũng còn gọi là Đệ nhất nghĩa đế, là chân tâm, là giác tánh, là chân như...

 

Chân lý tuyệt đối là gì? Không ai biết được ngoại trừ chính chư Phật và chư Tổ đã giác ngộ. Các Ngài cũng không thể nói cho chúng ta biết được. Toàn bộ giáo điển của chư Phật là pháp phương tiện, Ngài "dùng pháp thế gian, (tức thế tục đế) để giảng nói cho chúng sinh" [2], cốt để chúng sinh ngộ được cái chân lý tuyệt đối như Ngài vì Ngài thấy Tâm Phật và Tâm chúng sinh vốn không khác, vốn tự đầy đủ mênh mông khắp không gian và thời gian.

 

Thật vậy, xuyên qua lời dạy của Phật và chư Tổ, sở dĩ có sự sai khác là vì tâm chúng sinh bị mê mờ ô nhiễm. Cái Tâm bị bao vây bởi tham sân si, bởi vọng tưởng điên đảo, bởi tham nhiễm các pháp có không. Ngài Sogyal Rinpoche, một đại sư Tây tạng, ví Tâm chúng ta bị vây kín trong một cái bình mà "khoảng không trong bình cũng giống như khoảng không bên ngoài. Khi chúng ta giác ngộ, thì cũng như cái bình vỡ tan thành mảnh vụn... Ngay lúc đó và tại chỗ đó, chúng ta trực nhận được rằng chúng chưa từng bao giờ có sự ngăn cách hay sai khác..." [3]

 

Vì tâm sinh diệt của chúng sinh luôn luôn dính mắc vào các pháp "có không" nơi thế giới hiện tượng tức thế giới tục đế, nên Đức Phật thấy thật là khó nói về cái mà Ngài đã chứng ngộ, chẳng hạn như nói về Phật tánh, chân tâm, vốn không hình tướng, không số lượng. Nếu nói chúng sinh có Phật tánh là chấp trước, nói không có Phật tánh là hư vọng, nói Phật tánh cũng có cũng không là nói trái ngược nhau, nói Phật tánh chẳng có chẳng không là hý luận. Nên Phật mới dùng các pháp thế gian phương tiện, "giả lập kệ pháp, giả lập danh tự, vốn chẳng phải Phật, nói với họ là Phật, vốn chẳng phải Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, nói với họ là Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, ... Biết họ gánh trăm tạ chẳng nổi, tạm cho họ gánh một lon, một chén, biết họ khó tin giáo liễu nghĩa, tạm nói với họ giáo bất liễu nghĩa, tạm được pháp lành lưu hành còn hơn là pháp ác..." [4].

 

Cũng chính vì chân lý tuyệt đối này rất khó hiểu, khó nhận, khó nói nên đôi khi Ngài phải dùng những thí dụ bằng lời nói, như trong Kinh Pháp Hoa, Phật dùng bảy thí dụ, trong đó có hai thí dụ là cái nhà lửa và câu chuyện đứa con cùng tử mà ai cũng biết. Ngoài ra còn nhiều kinh khác như Bách Dụ Kinh, Tạp Thí Dụ Kinh, Bồ Tát Bổn Sanh Kinh, ... Các thí dụ Ngài nói trong kinh thường dùng phương thức ngụ ngôn, hàm chứa những ý nghĩa thâm thúy, ám thị lý tuyệt đối mà chân lý tuyệt đối này không thể dùng lời trực tiếp mà giảng giải vì lời chỉ là khí cụ diễn đạt cái tư tưởng tương đối, cái có hình, có tướng trong thế giới nhị nguyên.

