Hôm nay,  

Tỉnh tỉnh, lặng lặng

04/08/202407:31:00(Xem: 4060)
blank 

Tỉnh tỉnh, lặng lặng
 

Nguyên Giác

  

Thỉnh thoảng chúng ta nghe rằng bạn này tu theo Thiền Chỉ, và rồi nghe rằng bạn kia tu theo Thiền Quán. Và rồi có bạn nói như dường hai pháp này dị biệt nhau, khi bạn này nói rằng Thiền Chỉ là cách vào Tứ Thiền, trong khi Thiền Quán là theo Tứ Niệm Xứ. Bất chợt, có bạn chợt nhớ lời khuyên quân bình từ Trần Thánh Tông rằng “Dụng của chân tâm, tỉnh tỉnh lặng lặng” và từ Vĩnh Gia Huyền Giác rằng “Tỉnh tỉnh lặng lặng phải…” Bài này sẽ ghi lời Đức Phật dạy rằng quân bình là ưu thắng nhất.
 

Trong Kinh AN 10.54, Đức Phật dạy rằng có nhiều căn cơ khác nhau, sẽ có những vị đạt được tịnh chỉ nội tâm trước, thì nên tăng thượng tuệ pháp quán nếu thấy còn thiếu sót, và ngược lại. Hai cửa này cần bổ túc cho nhau. Bản dịch Thầy Minh Châu nói về ý này trong Kinh AN 10.54 như sau:
 

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được nội tâm tịnh chỉ, nhưng ta không được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú nội tâm tịnh chỉ, cần phải nỗ lực để đạt cho được tăng thượng tuệ pháp quán ấy; sau một thời gian, đạt được nội tâm tịnh chỉ và được tăng thượng tuệ pháp quán.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được tăng thượng tuệ pháp quán, nhưng không có được nội tâm tịnh chỉ”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú tăng thượng tuệ pháp quán, cần phải nỗ lực để đạt cho được nội tâm tịnh chỉ. Vị ấy sau một thời gian, đạt được tăng thượng tuệ pháp quán và chứng được nội tâm tịnh chỉ.” (1)
 

Trong Kinh Pháp Cú, tinh thần định huệ quân bình được ghi qua bài kệ 372 như sau:
 

372. "Không trí tuệ, không thiền,

Không thiền, không trí tuệ.

Người có thiền có tuệ,

Nhất định gần Niết-Bàn." (Bản dịch Thầy Minh Châu)
 

Các danh từ Hán Việt thường khi có nghĩa mơ hồ, dễ gây nhầm lẫn đối với người không quen đọc. Bởi vì chữ “thiền” trong bài kệ trên có thể làm độc giả liên tưởng tới chữ thiền trong các chữ “Thiền Tông” hay Thiền sư,” trong khi các bản tiếng Anh nói rằng chữ đó là “định” trong nghĩa tịnh chỉ (Ngài Sujato dịch là “absorption” và Ngài Ānandajoti dịch là “concentration.”)
 

Ngài Sujato dịch là: “No absorption for one without wisdom, no wisdom for one without absorption. But one with absorption and wisdom— they have truly drawn near to extinguishment.” (Dịch: Không thể có định đối với người nào không có tuệ, không thể có tuệ đối với người nào không có định. Nhưng vị nào có cả định và tuệ -- họ mới thực sự tới gần giải thoát.)
 

Bản dịch của Ngài Ānandajoti nhấn mạnh hơn, rằng không phải gần giải thoát, mà lúc đó là hiển lộ Niết Bàn rồi: “There is no concentration for one without wisdom, there is no wisdom for one without concentration, the one who has both concentration and wisdom is indeed in the presence of Nibbāna.” (Không có định đối với người nào không có tuệ, không có tuệ đối với người nào không có định. Người nào có cả định và tuệ thì thực sự đã trong hiển lộ của Niết Bàn.)
 

