Hôm nay,  

Tỉnh tỉnh, lặng lặng

04/08/202407:31:00(Xem: 4050)
blank 

Tỉnh tỉnh, lặng lặng
 

Nguyên Giác

  

Thỉnh thoảng chúng ta nghe rằng bạn này tu theo Thiền Chỉ, và rồi nghe rằng bạn kia tu theo Thiền Quán. Và rồi có bạn nói như dường hai pháp này dị biệt nhau, khi bạn này nói rằng Thiền Chỉ là cách vào Tứ Thiền, trong khi Thiền Quán là theo Tứ Niệm Xứ. Bất chợt, có bạn chợt nhớ lời khuyên quân bình từ Trần Thánh Tông rằng “Dụng của chân tâm, tỉnh tỉnh lặng lặng” và từ Vĩnh Gia Huyền Giác rằng “Tỉnh tỉnh lặng lặng phải…” Bài này sẽ ghi lời Đức Phật dạy rằng quân bình là ưu thắng nhất.
 

Trong Kinh AN 10.54, Đức Phật dạy rằng có nhiều căn cơ khác nhau, sẽ có những vị đạt được tịnh chỉ nội tâm trước, thì nên tăng thượng tuệ pháp quán nếu thấy còn thiếu sót, và ngược lại. Hai cửa này cần bổ túc cho nhau. Bản dịch Thầy Minh Châu nói về ý này trong Kinh AN 10.54 như sau:
 

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được nội tâm tịnh chỉ, nhưng ta không được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú nội tâm tịnh chỉ, cần phải nỗ lực để đạt cho được tăng thượng tuệ pháp quán ấy; sau một thời gian, đạt được nội tâm tịnh chỉ và được tăng thượng tuệ pháp quán.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được tăng thượng tuệ pháp quán, nhưng không có được nội tâm tịnh chỉ”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú tăng thượng tuệ pháp quán, cần phải nỗ lực để đạt cho được nội tâm tịnh chỉ. Vị ấy sau một thời gian, đạt được tăng thượng tuệ pháp quán và chứng được nội tâm tịnh chỉ.” (1)
 

Trong Kinh Pháp Cú, tinh thần định huệ quân bình được ghi qua bài kệ 372 như sau:
 

372. "Không trí tuệ, không thiền,

Không thiền, không trí tuệ.

Người có thiền có tuệ,

Nhất định gần Niết-Bàn." (Bản dịch Thầy Minh Châu)
 

Các danh từ Hán Việt thường khi có nghĩa mơ hồ, dễ gây nhầm lẫn đối với người không quen đọc. Bởi vì chữ “thiền” trong bài kệ trên có thể làm độc giả liên tưởng tới chữ thiền trong các chữ “Thiền Tông” hay Thiền sư,” trong khi các bản tiếng Anh nói rằng chữ đó là “định” trong nghĩa tịnh chỉ (Ngài Sujato dịch là “absorption” và Ngài Ānandajoti dịch là “concentration.”)
 

Ngài Sujato dịch là: “No absorption for one without wisdom, no wisdom for one without absorption. But one with absorption and wisdom— they have truly drawn near to extinguishment.” (Dịch: Không thể có định đối với người nào không có tuệ, không thể có tuệ đối với người nào không có định. Nhưng vị nào có cả định và tuệ -- họ mới thực sự tới gần giải thoát.)
 

Bản dịch của Ngài Ānandajoti nhấn mạnh hơn, rằng không phải gần giải thoát, mà lúc đó là hiển lộ Niết Bàn rồi: “There is no concentration for one without wisdom, there is no wisdom for one without concentration, the one who has both concentration and wisdom is indeed in the presence of Nibbāna.” (Không có định đối với người nào không có tuệ, không có tuệ đối với người nào không có định. Người nào có cả định và tuệ thì thực sự đã trong hiển lộ của Niết Bàn.)
 

