Hôm nay,  

Tỉnh tỉnh, lặng lặng

04/08/202407:31:00(Xem: 3679)
blank 

Tỉnh tỉnh, lặng lặng
 

Nguyên Giác

  

Thỉnh thoảng chúng ta nghe rằng bạn này tu theo Thiền Chỉ, và rồi nghe rằng bạn kia tu theo Thiền Quán. Và rồi có bạn nói như dường hai pháp này dị biệt nhau, khi bạn này nói rằng Thiền Chỉ là cách vào Tứ Thiền, trong khi Thiền Quán là theo Tứ Niệm Xứ. Bất chợt, có bạn chợt nhớ lời khuyên quân bình từ Trần Thánh Tông rằng “Dụng của chân tâm, tỉnh tỉnh lặng lặng” và từ Vĩnh Gia Huyền Giác rằng “Tỉnh tỉnh lặng lặng phải…” Bài này sẽ ghi lời Đức Phật dạy rằng quân bình là ưu thắng nhất.
 

Trong Kinh AN 10.54, Đức Phật dạy rằng có nhiều căn cơ khác nhau, sẽ có những vị đạt được tịnh chỉ nội tâm trước, thì nên tăng thượng tuệ pháp quán nếu thấy còn thiếu sót, và ngược lại. Hai cửa này cần bổ túc cho nhau. Bản dịch Thầy Minh Châu nói về ý này trong Kinh AN 10.54 như sau:
 

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được nội tâm tịnh chỉ, nhưng ta không được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú nội tâm tịnh chỉ, cần phải nỗ lực để đạt cho được tăng thượng tuệ pháp quán ấy; sau một thời gian, đạt được nội tâm tịnh chỉ và được tăng thượng tuệ pháp quán.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được tăng thượng tuệ pháp quán, nhưng không có được nội tâm tịnh chỉ”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú tăng thượng tuệ pháp quán, cần phải nỗ lực để đạt cho được nội tâm tịnh chỉ. Vị ấy sau một thời gian, đạt được tăng thượng tuệ pháp quán và chứng được nội tâm tịnh chỉ.” (1)
 

Trong Kinh Pháp Cú, tinh thần định huệ quân bình được ghi qua bài kệ 372 như sau:
 

372. "Không trí tuệ, không thiền,

Không thiền, không trí tuệ.

Người có thiền có tuệ,

Nhất định gần Niết-Bàn." (Bản dịch Thầy Minh Châu)
 

Các danh từ Hán Việt thường khi có nghĩa mơ hồ, dễ gây nhầm lẫn đối với người không quen đọc. Bởi vì chữ “thiền” trong bài kệ trên có thể làm độc giả liên tưởng tới chữ thiền trong các chữ “Thiền Tông” hay Thiền sư,” trong khi các bản tiếng Anh nói rằng chữ đó là “định” trong nghĩa tịnh chỉ (Ngài Sujato dịch là “absorption” và Ngài Ānandajoti dịch là “concentration.”)
 

Ngài Sujato dịch là: “No absorption for one without wisdom, no wisdom for one without absorption. But one with absorption and wisdom— they have truly drawn near to extinguishment.” (Dịch: Không thể có định đối với người nào không có tuệ, không thể có tuệ đối với người nào không có định. Nhưng vị nào có cả định và tuệ -- họ mới thực sự tới gần giải thoát.)
 

Bản dịch của Ngài Ānandajoti nhấn mạnh hơn, rằng không phải gần giải thoát, mà lúc đó là hiển lộ Niết Bàn rồi: “There is no concentration for one without wisdom, there is no wisdom for one without concentration, the one who has both concentration and wisdom is indeed in the presence of Nibbāna.” (Không có định đối với người nào không có tuệ, không có tuệ đối với người nào không có định. Người nào có cả định và tuệ thì thực sự đã trong hiển lộ của Niết Bàn.)
 

Trong nhiều kinh, Đức Phật dạy rằng phải dựa vào ngũ căn (tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn) để giải thoát. Nghĩa là, phải tin chắc thật vào Như Lai và tin Bát Chánh Đạo là con đường giải thoát. Tấn căn là giữ giới và hành trì nghiêm túc, "sống tinh cần, tinh tấn đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, với nỗ lực kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng các thiện pháp"... Niệm căn là chánh niệm, tức là “mindfulness” và định căn là tịnh chỉ (Thanissaro dịch là "concentration" và Sujato dịch là "immersion."). Theo nghĩa này, Thiền Quán là Niệm căn, và Thiền Chỉ là Định căn, cần phải bước tới Tuệ căn để giải thoát.
 