Trong nhiều kinh, Đức Phật dạy rằng phải dựa vào ngũ căn (tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn) để giải thoát. Nghĩa là, phải tin chắc thật vào Như Lai và tin Bát Chánh Đạo là con đường giải thoát. Tấn căn là giữ giới và hành trì nghiêm túc, "sống tinh cần, tinh tấn đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, với nỗ lực kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng các thiện pháp"... Niệm căn là chánh niệm, tức là “mindfulness” và định căn là tịnh chỉ (Thanissaro dịch là "concentration" và Sujato dịch là "immersion."). Theo nghĩa này, Thiền Quán là Niệm căn, và Thiền Chỉ là Định căn, cần phải bước tới Tuệ căn để giải thoát.
 

Trong Kinh SN 48.9, Đức Phật dạy về cách hướng niệm và định để tới tuệ giải thoát, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử chánh niệm, thành tựu niệm tuệ, tối thắng (satinepakkena), ức niệm, tùy niệm các việc làm từ lâu, các lời nói từ lâu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là định căn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt các pháp, trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.” (2)
 

Thực ra, các chữ  gốc Hán Việt đều khó hiểu. Trong khi, nếu chúng ta thay chữ định bằng “lặng lặng” và quán bằng “tỉnh tỉnh” thì dễ hiểu vô cùng. Nhưng khi gặp chữ khó hiểu, đối chiếu sang các kinh tiếng Anh thì sẽ không nhầm lần. Bất kể là tu pháp nào, dù là vào bằng cửa tỉnh tỉnh, hay vào bằng cửa lặng lặng, hay là cửa quân bình, ly dục  là điều cần thiết. Do vậy, Phật tử tại gia đang có gia đình, cũng phải sống như người độc thân, mới có thể vào được sơ Thiền.
 

Trong Kinh AN 4.162, Đức Phật dạy rằng muốn năm căn mạnh, thì phải ly dục, theo bản dịch Thầy Minh Châu:
 

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người bản tánh tham dục không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do tham dục sanh; bản tánh sân không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do sân sanh; bản tánh si không có cường thịnh, thường không có cảm thọ khổ ưu do si sanh. Với người ấy, năm căn này hiện ra rất dồi dào, tức là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Do năm căn này dồi dào, người ấy đạt được Vô gián định một cách nhanh chóng để đoạn tận các lậu hoặc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành lạc, thắng trí nhanh.” (3)
 

Khi tu tập định căn, tức là Thiền Chỉ. Khi tu niệm căn, tức là Thiền Quán. Khi chỉ và quán quân bình, sẽ dễ dàng đắc tuệ giải thoát, tức là kinh nghiệm thực chứng được các pháp ấn vô thường, vô ngã.
 

Đối với người đắc sơ Thiền, từ đây hướng tâm về các pháp quán như lời Đức Phật dạy, thì sẽ giải thoát. Trên mạng Thư Viện Hoa Sen đã có nhiều bài hướng dẫn về cách vào sơ Thiền. Nơi đây xin ghi lời Đức Phật dạy trong Kinh AN 6.73 về điều kiện để đạt được và an trú sơ Thiền, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu? Dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi, không như thật khéo thấy với chánh trí tuệ các nguy hại trong các dục. Đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể đạt được và an trú sơ Thiền.” (4)
 

Đức Phật dạy rằng, từ sơ Thiền, tùy quán theo Kinh AN 9.36 thì sẽ giải thoát, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng: “Y chỉ vào sơ Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận”, như vậy được nói đến. Do duyên gì, được nói đến như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly dục… chứng và trú sơ Thiền. Vị ấy, ở đây đối với cái gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, các pháp ấy, vị ấy tùy quán là vô thường, là khổ, là bệnh, là mụt nhọt, là mũi tên, là va chạm, là tật bệnh, là khách lạ, là biến hoại, là trống không, là vô ngã. Vị ấy tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, sau khi tránh né tâm mình khỏi những pháp ấy, vị ấy hướng dẫn đến giới bất tử: “Đây là tịch tịnh, đây là thù thắng, tức là sự chỉ tức tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự diệt tận khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Vị ấy trú ở đây, đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, nếu không diệt tận các lậu hoặc, với pháp ái ấy, với pháp hỷ ấy, do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, là vị hóa sanh, tại đấy chứng được Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa.” (5)
 