Trong nhiều kinh, Đức Phật dạy rằng phải dựa vào ngũ căn (tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn) để giải thoát. Nghĩa là, phải tin chắc thật vào Như Lai và tin Bát Chánh Đạo là con đường giải thoát. Tấn căn là giữ giới và hành trì nghiêm túc, "sống tinh cần, tinh tấn đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, với nỗ lực kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng các thiện pháp"... Niệm căn là chánh niệm, tức là “mindfulness” và định căn là tịnh chỉ (Thanissaro dịch là "concentration" và Sujato dịch là "immersion."). Theo nghĩa này, Thiền Quán là Niệm căn, và Thiền Chỉ là Định căn, cần phải bước tới Tuệ căn để giải thoát.
 

Trong Kinh SN 48.9, Đức Phật dạy về cách hướng niệm và định để tới tuệ giải thoát, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử chánh niệm, thành tựu niệm tuệ, tối thắng (satinepakkena), ức niệm, tùy niệm các việc làm từ lâu, các lời nói từ lâu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là định căn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt các pháp, trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.” (2)
 

Thực ra, các chữ  gốc Hán Việt đều khó hiểu. Trong khi, nếu chúng ta thay chữ định bằng “lặng lặng” và quán bằng “tỉnh tỉnh” thì dễ hiểu vô cùng. Nhưng khi gặp chữ khó hiểu, đối chiếu sang các kinh tiếng Anh thì sẽ không nhầm lần. Bất kể là tu pháp nào, dù là vào bằng cửa tỉnh tỉnh, hay vào bằng cửa lặng lặng, hay là cửa quân bình, ly dục  là điều cần thiết. Do vậy, Phật tử tại gia đang có gia đình, cũng phải sống như người độc thân, mới có thể vào được sơ Thiền.
 

Trong Kinh AN 4.162, Đức Phật dạy rằng muốn năm căn mạnh, thì phải ly dục, theo bản dịch Thầy Minh Châu:
 

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người bản tánh tham dục không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do tham dục sanh; bản tánh sân không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do sân sanh; bản tánh si không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do si sanh. Với người ấy, năm căn này hiện ra rất dồi dào, tức là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Do năm căn này dồi dào, người ấy đạt được Vô gián định một cách nhanh chóng để đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành lạc, thắng trí nhanh.” (3)
 

Khi tu tập định căn, tức là Thiền Chỉ. Khi tu niệm căn, tức là Thiền Quán. Khi chỉ và quán quân bình, sẽ dễ dàng đắc tuệ giải thoát, tức là kinh nghiệm thực chứng được các pháp ấn vô thường, vô ngã.
 

Đối với người đắc sơ Thiền, từ đây hướng tâm về các pháp quán như lời Đức Phật dạy, thì sẽ giải thoát. Trên mạng Thư Viện Hoa Sen đã có nhiều bài hướng dẫn về cách vào sơ Thiền. Nơi đây xin ghi lời Đức Phật dạy trong Kinh AN 6.73 về điều kiện để đạt được và an trú sơ Thiền, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu? Dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi, không như thật khéo thấy với chánh trí tuệ các nguy hại trong các dục. Đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền.” (4)
 

Đức Phật dạy rằng, từ sơ Thiền, tùy quán theo Kinh AN 9.36 thì sẽ giải thoát, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: “Y chỉ vào sơ Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận”, như vậy được nói đến. Do duyên gì, được nói đến như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục… chứng và trú sơ Thiền. Vị ấy, ở đây đối với cái gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, các pháp ấy, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là mụt nhọt, là mũi tên, là va chạm, là tật bệnh, là khách lạ, là biến hoại, là trống không, là vô ngã. Vị ấy tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, sau khi tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, vị ấy hướng dẫn đến giới bất tử: “Đây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Vị ấy trú ở đây, đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, nếu không diệt tận các lậu hoặc, với pháp ái ấy, với pháp hỷ ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, tại đấy chứng được Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa.” (5)
 

Tới đây, câu hỏi thường gặp rằng thế nào là “chánh niệm, tỉnh giác” hiểu theo lời Đức Phật dạy? Trong Kinh SN 47.2, Đức Phật dạy rằng lìa tham và ưu để quán sát chính là chánh niệm, và thường trực giữ chánh niệm trong các tư thế gọi là tỉnh giác. Kin h này theo bản dịch của Thầy Minh Châu viết:


 

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời … quán thọ trên các thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác; khi nhìn tới, khi nhìn lui, đều tỉnh giác; khi co cánh tay, duỗi cánh tay, đều tỉnh giác; khi đắp y Tăng-già-lê, khi mang y bát, đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai nếm, đều tỉnh giác; khi đi tiểu tiện, đại tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.” (6)
 

Trong khi quán sát như lời dạy trong Tứ Niệm Xứ, sẽ thấy bất kỳ cửa nào cũng có thể giải thoát, dù là quán thân, hay quán thọ, hay quán tâm, hay quán pháp. Không nhất thiết là phải tuần tự quán sát trọn vẹn cả bốn niệm xứ. Trong Kinh SN 47.37, Đức Phật dạy như sau, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán thân trên thân, ước muốn đối với thân được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.

Vị ấy trú, quán thọ trên các cảm thọ … Do vị ấy trú, quán thọ trên các cảm thọ, ước muốn đối với thọ được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.

Vị ấy trú, quán tâm trên tâm … Do vị ấy trú, quán tâm trên tâm, ước muốn đối với tâm được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.

Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp … Do vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, ước muốn đối với các pháp được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.” (7)
 

Kinh vừa dẫn nói rằng quán thân, thọ, tâm, pháp phải đoạn diệt được “ước muốn” thì mới giải thoát. Tại sao phải đoạn diệt “ước muốn” và điều đó có ý nghĩa gì? Đơn giản, khi còn “ước muốn” là còn thấy có cái “tôi” và cần “cái của tôi” – nghĩa là, khi “ước muốn được đoạn diệt” nghĩa là hoàn toàn không còn chút gì cái “tôi” hay “cái của tôi” và đó là giải thoát. Đó là Thiền Quán theo lời Phật dạy. Nơi đây, chúng ta không bàn vế các pháp Thiền Chỉ và Thiền Quán trong các luận thư đời sau.
 

Có một Kinh, cho thấy có tương thông giữa tỉnh tỉnh và lặng lặng. Từ quán sát thân tâm vô thường, dẫn tới ly tham, khi “hỷ và tham đoạn tận” thì là giải thoát. Nói đoạn tận “hỷ và tham” bởi vì hỷ là vui với thân tâm mình trong cõi này, và tham là muốn có những gì với thân tâm mình trong cõi này, tức là hỷ và tham sẽ làm chúng at lún sâu hơn vao sinh tử luân hồi.
 

Kinh SN 22.51 ghi lời dạy, theo bản dịch Thầy Minh Châu:
 

“Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy sắc vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã khéo giải thoát. Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy thọ vô thường là vô thường … tưởng vô thường … các hành vô thường …

Này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo thấy thức vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, nên hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã được khéo giải thoát.” (8)
 

Trong Kinh Ud 3.5, Đức Phật dạy ngài Mahāmoggallāna rằng với chánh niệm về thân được thiết lập, phòng hộ sáu căn, luôn luôn giữ tâm trong định thì sẽ giải thoát. Bản Anh dịch của ngài Sujato ghi lời dạy của Đức Phật về thường trực trong tương thông cả chỉ (tĩnh chỉ tâm) và quán (niệm thân) như sau:
 

“With mindfulness of the body established, restrained in the six fields of contact, a mendicant always immersed in samādhi would know quenching in themselves.” (9)

Nơi đây, xin dịch như sau: “Với chánh niệm về thân được thiết lập, phòng hộ sáu lĩnh vực tiếp xúc của sáu căn, một vị tu sĩ luôn luôn giữ tâm trong định sẽ biết tịch lặng giải thoát trong chính vị này.”
 

Có một cách đơn giản nhưng cực kỳ khó. Những người tâm hồn cực kỳ ngây thơ sẽ dễ vào. Tới đây, chúng ta sẽ nói về Đốn giáo. Tức là giải thoát tức khắc.
 