Trong Kinh SN 48.9, Đức Phật dạy về cách hướng niệm và định để tới tuệ giải thoát, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử chánh niệm, thành tựu niệm tuệ, tối thắng (satinepakkena), ức niệm, tùy niệm các việc làm từ lâu, các lời nói từ lâu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là định căn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt các pháp, trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.” (2)
 

Thực ra, các chữ  gốc Hán Việt đều khó hiểu. Trong khi, nếu chúng ta thay chữ định bằng “lặng lặng” và quán bằng “tỉnh tỉnh” thì dễ hiểu vô cùng. Nhưng khi gặp chữ khó hiểu, đối chiếu sang các kinh tiếng Anh thì sẽ không nhầm lần. Bất kể là tu pháp nào, dù là vào bằng cửa tỉnh tỉnh, hay vào bằng cửa lặng lặng, hay là cửa quân bình, ly dục  là điều cần thiết. Do vậy, Phật tử tại gia đang có gia đình, cũng phải sống như người độc thân, mới có thể vào được sơ Thiền.
 

Trong Kinh AN 4.162, Đức Phật dạy rằng muốn năm căn mạnh, thì phải ly dục, theo bản dịch Thầy Minh Châu:
 

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người bản tánh tham dục không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do tham dục sanh; bản tánh sân không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do sân sanh; bản tánh si không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do si sanh. Với người ấy, năm căn này hiện ra rất dồi dào, tức là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Do năm căn này dồi dào, người ấy đạt được Vô gián định một cách nhanh chóng để đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành lạc, thắng trí nhanh.” (3)
 

Khi tu tập định căn, tức là Thiền Chỉ. Khi tu niệm căn, tức là Thiền Quán. Khi chỉ và quán quân bình, sẽ dễ dàng đắc tuệ giải thoát, tức là kinh nghiệm thực chứng được các pháp ấn vô thường, vô ngã.
 

Đối với người đắc sơ Thiền, từ đây hướng tâm về các pháp quán như lời Đức Phật dạy, thì sẽ giải thoát. Trên mạng Thư Viện Hoa Sen đã có nhiều bài hướng dẫn về cách vào sơ Thiền. Nơi đây xin ghi lời Đức Phật dạy trong Kinh AN 6.73 về điều kiện để đạt được và an trú sơ Thiền, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu? Dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi, không như thật khéo thấy với chánh trí tuệ các nguy hại trong các dục. Đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền.” (4)
 

Đức Phật dạy rằng, từ sơ Thiền, tùy quán theo Kinh AN 9.36 thì sẽ giải thoát, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: “Y chỉ vào sơ Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận”, như vậy được nói đến. Do duyên gì, được nói đến như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục… chứng và trú sơ Thiền. Vị ấy, ở đây đối với cái gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, các pháp ấy, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là mụt nhọt, là mũi tên, là va chạm, là tật bệnh, là khách lạ, là biến hoại, là trống không, là vô ngã. Vị ấy tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, sau khi tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, vị ấy hướng dẫn đến giới bất tử: “Đây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Vị ấy trú ở đây, đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, nếu không diệt tận các lậu hoặc, với pháp ái ấy, với pháp hỷ ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, tại đấy chứng được Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa.” (5)
 

Tới đây, câu hỏi thường gặp rằng thế nào là “chánh niệm, tỉnh giác” hiểu theo lời Đức Phật dạy? Trong Kinh SN 47.2, Đức Phật dạy rằng lìa tham và ưu để quán sát chính là chánh niệm, và thường trực giữ chánh niệm trong các tư thế gọi là tỉnh giác. Kin h này theo bản dịch của Thầy Minh Châu viết:


 

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời … quán thọ trên các thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác; khi nhìn tới, khi nhìn lui, đều tỉnh giác; khi co cánh tay, duỗi cánh tay, đều tỉnh giác; khi đắp y Tăng-già-lê, khi mang y bát, đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai nếm, đều tỉnh giác; khi đi tiểu tiện, đại tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.” (6)
 

Trong khi quán sát như lời dạy trong Tứ Niệm Xứ, sẽ thấy bất kỳ cửa nào cũng có thể giải thoát, dù là quán thân, hay quán thọ, hay quán tâm, hay quán pháp. Không nhất thiết là phải tuần tự quán sát trọn vẹn cả bốn niệm xứ. Trong Kinh SN 47.37, Đức Phật dạy như sau, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán thân trên thân, ước muốn đối với thân được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.