Tới đây, câu hỏi thường gặp rằng thế nào là “chánh niệm, tỉnh giác” hiểu theo lời Đức Phật dạy? Trong Kinh SN 47.2, Đức Phật dạy rằng lìa tham và ưu để quán sát chính là chánh niệm, và thường trực giữ chánh niệm trong các tư thế gọi là tỉnh giác. Kin h này theo bản dịch của Thầy Minh Châu viết:


 

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời … quán thọ trên các thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
 

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác; khi nhìn tới, khi nhìn lui, đều tỉnh giác; khi co cánh tay, duỗi cánh tay, đều tỉnh giác; khi đắp y Tăng-già-lê, khi mang y bát, đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai nếm, đều tỉnh giác; khi đi tiểu tiện, đại tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.” (6)
 

Trong khi quán sát như lời dạy trong Tứ Niệm Xứ, sẽ thấy bất kỳ cửa nào cũng có thể giải thoát, dù là quán thân, hay quán thọ, hay quán tâm, hay quán pháp. Không nhất thiết là phải tuần tự quán sát trọn vẹn cả bốn niệm xứ. Trong Kinh SN 47.37, Đức Phật dạy như sau, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:
 

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán thân trên thân, ước muốn đối với thân được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.

Vị ấy trú, quán thọ trên các cảm thọ … Do vị ấy trú, quán thọ trên các cảm thọ, ước muốn đối với thọ được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.

Vị ấy trú, quán tâm trên tâm … Do vị ấy trú, quán tâm trên tâm, ước muốn đối với tâm được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.

Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp … Do vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, ước muốn đối với các pháp được đoạn diệt. Do ước muốn được đoạn diệt nên chứng ngộ được bất tử.” (7)
 

Kinh vừa dẫn nói rằng quán thân, thọ, tâm, pháp phải đoạn diệt được “ước muốn” thì mới giải thoát. Tại sao phải đoạn diệt “ước muốn” và điều đó có ý nghĩa gì? Đơn giản, khi còn “ước muốn” là còn thấy có cái “tôi” và cần “cái của tôi” – nghĩa là, khi “ước muốn được đoạn diệt” nghĩa là hoàn toàn không còn chút gì cái “tôi” hay “cái của tôi” và đó là giải thoát. Đó là Thiền Quán theo lời Phật dạy. Nơi đây, chúng ta không bàn vế các pháp Thiền Chỉ và Thiền Quán trong các luận thư đời sau.
 

Có một Kinh, cho thấy có tương thông giữa tỉnh tỉnh và lặng lặng. Từ quán sát thân tâm vô thường, dẫn tới ly tham, khi “hỷ và tham đoạn tận” thì là giải thoát. Nói đoạn tận “hỷ và tham” bởi vì hỷ là vui với thân tâm mình trong cõi này, và tham là muốn có những gì với thân tâm mình trong cõi này, tức là hỷ và tham sẽ làm chúng at lún sâu hơn vao sinh tử luân hồi.
 

Kinh SN 22.51 ghi lời dạy, theo bản dịch Thầy Minh Châu:
 

“Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy sắc vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã khéo giải thoát. Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy thọ vô thường là vô thường … tưởng vô thường … các hành vô thường …

Này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo thấy thức vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, nên hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã được khéo giải thoát.” (8)
 

Trong Kinh Ud 3.5, Đức Phật dạy ngài Mahāmoggallāna rằng với chánh niệm về thân được thiết lập, phòng hộ sáu căn, luôn luôn giữ tâm trong định thì sẽ giải thoát. Bản Anh dịch của ngài Sujato ghi lời dạy của Đức Phật về thường trực trong tương thông cả chỉ (tĩnh chỉ tâm) và quán (niệm thân) như sau:
 

“With mindfulness of the body established, restrained in the six fields of contact, a mendicant always immersed in samādhi would know quenching in themselves.” (9)

Nơi đây, xin dịch như sau: “Với chánh niệm về thân được thiết lập, phòng hộ sáu lĩnh vực tiếp xúc của sáu căn, một vị tu sĩ luôn luôn giữ tâm trong định sẽ biết tịch lặng giải thoát trong chính vị này.”
 