 

Chư Tổ chứng ngộ cũng vậy, không thể nói cho chúng ta biết được chân lý tuyệt đối là gì, mà quý Ngài chỉ dùng những câu chuyện ngụ ngôn, như câu chuyện con rùa và con cá để làm thí dụ mà thôi. Rằng con rùa từ dưới nước bò lên mặt đất, đi một vòng rồi trở về nước, bơi cạnh con cá, kể chuyện đất liền cho nó nghe. Nhưng con cá, vì chưa bao giờ rời khỏi nước, không thể tưởng tượng nổi lại có một môi trường có thể sống được mà không có nước, không bơi lội. Cho nên con rùa đành chịu mang tiếng là nói chuyện viển vông hoang đường, không có trong thực tế. [5]

 

Cảnh giới tuyệt đối, chân tâm, giác tánh, chân như, mà Phật đã giác ngộ không thể nói cho người chưa chứng ngộ biết được. Vì lẽ đó mà người đời đôi khi cũng phê bình: "Đạo Phật cao siêu quá, không có trong thực tế". Nhưng chính đó mới là cốt tủy của Phật Giáo.

 

Kinh Kim Cang là kinh liễu nghĩa, nói về cốt tủy của đạo Phật, về chân lý tuyệt đối, cho nên không có pháp gì để nói. Những lời Phật dạy trong kinh chỉ giúp chúng sinh phá bỏ những hiểu biết tương đối, phá bỏ những kiến chấp sai lầm cố hữu, những vướng mắc lâu đời vốn là nhân kiên cố của vòng xích luân hồi, đã lôi kéo chúng sinh vào vòng trầm luân muôn vạn kiếp. Ngài phá bỏ không còn một kiến chấp nào và Ngài cũng tuyên bố luôn là Ngài không thuyết pháp:

 

"- Tu Bồ Đề! Ông chớ cho Như Lai có nghĩ rằng: "Ta có nói pháp". Ông chớ nghĩ như vậy. Bởi vì sao?

- Vì nếu người nào nói rằng: Như Lai có nói pháp, tức là chê Phật, không hiểu được lời của ta nói.

- Tu Bồ Đề! Nói pháp, là không có pháp gì nói được, ấy gọi là nói pháp." (6)

 

Có nghĩa là Phật không nói về cái chân lý tuyệt đối, về cái chân tâm, Phật tánh, Chân Như, vì chân lý tuyệt đối vốn chẳng thể dùng ngôn ngữ tương đối thế tục để biểu thị. Ngài chỉ dùng ngôn ngữ thế gian tức chân lý thế tục để chỉ bảo chúng sinh, mà ngôn ngữ thế tục, là pháp tương đối thì không có tự tánh, chỉ do nhân duyên hòa hợp, và do nhân duyên hòa hợp nên không có thật.

 

Đức Phật khi giảng pháp, Ngài luôn luôn nói sự thật. Có khi Ngài nói về sự thật tương đối và có khi Ngài nói về sự thật tuyệt đốị Nếu không hiểu điều đó, chúng ta thấy nhiều điều Ngài nói trái ngược nhau và sẽ làm cho chúng ta bối rối, hiểu mập mờ, hỗn độn (confuse). Thí dụ như trong kinh Đại Bát Niết Bàn đức Phật nói:

 

Chư hành vô thường,

Thị sinh diệt pháp.

Sinh diệt diệt dĩ,

Tịch diệt vi lạc.

 

Tạm dịch là:

 

Các hành vô thường

Là pháp sinh diệt

Sinh diệt hết rồi

Tịch diệt là vui.

 

Hai câu đầu có nghĩa là tất cả các pháp trong thế giới hiện tượng đều vô thường, chúng đều là những pháp sinh diệt. Hai câu sau có nghĩa là khi sinh và diệt không còn sinh diệt nữa thì còn là niềm an lạc. Trong thế giới này, tức thế giới tương đối có sinh và có diệt, còn thế giới kia tức thế giới tuyệt đối thì không sinh không diệt. Nếu chúng ta không hiểu rõ tục đế và chân đế thì cho rằng đức Phật nói trái ngược nhau. Sự thật Ngài luôn luôn nói đúng sự thật. Hai câu đầu là tục đế tức thuộc thế giới hiện tượng tương đối, có sanh và có tử. Hai câu sau thuộc lãnh vực tuyệt đối tức chân đế, không có sinh và không có diệt, là thế giới của pháp tánh hay thế giới của bản thể.