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn của Thiền Tông, bản dịch của Thầy Thích Duy Lực, nơi Phẩm Tựa Thứ Nhất có ghi như sau:
 

“…Huệ Năng liền ra ngồi trên tảng đá, Huệ Minh đảnh lễ nói rằng: Mong hành giả vì tôi thuyết Pháp. Huệ Năng nói: Ông đã vì Pháp mà đến đây, thì nên ngưng nghỉ các duyên, chớ sanh một niệm, ta sẽ vì ông mà thuyết.

Một hồi sau Huệ Năng nói: Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đang khi ấy cái nào là bổn lai diện mục của Thượng Tọa Minh? Huệ Minh ngay đó đại ngộ, lại hỏi rằng: Ngoài lời mật ý kể trên, còn có ý nào bí mật chăng? Huệ Năng nói: Đã nói với ông thì chẳng phải mật rồi, nếu ông phản chiếu thì mật tại bên ông.” (10)
 

Lời của Lục Tổ Huệ Năng cũng là nói một phiên bản khác từ lời Đức Phật dạy. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Có nghĩa là trong khi thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm thọ từ xúc chạm, suy nghĩ tư lường… thì tâm không chệch theo bất kỳ những gì trong quá khứ hay mơ mộng tương lai, cũng không dính tới bất kỳ ưa thích hay ghét bỏ nào, nghĩa là để cho cái biết trực tiếp hiển lộ mà không can thiệp. Ngay khi cái biết trực tiếp hiển lộ, sẽ không có tham sân si nơi đó.
 

Đức Phật dạy trong Kinh SN 35.80, bản dịch của Thầy Minh Châu như sau (chữ “thắng tri” -- directly know -- là biết trực tiếp, chữ “liễu tri” là biết trong chứng nghiệm vô ngã, ly tham):
 

“Ở đây, này Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có nghe: “Các pháp không nên thiên chấp”. Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy nghe như sau: “Tất cả các pháp không nên thiên chấp”, vị ấy thắng tri tất cả các pháp. Do liễu tri tất cả pháp nên thấy tất cả tướng có thể thay đổi … Vị ấy thấy con mắt có thể thay đổi … các sắc … nhãn thức … nhãn xúc … Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy thấy cảm thọ ấy có thể thay đổi. Này Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết vậy, thấy vậy nên vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.” (11)
 

Cái biết trực tiếp đó hiển nhiên là cái biết của “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” trong Kinh Pháp Bảo Đàn. Cái biết trực tiếp đó không trải qua bất kỳ níu kéo, xua đầy, giằng co, vướng víu… nào cũng là lời dạy trong Kinh Bahiya Sutta, khi Đức Phật dạy ngài Bahiya rằng hãy để cái được thấy là cái được thấy, hãy để cái được nghe là cái được nghe… và đó là giải thoát.
 

Chính ngay trong cái biết trực tiếp đó, chính là cảnh giới siêu xuất cả chỉ và quán, và với thời gian, từ cái biết trực tiếp (thắng tri) là rất gần với cái biết của giải thoát (liễu tri). Nơi đây, không cần khởi tâm tu chỉ hay tu quán, mà tất cả các thiện pháp đều hiển lộ. Đó cũng chính là nơi vua Trần Thánh Tông  đã nói là “Dụng của chân tâm, tỉnh tỉnh lặng lặng…”
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 10.54: https://suttacentral.net/an10.54/vi/minh_chau

(2) Kinh SN 48.9: https://suttacentral.net/sn48.9/vi/minh_chau

(3) Kinh AN 4.162: https://suttacentral.net/an4.162/vi/minh_chau

(4) Kinh AN 6.73: https://suttacentral.net/an6.73/vi/minh_chau

(5) Kinh AN 9.36: https://suttacentral.net/an9.36/vi/minh_chau

(6) Kinh SN 47.2: https://suttacentral.net/sn47.2/vi/minh_chau

(7) Kinh SN 47.37: https://suttacentral.net/sn47.37/vi/minh_chau

(8) Kinh SN 22.51: https://suttacentral.net/sn22.51/vi/minh_chau

(9) Kinh Ud 3.5: https://suttacentral.net/ud3.5/en/sujato

(10) Kinh Pháp Bảo Đàn: https://thuvienhoasen.org/p16a681/pham-tua-thu-nhat  

(11) Kinh SN 35.80: https://suttacentral.net/sn35.80/vi/minh_chau

 