Vị ấy trú, quán thọ trên các cảm thọ … Do vị ấy trú, quán thọ trên các cảm thọ, ước muốn đối với thọ được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.

Vị ấy trú, quán tâm trên tâm … Do vị ấy trú, quán tâm trên tâm, ước muốn đối với tâm được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.

Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp … Do vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, ước muốn đối với các pháp được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.” (7)
 

Kinh vừa dẫn nói rằng quán thân, thọ, tâm, pháp phải đoạn diệt được “ước muốn” thì mới giải thoát. Tại sao phải đoạn diệt “ước muốn” và điều đó có ý nghĩa gì? Đơn giản, khi còn “ước muốn” là còn thấy có cái “tôi” và cần “cái của tôi” – nghĩa là, khi “ước muốn được đoạn diệt” nghĩa là hoàn toàn không còn chút gì cái “tôi” hay “cái của tôi” và đó là giải thoát. Đó là Thiền Quán theo lời Phật dạy. Nơi đây, chúng ta không bàn vế các pháp Thiền Chỉ và Thiền Quán trong các luận thư đời sau.
 

Có một Kinh, cho thấy có tương thông giữa tỉnh tỉnh và lặng lặng. Từ quán sát thân tâm vô thường, dẫn tới ly tham, khi “hỷ và tham đoạn tận” thì là giải thoát. Nói đoạn tận “hỷ và tham” bởi vì hỷ là vui với thân tâm mình trong cõi này, và tham là muốn có những gì với thân tâm mình trong cõi này, tức là hỷ và tham sẽ làm chúng at lún sâu hơn vao sinh tử luân hồi.
 

Kinh SN 22.51 ghi lời dạy, theo bản dịch Thầy Minh Châu:
 

“Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy sắc vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã khéo giải thoát. Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy thọ vô thường là vô thường … tưởng vô thường … các hành vô thường …

Này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo thấy thức vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, nên hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã được khéo giải thoát.” (8)
 

Trong Kinh Ud 3.5, Đức Phật dạy ngài Mahāmoggallāna rằng với chánh niệm về thân được thiết lập, phòng hộ sáu căn, luôn luôn giữ tâm trong định thì sẽ giải thoát. Bản Anh dịch của ngài Sujato ghi lời dạy của Đức Phật về thường trực trong tương thông cả chỉ (tĩnh chỉ tâm) và quán (niệm thân) như sau:
 

“With mindfulness of the body established, restrained in the six fields of contact, a mendicant always immersed in samādhi would know quenching in themselves.” (9)

Nơi đây, xin dịch như sau: “Với chánh niệm về thân được thiết lập, phòng hộ sáu lĩnh vực tiếp xúc của sáu căn, một vị tu sĩ luôn luôn giữ tâm trong định sẽ biết tịch lặng giải thoát trong chính vị này.”
 

Có một cách đơn giản nhưng cực kỳ khó. Những người tâm hồn cực kỳ ngây thơ sẽ dễ vào. Tới đây, chúng ta sẽ nói về Đốn giáo. Tức là giải thoát tức khắc.
 

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn của Thiền Tông, bản dịch của Thầy Thích Duy Lực, nơi Phẩm Tựa Thứ Nhất có ghi như sau:
 

“…Huệ Năng liền ra ngồi trên tảng đá, Huệ Minh đảnh lễ nói rằng: Mong hành giả vì tôi thuyết Pháp. Huệ Năng nói: Ông đã vì Pháp mà đến đây, thì nên ngưng nghỉ các duyên, chớ sanh một niệm, ta sẽ vì ông mà thuyết.