 

Đến đây, chúng ta trở lại bài kệ của Bồ Tát Long Thọ đã nêu trên phần mở đầu. Bồ Tát dạy chúng ta rằng nếu chúng ta không phân biệt được chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối, tức thế tục đế và chân đế, thì chúng ta không thể hiểu được đạo Phật. Do sự không hiểu và không phân biệt rõ này, chúng ta lại nhập nhằng đem lời Đức Phật nói "Không thể nói pháp Tuyệt Đối", mà cho là Đức Phật nói "Không nói pháp Tương Đối" là chúng ta vô tình vướng mắc vào sự hủy báng kinh, chứa đựng những lời tâm huyết của Đức Phật. Ngài đã dùng ngôn ngữ và chân lý thế tục để dạy người thế tục biết cách mà tiến dần trên con đường từ bỏ thế tục, trở về bản thể tuyệt đối. Nếu chúng ta không hiểu được điều đó, mà tưởng rằng Đức Phật không nói pháp, thì chúng ta sẽ mất niềm tin nơi kinh, sẽ mất cơ hội có bản đồ chính xác để tìm đường trở lại bản thể chân tâm tuyệt đối.

 

 ----

 

Ghi Chú

 

 

 

(1).Thích Tâm Thiện, Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh Không, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh 1999.

 

(2). Kinh Đại Bát Nhã, Cuốn 2, Trang 275

 

(3). Sogyal Rinpoche -Thích Nữ Trí Hải dịch, Tinh Chất Cam Lồ, , TP HCM Việt Nam 1969

 

(4). Bá Trượng Ngữ Lục, Thích Duy Lực, Từ ân Thiền Đường xuất bản, 1999 trang 29-30

 

(5). Narada Maha Thera, Đức Phật và Phật Pháp, Phạm Kim Khánh Việt dịch, Đại Nam xuất bản 1987, trang 458-459

 

(6). Thích Huệ Hưng dịch, Kinh Kim Cang Giảng Lục, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản 1983, trang 82.

 

 

(Trích từ sách Phật Pháp Trong Đời Sống, Nhà xuất bản Hồng Đức 2014)

 

Nguồn:

https://thuvienhoasen.org/p22a21709/15-duc-phat-co-thuyet-phap-hay-khong-thuyet-phap

 

.... o ....

 

Did the Buddha preach the Dharma, or did he not preach the Dharma?

 

Author: Tâm Diệu

Translated by Nguyên Giác

 

 To comprehend the profound teachings of Buddhism, students of Buddhism must understand and clearly distinguish between the two terms "Ultimate Truth" and "Conventional Truth."

  

The Buddha relied on worldly truth to speak Dharma in order to save sentient beings from the cycle of birth and death. His aim was to reveal the true nature of the existing mind to sentient beings, so that they could make their own efforts to practice and liberate themselves from the suffering of birth and death. This would enable them to leave the world of conventional truths and reach the world of ultimate truth.

 

That's why Nagarjuna Bodhisattva said, "For the sake of sentient beings, the Buddhas speak the Dharma based on the Two Truths: the first is the conventional truth, and the second is the ultimate truth. Anyone who is unaware of these two truths cannot understand the profound meaning of the Dharma. If one does not rely on conventional truths, one cannot see the truth; if one cannot see the truth, one cannot realize Nirvana."

 

The conventional truth, also known as secular truth, is a compound word: "secular" refers to worldly, and "truth" denotes truth. Conventional truth refers to the consensus among secular individuals, also known as relative truth or secular reality. All phenomena arise due to conditions, known as dharmas, and they arise and pass away in this world.

 

As for the ultimate truth, it is a compound word signifying genuine truth, not falsehood. It represents the absolute truth, the supreme truth, the truth of highest significance, the true mind, the nature of awareness, or suchness.

 

What is the absolute truth? No one knows, except the enlightened Buddhas and Patriarchs. They also cannot inform us. The entire teachings of the Buddhas are expedient methods. The Buddha utilized worldly dharma, the conventional truth, to teach living beings so that they could comprehend the absolute truth, just as he did, perceiving no distinction between the mind of Buddha and the mind of any worldly being. The same mind is inherently self-sufficient and vast across space and time.