 

 

Ray DeMonia, 73 tuổi, được sinh ra và lớn lên tại Cullman, Alabama, nhưng ông đã qua đời hôm 1 tháng 9 năm 2021, cách quê nhà khoảng 200 dặm trong một phòng chăm sóc đặc biệt tại Meridian, Mississppi, theo bản tin của Đài NPR tường thuật cho biết hôm Thứ Hai, 13 tháng 9 năm 2021. Tháng trước, DeMonia, trải qua 40 năm làm nghề bán đồ cổ và đấu giá, đã bị cấp cứu vì đau tim. Nhưng bởi vì các bệnh viện đầy bệnh nhân vi khuẩn corona mà ông đã bị buộc phải trải qua những ngày cuối đời cách quá xa nhà, theo gia đình ông cho biết.
Một chánh án tiểu bang Texas đã ban hành lệnh chống lại nhóm chống phá thai Texas Right to Life, ngăn chận nhóm này cố gắng thực thi lệnh cấm phá thai 6 tuần chống lại Planned Parenthood tại Texas, theo bản tin của CNN tường thuật hôm Thứ Hai, 13 tháng 9 năm 2021. Lệnh này, được đưa ra bởi Chánh Án Karin Crump của tòa án Quận Travis, áp dụng cho bất cứ ai liên kết với nhóm này và ngăn chận họ lập hồ sơ kiện chống lại Planned Parenthood vì bất cứ vi phạm tiềm năng nào đối với Luật SB8, là luật có hiệu lực cấm hầu hết mọi cuộc phá thai tại Texas. Luật cho phép công dân tư nhân có quyền kiện.
Biến đổi khí hậu có thể đẩy hơn 200 triệu người rời bỏ nhà cửa của họ trong 3 thập niên tới và tạo ra những điểm nóng di dân nếu không có hành động khẩn cấp nào được thực hiện để giảm khí thải toàn cầu và khỏa lấp sự cách biệt phát triển, theo báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới (WB) cho thấy, qua bản tin của Hãng Tin Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Hai, 13 tháng 9 năm 2021. Phần thứ hai của phúc trình Groundswell được phổ biến hôm Thứ Hai đã kiểm tra cách mà những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu diễn ra chậm như khan hiếm nước, giảm sản lượng mùa màng và tăng cao mực nước biển có thể khiến nhiều triệu người mà phúc trình mô tả là “những di dân khí hậu” vào năm 2050 dưới 3 hoàn cảnh khác nhau với các mức độ khác nhau của hành động và phát triển khí hậu.
Đảng viên Cộng Hòa Larry Elder hôm Thứ Hai đã kêu gọi những người ủng hộ ông sử dụng mẫu trên mạng để báo cáo gian lận, mà trong đó cho rằng họ đã “phát hiện gian lận” trong các “kết quả” của cuộc bầu cử bãi nhiệm tại California “mà kết quả là Thống Đốc Gavin Newsom được phục hồi làm thống đốc.” Vấn đề là: vào Thứ Hai khi đường dẫn vào trang web vận động của Elder, thì cuộc bầu cử đã chưa xảy ra. Cũng chưa có kết quả nào đã được công bố. Và Elder vẫn đang vận động để thay thế Newsom làm thống đốc.
Pháp Hội Địa Tạng Lần Thứ 10 do Thượng Tọa Thích Thánh Minh, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ (GHPGVNTN/HK), Viện Chủ Chùa Hội Phước New Mexico, làm Trưởng Ban Tổ Chức, Ông Sean Hadad, Giám Đốc Nhà Quàn Peek Funeral Home Phó Ban tổ chức, Đạo hữu Linda Trần, Phó ban tổ chức, đã long trọng cử hành trong hai ngày Thứ Sáu ngày 10 và Thứ Bảy ngày 11 tháng 9 năm 2021 tại Tôn Tượng Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát (cạnh Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam.) trong nghĩa trang Peek Funeral Home.