Một hồi sau Huệ Năng nói: Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đang khi ấy cái nào là bổn lai diện mục của Thượng Tọa Minh? Huệ Minh ngay đó đại ngộ, lại hỏi rằng: Ngoài lời mật ý kể trên, còn có ý nào bí mật chăng? Huệ Năng nói: Đã nói với ông thì chẳng phải mật rồi, nếu ông phản chiếu thì mật tại bên ông.” (10)
 

Lời của Lục Tổ Huệ Năng cũng là nói một phiên bản khác từ lời Đức Phật dạy. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Có nghĩa là trong khi thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm thọ từ xúc chạm, suy nghĩ tư lường… thì tâm không chệch theo bất kỳ những gì trong quá khứ hay mơ mộng tương lai, cũng không dính tới bất kỳ ưa thích hay ghét bỏ nào, nghĩa là để cho cái biết trực tiếp hiển lộ mà không can thiệp. Ngay khi cái biết trực tiếp hiển lộ, sẽ không có tham sân si nơi đó.
 

Đức Phật dạy trong Kinh SN 35.80, bản dịch của Thầy Minh Châu như sau (chữ “thắng tri” -- directly know -- là biết trực tiếp, chữ “liễu tri” là biết trong chứng nghiệm vô ngã, ly tham):
 

“Ở đây, này Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có nghe: “Các pháp không nên thiên chấp”. Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy nghe như sau: “Tất cả các pháp không nên thiên chấp”, vị ấy thắng tri tất cả các pháp. Do liễu tri tất cả pháp nên thấy tất cả tướng có thể thay đổi … Vị ấy thấy con mắt có thể thay đổi … các sắc … nhãn thức … nhãn xúc … Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy thấy cảm thọ ấy có thể thay đổi. Này Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết vậy, thấy vậy nên vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.” (11)
 

Cái biết trực tiếp đó hiển nhiên là cái biết của “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” trong Kinh Pháp Bảo Đàn. Cái biết trực tiếp đó không trải qua bất kỳ níu kéo, xua đầy, giằng co, vướng víu… nào cũng là lời dạy trong Kinh Bahiya Sutta, khi Đức Phật dạy ngài Bahiya rằng hãy để cái được thấy là cái được thấy, hãy để cái được nghe là cái được nghe… và đó là giải thoát.
 

Chính ngay trong cái biết trực tiếp đó, chính là cảnh giới siêu xuất cả chỉ và quán, và với thời gian, từ cái biết trực tiếp (thắng tri) là rất gần với cái biết của giải thoát (liễu tri). Nơi đây, không cần khởi tâm tu chỉ hay tu quán, mà tất cả các thiện pháp đều hiển lộ. Đó cũng chính là nơi vua Trần Thánh Tông  đã nói là “Dụng của chân tâm, tỉnh tỉnh lặng lặng…”
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 10.54: https://suttacentral.net/an10.54/vi/minh_chau

(2) Kinh SN 48.9: https://suttacentral.net/sn48.9/vi/minh_chau

(3) Kinh AN 4.162: https://suttacentral.net/an4.162/vi/minh_chau

(4) Kinh AN 6.73: https://suttacentral.net/an6.73/vi/minh_chau

(5) Kinh AN 9.36: https://suttacentral.net/an9.36/vi/minh_chau

(6) Kinh SN 47.2: https://suttacentral.net/sn47.2/vi/minh_chau

(7) Kinh SN 47.37: https://suttacentral.net/sn47.37/vi/minh_chau

(8) Kinh SN 22.51: https://suttacentral.net/sn22.51/vi/minh_chau

(9) Kinh Ud 3.5: https://suttacentral.net/ud3.5/en/sujato

(10) Kinh Pháp Bảo Đàn: https://thuvienhoasen.org/p16a681/pham-tua-thu-nhat  

(11) Kinh SN 35.80: https://suttacentral.net/sn35.80/vi/minh_chau

 

 

 