 

Indeed, the teachings of the Buddha and the Patriarchs are often misinterpreted due to the confusion and pollution of the reader's mind. When the mind is consumed by greed, anger, and ignorance, as well as contradictory delusions, and by clinging to attachments of existence or non-existence, that is the moment of turmoil. Sogyal Rinpoche, a renowned Tibetan master, compares our mind to being enclosed in a vase, stating that "the space inside the vase is the same as the space outside. When the practitioner achieves enlightenment, it is akin to seeing a vase shattered into pieces. Right then and there, the practitioner directly perceives that space has never had any separation or difference."

 

Because the minds of sentient beings are constantly arising and passing away, always attached to the existence or non-existence of the phenomenal world (i.e., the worldly truth), the Buddha found it difficult to articulate the Dharma that he realized, such as Buddha nature or the true mind, which has no form or quantity. If we assert that sentient beings possess Buddha nature, we embrace the mistaken concept of existence. If we deny the existence of Buddha nature, we are holding onto an illusion. If we assert that Buddha nature both exists and does not exist, it leads to a contradiction. If we assert that Buddha nature is neither existent nor nonexistent, it becomes nonsensical. That's why Buddha used the concept of worldly dharma, which refers to half-truths in verses, names, and words. Where there was no Buddha, he still claimed that there was a Buddha. Similarly, even in the absence of Bodhi, Nirvana, or liberation, the Buddha still informed the audience that it was Bodhi, Nirvana, or liberation. Understanding that the listeners were unable to carry a load of hundreds of kilograms, the Buddha temporarily allowed them to carry either one vase or one cup. The Buddha understood that his listeners struggled to believe in teachings with ultimate meanings. Therefore, he temporarily shared teachings that did not have ultimate meanings, allowing beneficial worldly teachings to circulate temporarily, rather than allowing harmful beliefs to arise.

 

Because this absolute truth is very difficult to understand, live with, and interpret, the Buddha sometimes had to use similes. As in the Lotus Sutra, Buddha used seven examples, two of which are well-known: the house on fire and the story of the wandering son. There are also numerous other sutras, including the Sutra of One Hundred Similes (Bách Dụ Kinh), the Sutra of Multiple Similes (Tạp Thí Dụ Kinh), the Jataka Tales (Bồ Tát Bổn Sanh Kinh), and more. In numerous sutras, the Buddha employed metaphors with profound meanings to illustrate the absolute truth, which cannot be directly conveyed in words because words can only express worldly ideas that have shape and form in the realm of duality.

 

Similarly, the Enlightened Patriarchs are unable to provide us with the absolute truth; instead, they rely on parables, such as the story of the turtle and the fish, to illustrate their points. The turtle emerged from the water, moved around on land, and then returned to the water. It swam alongside the fish and shared stories about the land. The fish, having never left the water, cannot imagine an environment where it can survive without water and without swimming. Consequently, the turtle had to bear the reputation of speaking about wild nonsense that had no basis in reality.

 

The absolute realm to which the Buddha was enlightened—such as the true mind, nature of awareness, and suchness—cannot be explained to ignorant people. For that reason, people sometimes criticize Buddhism as being too sublime, too abstract, and disconnected from reality. But that is the essence of Buddhism.

 

The Diamond Sutra is one of the most profound sutras, delving into the essence of Buddhism and the absolute truth, asserting that there is truly no dharma to speak of. The Buddha's teachings in this sutra assist sentient beings in overcoming their relative understandings, inherent wrong views, and long-standing entanglements that are significant causes of the cycle of reincarnation. These factors have led sentient beings into an almost eternal cycle of birth and death.

 

The Buddha rejected all attachment to views and stated that he never claimed to preach the Dharma. The Diamond Sutra states: "Subhuti! Do not let the Tathagata think that the Buddha taught the Dharma. Please do not think like that. Why? If anyone claims that the Tathagata spoke the Dharma, it implies that this person is criticizing the Buddha and does not understand my teachings. Subhuti! To speak the Dharma is to say that there is no Dharma to say; that is called speaking the Dharma."