Có một chân lý vẫn đúng tới bây giờ: bánh trung thu làm bằng tay vẫn có cái ngon riêng của nó so với bánh trung thu làm công nghiệp đại trà. Thí dụ như bánh nhân thập cẩm thái tay, chọn lựa các loại vật liệu theo ý mình thì bánh công nghiệp khó sánh bằng.
Tay vợt người Nga Daniil Medvedev đã đánh bại tay vợt Novak Djokovic, người hy vọng đạt được số giải lớn nhiều nhất trong Giải Tennis hàng năm của Mỹ, để nhận chức vô địch giải lớn đầu tiên tại Giải US Open năm 2021 trong trận đấu chung kết vào Chủ Nhật, 12 tháng 9 năm 2021 tại New York, theo bản tin của BBC tiếng Anh tường thuật hôm Chủ Nhật. Medvedev, 25 tuổi, đã thua 2 trận chung kết Grand Slam trước đây nhưng kỳ này đã thắng với tỉ số 6-4, 6-4 và 6-4. Tay quần vợt số một thế giới Djokovic đã thắng các Giải Australian Open, French Open và Wimbledon trong năm nay. Djokovic, 34 tuổi, người Serb cũng chạy đua để đạt kỷ lục tay vợt nam thắng Grand Slam thứ 21.
Thiền là bạn trở về với chính mình, khám phá nội tâm để đạt được an vui và hạnh phúc. / Meditation is how you return to self, how you discover yourself, and how you reach full bloom.
Đó là một điệp khúc quen thuộc trong số những người quan sát của bãi nhiệm tại California: 2021 không phải 2003, theo Hãng Tin Mỹ AP tường thuật hôm Chủ Nhật, 12 tháng 9 năm 2021. Vâng, tiểu bang lại đang ở giữa cuộc bầu cử bãi nhiệm mà có thể bứng ghế vị thống đốc Dân Chủ. Nhưng cuộc bỏ phiếu của California hiện nay trông khác xa với cuộc bỏ phiếu 18 năm trước: Ít Cộng Hòa, nhiều gốc La Tinh và gốc Á, và trẻ hơn – tất cả những chiều hướng này đều thuận lợi cho Thống Đốc Gavin Newsom, bao lâu mà ông có thể đưa các cử tri của mình đi bỏ phiếu.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Gió đã đổi hướng, nước dần dần rút, những bờ bãi ven sông ánh lên cái màu phù sa mịn màng, loáng nước. Những gốc bần, những rặng bần vẫn bám sâu rễ vào lòng đất, xanh dân dã đến thật thà. Một chiếc ghe đã cập vào bến, mũi gát vào gốc bần. Người ta đang chuyển tôm cá lên bến, vào bờ. Ngước mắt nhìn rặng bần, bắt gặp gió lay động và nụ cười vu vơ, xạt xào như hơi thở…
Nhưng tại sao dân Afghans lại lì lợm, đánh giặc dai dẳng, làm cho các nước lớn, binh lính tinh nhuệ, trang bị tối tân, mà phải thua? Theo nhà nhơn chủng học người Mỹ, ông Carleton Coon, dân Afghans có máu họ hàng với dân Kurdes và dân Berbères, giống dân miền núi, họ lúc nào cũng sống ly khai, chống đối, không giống những sắc dân ở đồng bằng. Có thử chinh phục họ, cũng không được.
Với tấm lòng khao khát học hỏi và trí thông minh sẵn có, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã tiếp nhận rất bén nhạy nhanh chóng giáo lý vi diệu Phật Đà. Cũng có thể những tri kiến này được tích lủy từ nhiều kiếp trước, đã tiềm ẩn đâu đó trong Tạng Thức của ông nên những kinh sách ông học đã thấu đáo nghĩa lý. Kiến thức Phật Học của ông được nhiều bậc Tôn Đức, thức giả khen ngợi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.