Các dân tộc sống trên lục địa Châu Á ở hạ lưu các dòng sông từ Tây Tạng và Trung Quốc chảy xuống, trên 1,6 tỉ người này đã phải gánh chịu hết cả thiệt hại kinh tế nông nghiệp, ngư nghiệp và môi trường các hạ vực đã bị thoái hóa dần dần suốt nhiều thập niên qua trong khi Trung Quốc hưởng hết ích lợi nhờ thủy điện vì trên thượng nguồn họ xây hàng trăm con đập, tàng trữ hàng trăm tỉ mét khối nước, giam hãm 90% phù sa và thay đổi toàn diện dòng chảy môi sinh trên toàn lưu vực. Nhưng tham vọng Trung Quốc chưa dừng lại, Trung Quốc đã bắt đầu xây một đại công trình mang tên Sông Cờ Đỏ, dài trên 6.180 km để hàng năm chuyển dòng lấy 60 tỉ mét khối nước ngay từ nguồn không cho xuống hạ lưu sông Mekong, Salween và Brahmaputra. Sông Cờ Đỏ của Trung Quốc là một mối đe doạ tiềm tàng to lớn, với khả năng gây ra tội ác cho nhân loại
Nói chuyện trên chương trình "New Day" của CNN sáng Thứ Sáu 11/2/2022 về đề tài Trump xé nhiều tài liệu, kể cả nhét các giấy đã xé vào bồn cầu làm nghẹt nhiều lần, cựu Trưởng Phòng Báo Chí Bạch Ốc Stephanie Grisham nói rằng khi bà còn làm việc cho Trump, kể như không có bao nhiêu quy định trong Bạch Ốc.
Đời sống con người được quản trị và điều chỉnh bởi luật thiên nhiên và luật nhân tạo. Luật thiên nhiên, là một phần của luật tự nhiên, một loại luật vĩnh hằng không thay đổi, mọi sinh hoạt trong vũ trụ đều phải tuân theo những luật tự nhiên này. Còn luật nhân tạo, dĩ nhiên, phải thay đổi theo lối sống của con người. Trong mỗi con người đều có một con thú. Cái thú tính đó là căn bản trước khi con người thăng hoa lên nhân tính. (Nếu bạn đọc nghi ngờ, cứ thử ngấm ngầm theo dõi: tập trung nhìn vào mặt một người, bạn sẽ thấy trên khuôn mặt đó có nét giống một con thú nào đó. Có khi nét giống bộc lộ rõ ràng, có khi ẩn hiện mập mờ, nhưng vẫn có thể nhận ra. Mặt ếch, mặt khỉ, mặt ngựa, mặt chim, mặt sư tử, … và tự soi gương, thử xem mình có mặt con gì? Nếu nghi ngờ, thì hỏi chồng hoặc vợ hoặc tình nhân thì sẽ biết.) Thú tính nhiều thì con người giống thú. Nếu nhân tính nhiều, nghĩa là thú tính được thuần hóa, con người xán lạn, gần gũi hơn với chân, thiện, mỹ.
Du khách đến Vùng Vịnh Bay Area thường hỏi thăm về đảo Alcatraz — tuy nhỏ nhưng nổi tiếng nhờ có nhà tù khét tiếng đã được làm phim với Clint Eastwood thủ vai chính. Thế nhưng ít ai biết đến, hoặc tò mò muốn ghé thăm, Angel Island (Đảo Thiên-Thần) mặc dù nó từng đóng một vai trò khá đáng kể trong vở kịch di dân của nước Mỹ. Angel Island là hòn đảo lớn thứ nhì trong Vịnh San Francisco, với diện tích hơn 3km vuông. Cách đây mười ngàn năm chỏm đất này còn dính với đất liền, nhưng sau thời kỳ Băng-Hà mực nước biển lên cao biến nó thành hòn đảo. Khoảng hai nghìn năm trước, nơi đây là vùng săn bắn và đánh cá của thổ dân da Đỏ Miwok. Sau khi người Âu-Châu khám phá ra tân-thế-giới, người Tây-Ban-Nha đã dùng nơi này để nuôi bò. Ngày nay Angel Island là một khu lâm viên của tiểu bang California, đồng thời là một di tích lịch sử cấp quốc gia. Điểm cao nhất trên đảo là ngọn núi cao 240 mét mang tên Mount Livermore. Từ bờ Bắc của đảo có thể nhìn thấy vùng trồng nho Sonoma và Napa xanh ngát.