 

Buddha does not discuss the absolute truth, the true mind, Buddha nature, or True Suchness, as these concepts cannot be expressed in the relative language of the world. He only employs mundane language, or the secular truth, to guide sentient beings. However, mundane language, which is conditioned dharma, is inherently empty. It appears through the combination of causes and conditions and therefore cannot indicate the unconditioned truth.

 

When preaching the Dharma, the Buddha always spoke the truth. Sometimes the Buddha discussed conventional truth, and at other times, he discussed absolute truth. If we fail to comprehend this, we may perceive many of the Buddha's teachings as contradictory, leading to misunderstanding or confusion.

 

For example, in the Mahaparinirvana Sutra, the Buddha said,

 

"All formations are impermanent;

they are the phenomena of birth and death.

When birth and death come to an end,

cessation is bliss."

 

The first two lines indicate that all phenomena in the secular world are impermanent; they are all subject to birth and death. The last two lines imply that once birth and death cease to exist, what will remain is blissful peace. This world is a realm of relative birth and death. As for the world on the other shore, the absolute world, there will be no birth and no death. If we do not have a clear understanding of the conventional truth and the ultimate truth, we may mistakenly believe that the Buddha made contradictory statements. In fact, Buddha always spoke the truth. The first two lines express the conventional truth, which pertains to the realm of relative phenomena, where birth and death occur. The last two lines pertain to the absolute realm, which represents the ultimate truth. In this realm, there is no birth or death; it is the world of dharma nature, or the world of inherent essence.

 

At this point, we return to the verse of Bodhisattva Nagarjuna mentioned in the opening of this article. Bodhisattva teaches us that if we cannot distinguish between relative truth and absolute truth, that is, worldly truth and ultimate truth, then we cannot fully comprehend Buddhism. Due to this lack of understanding and lack of distinction, we ambiguously interpret the Buddha's words to mean that the Absolute Dharma cannot be conveyed, and mistakenly believe that the Buddha did not speak about the Relative Dharma. This unintentionally leads to slandering the sutras, which contain the essential words of the Buddha. He employed everyday language and conventional truths to instruct ordinary people on how to gradually advance on the path of renouncing the phenomenal world in order to reconnect with their essential nature. If we fail to comprehend this and believe that the Buddha did not teach the Dharma, we may lose faith in the sutras and miss the chance to possess an accurate guide to rediscover the true nature of the absolute mind.

 

(Excerpted from the book Live The Buddhist Teachings, Hồng Đức Publishing House, 2014)

 

.... o ....




• Trump Tiếp Tục Đùa Cợt Về Chúa Giêsu, Chỉ Trích Giáo Hoàng Leo Và NATO • DoorDash Bị Tẩy Chay Sau Vở Kịch Giao McDonlad’s Đến Tòa Bạch Ốc • Trump Đe Dọa Sa Thải Chủ Tịch Fed Nếu Không Từ Nhiệm • Phớt Lờ Trump, Công Đoàn Bưu Chính Phát Động Chiến Dịch Bỏ Phiếu Qua Thư • Hàn Quốc Kết Án YouTuber Người Mỹ 6 Tháng Tù Vì Hành Vi Phản Cảm • Trump Tuyên Bố Trung Quốc Đã Đồng Ý Không Cung Cấp Vũ Khí Cho Iran • Thêm Một Phụ Nữ Tố Bị Cựu Dân Biểu Swalwell Cưỡng Hiếp • Iran Dọa Phong Tỏa Toàn Bộ Xuất Nhập Cảng Tại Vịnh Ba Tư • Cuộc Tình 76 Năm Của Một Phụ Nữ Pháp ‘Kết Thúc’ Ở ICE
- Dân Mỹ thê thảm: giá xăng tăng vọt, tiền lạm phát, chỉ số Tâm lý Người tiêu dùng CSI thấp nhất lịch sử. - Iran lộ độc chiêu: sẽ phong tỏa cuộc phong tỏa của Hải quân Mỹ, dự định chiếm chốt kiểm soát dầu mỏ dài 18 dặm trên lãnh thổ Saudi Arabia.
• JD Vance: Trump Chỉ Đùa Giỡn Khi Đăng Hình AI Ví Mình là Giêsu • Trung Quốc Chỉ Trích Mỹ Phong Tỏa Hormuz là ‘Nguy Hiểm Và Vô Trách Nhiệm’ • Ngoại Trưởng Marco Rubio Chủ Trì Cuộc Gặp Giữa Đại Sứ Israel Và Lebanon • Hezbollah Tuyên Bố Không Tuân Thủ Bất Kỳ Thỏa Thuận Nào Từ Cuộc Đàm Phán Giữa Israel Và Lebanon Tại Mỹ • Các Tàu Có Liên Hệ Với Iran Vẫn Đi Qua Eo Biển Hormuz, Bất Chấp Lệnh Phong Tỏa Của Trump • Dân Biểu Cộng Hòa Texas Tuyên Bố Rời Quốc Hội Khi Bị Điều Tra Vụ Bê Bối Tình Cảm Với Cấp Dưới • Minnesota Điều Tra Vụ ICE Bắt Người Đàn Ông Gốc Hmong • Siêu Bão Sinlaku Đang Tiến Vào Thái Bình Dương • Các Hãng Xe Lớn Báo Động Trước Đà Vượt Lên Của Trung Quốc • Người Việt Nam Thuộc Nhóm Chi Tiêu Lạc Quan Nhất Châu Á
Thi sĩ Huyền Không, bút danh khi làm thơ của cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác (1929-2006), trọn đời là một kẻ lữ hành. Thầy đã đi qua nhiều khu vực địa lý -- ra đời và xuất gia tại Huế, làm giảng sư ở nhiều tỉnh Miền Trung, du học ở Nhật trước khi về dạy ở nhiều đại học tại Việt Nam, rời nước và định cư ở Hoa Kỳ để rồi đi hoằng pháp ở nhiều nơi trên thế giới. Một cách lặng lẽ, Thầy cũng là người lữ hành của giấy mực, nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực của thi ca, dịch thuật và nghiên cứu.
- TGM Paul S. Coakley, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ lên tiếng: tôi rất buồn khi Trump viết lời miệt thị Đức Giáo Hoàng, vị đại diện của Chúa Kitô - Giám mục Robert Barron, nổi tiếng là Giám mục ủng hộ MAGA từng tham dự sự kiện so sánh Trump với Chúa Jesus, yêu cầu Trump xin lỗi Đức Giáo hoàng - Trump: Không có lý do gì để tôi đưa ra lời xin lỗi đối với Giáo hoàng Leo XIV, nhưng Trump xóa hình Trump mặc trang phục giả làm Chúa - Đức Giáo hoàng Leo: Biển cả phải là những ốc đảo hòa bình (ám chỉ eo biển Hormuz) - Thủ Tướng Tây Ban Nha mắng: Trump hỗn với Giáo hoàng - Thủ Tướng Ý mắng: Trump xúc phạm cả Đức Giáo Hoàng và Giáo hội. - Thẩm phán quăng bỏ vụ Trump kiện báo Wall Street Journal đòi 10 tỷ USD vì đăng thư Trump mừng sinh nhật Epstein có chữ ký Trump nơi chỗ nhạy cảm phụ nữ. - Trung Quốc chuẩn bị chuyển giao Iran các dàn phòng không mới. - Dân Biểu Dân Chủ Swalwell tuyên bố từ chức khỏi Quốc hội vì xúc phạm phụ nữ