(Robert Mullins International) Vào năm 2020, khi ông Biden đang vận động tranh cử tổng thống, ông đã đưa ra rất nhiều lời hứa về Di Trú, bao gồm mở ra các con đường hợp pháp hóa cho hàng triệu người nhập cư không có giấy tờ. Trong năm đầu tiên nắm quyền, ông đã nhận ra rằng rất là khó khăn, hoặc bất khả thi để hoàn thành một số lời hứa của mình. Những người ủng hộ Tổng thống Biden, đề cập đến những thành tựu về di trú của ông như: Bảo vệ nhiều người di dân khỏi bị trục xuất, chấm dứt giam cầm gia đình (giam cầm cha mẹ cùng con nhỏ), nâng hạn mức người tị nạn và mở rộng tình trạng bảo vệ lưu trú tạm thời. Tuy vậy, ông cũng đã trục xuất hàng trăm nghìn người nhập cư bất hợp pháp vào đất nước này.
Tuần đầu năm Nhâm Dần, thế giới dường như yên ổn hơn với các ca nhập bệnh viện Covid-19 đã có chiều hướng suy giảm. Tết Nhâm Dần trong thời kỳ dịch bệnh vẫn diễn ra tưng bừng khắp nơi. Thế vận hội đã khai mạc và đang diễn ra tại Bắc Kinh trong khung cảnh hết sức khác thường với những hàng rào kim loại, robot phục vụ quầy bar, nhân viên mặc đồ bảo hộ chống độc và các chính sách nghiêm ngặt về khẩu trang nhằm ngăn chặn sự lây lan của virus corona. Nước chủ nhà Trung Quốc ngày thứ Bảy đoạt huy chương vàng đầu tiên tại Thế vận hội Mùa đông Bắc Kinh khi các màn trình diễn tỏa sáng trên băng tuyết.
AUSTIN – Số ca phá thai ở Texas đã giảm 60% trong tháng đầu tiên áp dụng luật cấm phá thai nghiêm ngặt nhất ở Hoa Kỳ trong nhiều thập niên, theo tin APnews ngày Thứ Năm, 10 tháng 2 năm 2022.
HAZLETON – Nhờ công nghệ DNA và một chuyên gia về gia phả học 20 tuổi, cảnh sát đã giải quyết được vụ án từng gây rúng động thị trấn Pennsylvania gần 6 thập niên trước, xác định được kẻ đã bắt cóc, hãm hiếp và sau đó sát hại một bé gái, theo tin APnews đưa ngày Thứ Năm, 10 tháng 2 năm 2022.
WINDSOR / WASHINGTON - Một thị trưởng Canada cho biết thành phố của ông đang xin lệnh để bắt giữ những người tham gia biểu tình chống các quy định bắt buộc về vắc xin COVID-19, làm nghẽn tuyến đường thương mại quan trọng giữa Hoa Kỳ và Canada, theo tin Reuters ngày Thứ Năm, 10 tháng 2 năm 2022.
HOA KỲ – Một số tài liệu mà cựu Tổng thống Trump giữ trong dinh thự Mar-a-Lago của ông là “tối mật,” theo tin TheHill ngày Thứ Năm, 10 tháng 2 năm 2022.
Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa (NNPQXHCN) là một khái niệm chỉ có tại Việt Nam sau ngày Đổi Mới năm 1986 và cho đến nay vẫn còn gây nhiều tranh luận về nội dung và dịch thuật trong khi tinh thần thượng tôn luật pháp là một thuật ngữ được phổ biến sâu rộng tại miền Nam trước năm 1975 và không có liên hệ đến nhà nước pháp quyền.
Xuất thân từ một gia đình di dân Đài Loan, ông Chen hoàn toàn thông cảm với nỗ lực gìn giữ tiếng Việt cho các thế hệ trẻ gốc Việt sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ. Bởi vì còn tiếng Việt thì văn hóa Việt sẽ vẫn tồn tại dù ở bất cứ nơi nào trên thế giới.
Nếu Nga xâm lăng thì NATO, Hoa kỳ và thế giới đã cho Nga thấy cái giá phải trả: kinh tế Nga sẽ bị tê liệt trong nhiều năm và do đó TT Putin phải suy nghĩ kỹ. Trong ván cờ Poker Ukraine này, TT Putin có một ngụ ý ‎xa hơn, muốn có ảnh hưởng đến chính trường Hoa kỳ. Đó là phần chìm. Khi gây khó khăn cho TT Biden, Nga sẽ dính gián tiếp vào chính trường Hoa kỳ qua bầu cử giữa nhiệm kỳ.
Trung Quốc đóng vai trò gì trong cuộc xung đột Ukraine? Putin và Tập gặp nhau khi khai mạc Thế vận hội ở Bắc Kinh. Sự ủng hộ của Trung Quốc đối với lợi ích của Nga có ý nghĩa gì đối với tình hình ở biên giới Ukraine? Trong bối cảnh căng thẳng của họ với Mỹ, Nga và Trung Quốc đang xích lại gần nhau hơn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.