Khi gặp báo giới tại Phòng Bầu Dục hôm nay, Trump chối rằng ông tưởng đó là hình mình “như một bác sĩ,” chữa bệnh và còn bảo bức hình “có liên quan tới Hội Hồng Thập Tự.”
New Jersey: Nếu bạn là cử tri địa hạt 11, ngay hôm nay bạn hãy đi bỏ phiếu sớm cho bầu cử đặc biệt ghế Dân Biểu liên bang, và hãy bầu cho bà Analilia Mejia (Đảng Dân Chủ) người có lập trường y tế toàn dân, miễn học phí đại học công lập, xóa nợ vay sinh viên, và bà từng lên án Israel có tội diệt chủng ở Gaza.
Lời Người Dịch: Bài này dịch theo bản tin có tựa đề "Millions Found Comfort in a Buddhist Monk. But He Was Never Real. What many failed to notice, is that he isn’t actually real" (Hàng triệu người tìm thấy sự an ủi nơi một vị sư Phật giáo. Nhưng vị sư này chưa bao giờ là người thật. Điều mà nhiều người đã không nhận ra, chính là sự kiện vị sư đó không hề có thật) trên trang báo The Good Men Project, đăng lại từ bài viết của Hikari Mae Hida trên thông tấn Columbia News Service
Thủ tướng Hungary Viktor Orbán, người tự nhận là người đi đầu trong mô hình "dân chủ phi tự do" và là một trong những nhà lãnh đạo cực hữu nổi bật nhất thế giới, đã thừa nhận thất bại trong một cuộc bầu cử với kết quả áp đảo, chấm dứt 16 năm nắm quyền của ông. Tờ New York Times (NY) gọi Viktor Orban là “một ngôi sao dẫn đường đối với các chiến binh văn hóa thuộc phong trào MAGA cũng như những người theo chủ nghĩa dân túy cánh hữu tại châu Âu.” Orbán đã chấp nhận thua Péter Magyar, vốn là một cựu nhân vật trung thành của Orbán, nay là lãnh đạo đảng đối lập Tisza và sẽ là tân thủ tướng Hungary ngay khi Quốc Hội mới đắc cử nhóm họp. Với hơn 80% số phiếu đã được kiểm đếm, đảng Tisza chiếm khoảng 53,7% phiếu bầu theo danh sách đảng và 138 trong tổng số 199 ghế trong Quốc Hội. Liên minh Fidesz-KDNP của Orbán tụt xuống còn 37,7% và chỉ còn 55 ghế. Tỷ lệ cử tri đi bầu đạt kỷ lục 79,5%, cao nhất trong kỷ nguyên hậu cộng sản của Hungary...
Cuộc thương thuyết trực tiếp giữa Hoa Kỳ và Iran tại Islamabad đã chấm dứt sau hơn 21 giờ mà không đi tới thỏa hiệp nào, khiến lệnh ngưng bắn hai tuần trở nên mong manh hơn và đẩy tình hình tại eo biển Hormuz trở lại chỗ căng thẳng cũ, theo tạp chí TIME. Rời Pakistan sáng Chủ nhật, Phó Tổng thống J.D. Vance, trưởng phái đoàn Hoa Kỳ, nói Iran đã “chọn không chấp nhận các điều kiện của chúng tôi.”
• Phi Thuyền Artemis II Đáp Xuống Thái Bình Dương, Khép Lại Chuyến Bay Lịch Sử Quanh Mặt Trăng • Mỹ Và Iran Tiếp Tục Đàm Phán Ở Islamabad, Lệnh Ngưng Chiến Vẫn Mong Manh • Tình Báo Hoa Kỳ Nói Trung Cộng Chuẩn Bị Chuyển Khí Giới Sang Iran • Kim Jong Un Công Khai Ủng Hộ Bắc Kinh, Kêu Gọi Siết Chặt Quan Hệ Hai Nước • Trump Đem Ảnh Hưởng Ra Hải Ngoại Để Chống Lưng Cho Orbán Trong Cuộc Bầu Cử Hungary • Đảng Dân Chủ Đồng Loạt Rút Ủng Hộ Eric Swalwell, Gây Chấn Động Cuộc Đua Thống Đốc California • Chính Quyền Trump Công Bố Thiết Kế Cổng Vòm 250 Feet Gây Tranh Cãi Ở Washington • Pháp Giải Cứu Bé Trai 9 Tuổi Bị Nhốt Trong
Phật Giáo Tây Tạng nói rằng có nhiều trường hợp tái sinh như nguyện, và chuyện đó xảy ra rất bình thường. Nghĩa là, vị tôn giả đó không bị nghiệp lôi kéo, mà chính vị đó có thể chủ động được ý nguyện tái sinh để tiếp tục học pháp hay hoằng pháp. Thí dụ, ngài Đạt Lai Lạt Ma, hay một số vị tăng trưởng và ni trưởng đã có năng lực tâm mạnh như thế. Và khi có một vị tôn túc Phật Giáo Tây Tạng được nói là tái sinh tới hoẳng pháp tại Việt Nam, câu chuyện này lại sôi nổi dư luận. Câu hỏi chúng ta nêu ra trong bài này là: Trong các kinh sơ kỳ -- trong các tạng Kinh Nikaya và Kinh A Hàm -- đã nói như thế nào về các trường hợp tái sinh như nguyện?
• Chiến Sự Iran Đẩy Lạm Phát Mỹ Tăng Vọt, Giá Xăng Và Vé Máy Bay Cùng Leo Thang • Eo Biển Hormuz Vẫn Tê Liệt, Giao Tranh Ở Lebanon Làm Rung Chuyển Thỏa Thuận Ngưng Bắn Mỹ-Iran • Netanyahu Mở Thương Thuyết Trực Tiếp Với Lebanon Sau Sức Ép Từ Hoa Kỳ • Trump Tấn Công Các Cựu Đồng Minh MAGA Giữa Tranh Cãi Về Iran • Bưu Điện Hoa Kỳ Đình Chỉ Góp Quỹ Hưu Bổng, Xin Tăng Giá Tem 4 Xu • Bạch Ốc Bị Tòa Phán Vi Phạm Lệnh Tòa Về Quyền Tác Nghiệp Báo Chí • Nạn Nhân Epstein Chất Vấn Động Cơ Của Melania Trump • Melania Trump Có Mức Tín Nhiệm Thấp Nhất Trong Lịch Sử Các Đệ Nhất Phu Nhân • Thông Điệp Phục Sinh Của Bộ Trưởng Nông Nghiệp Gây Phản Ứng Trong Nội Bộ • 99,9% Người Tị Nạn Vào Mỹ Đến Từ Một Quốc Gia • Người Mỹ Lớn Tuổi Đi Làm Ngày Càng Ít • Tập Cận Bình Gặp Lãnh Đạo Đối Lập Đài Loan Trước Thượng Đỉnh Với Trump • Putin Và Zelenskyy Đồng Ý Ngưng Bắn 32 Giờ Dịp Phục Sinh Chính Thống
25 ngôi sao của Hiệp Hội Golf Chuyên Nghiệp Nữ (LPGA), các nghệ sĩ nổi tiếng từ màn ảnh nhỏ và màn ảnh rộng, cùng nhiều tay golf xuất sắc sẽ hội tụ tại Pechanga Resort Casino nhân Giải Đấu Golf Pechanga Pro-Am 2026 vào thứ Ba, ngày 07 tháng 4 năm 2026. Giải đấu là dịp để các tay golf chuyên nghiệp hàng đầu cùng nhau thư giãn giữa lịch thi đấu dày đặc, tận hưởng những vòng golf vui vẻ và không áp lực, đồng thời giới thiệu sân golf vô địch từng đoạt nhiều giải thưởng — Journey at Pechanga. Năm nay, sáu nghệ sĩ nổi tiếng sẽ cùng các tay golf chuyên nghiệp ra sân, góp phần tạo nên bầu không khí tranh tài sôi động và đầy hứng khởi.
Theo John Broich, giáo sư sử học tại Case Western Reserve University, viết trên The Conversation ngày 7 tháng 4, 2026, chính sách tị nạn của chính quyền Trump dành cho người Afrikaner Nam Phi không phải là một quyết định riêng lẻ, mà là phần nối dài của một dòng lịch sử đã có hơn một thế kỷ: dùng luật di trú để giữ các quốc gia nói tiếng Anh trong quỹ đạo của người da trắng. Có những chính sách không cần hô hoán, người ta vẫn nhìn ra cái lõi của nó. Trong trường hợp này, điều hiện ra khá rõ: màu da đang được đối xử như một thứ giấy thông hành. Cuối năm 2025, chính quyền Trump hạ mức trần nhận người tị nạn cho niên khóa 2026 xuống còn 7.500 người, thấp hơn rất xa mức 125.000 của năm 2024 dưới thời Biden.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.