Có một cách đơn giản nhưng cực kỳ khó. Những người tâm hồn cực kỳ ngây thơ sẽ dễ vào. Tới đây, chúng ta sẽ nói về Đốn giáo. Tức là giải thoát tức khắc.
 

Trong Kinh Pháp Bảo Đàn của Thiền Tông, bản dịch của Thầy Thích Duy Lực, nơi Phẩm Tựa Thứ Nhất có ghi như sau:
 

“…Huệ Năng liền ra ngồi trên tảng đá, Huệ Minh đảnh lễ nói rằng: Mong hành giả vì tôi thuyết Pháp. Huệ Năng nói: Ông đã vì Pháp mà đến đây, thì nên ngưng nghỉ các duyên, chớ sanh một niệm, ta sẽ vì ông mà thuyết.

Một hồi sau Huệ Năng nói: Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đang khi ấy cái nào là bổn lai diện mục của Thượng Tọa Minh? Huệ Minh ngay đó đại ngộ, lại hỏi rằng: Ngoài lời mật ý kể trên, còn có ý nào bí mật chăng? Huệ Năng nói: Đã nói với ông thì chẳng phải mật rồi, nếu ông phản chiếu thì mật tại bên ông.” (10)
 

Lời của Lục Tổ Huệ Năng cũng là nói một phiên bản khác từ lời Đức Phật dạy. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Có nghĩa là trong khi thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm thọ từ xúc chạm, suy nghĩ tư lường… thì tâm không chệch theo bất kỳ những gì trong quá khứ hay mơ mộng tương lai, cũng không dính tới bất kỳ ưa thích hay ghét bỏ nào, nghĩa là để cho cái biết trực tiếp hiển lộ mà không can thiệp. Ngay khi cái biết trực tiếp hiển lộ, sẽ không có tham sân si nơi đó.
 

Đức Phật dạy trong Kinh SN 35.80, bản dịch của Thầy Minh Châu như sau (chữ “thắng tri” -- directly know -- là biết trực tiếp, chữ “liễu tri” là biết trong chứng nghiệm vô ngã, ly tham):
 

“Ở đây, này Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có nghe: “Các pháp không nên thiên chấp”. Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy nghe như sau: “Tất cả các pháp không nên thiên chấp”, vị ấy thắng tri tất cả các pháp. Do liễu tri tất cả pháp nên thấy tất cả tướng có thể thay đổi … Vị ấy thấy con mắt có thể thay đổi … các sắc … nhãn thức … nhãn xúc … Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy thấy cảm thọ ấy có thể thay đổi. Này Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết vậy, thấy vậy nên vô minh được đoạn tận, minh được sanh khởi.” (11)
 

Cái biết trực tiếp đó hiển nhiên là cái biết của “không nghĩ thiện, không nghĩ ác” trong Kinh Pháp Bảo Đàn. Cái biết trực tiếp đó không trải qua bất kỳ níu kéo, xua đầy, giằng co, vướng víu… nào cũng là lời dạy trong Kinh Bahiya Sutta, khi Đức Phật dạy ngài Bahiya rằng hãy để cái được thấy là cái được thấy, hãy để cái được nghe là cái được nghe… và đó là giải thoát.
 

Chính ngay trong cái biết trực tiếp đó, chính là cảnh giới siêu xuất cả chỉ và quán, và với thời gian, từ cái biết trực tiếp (thắng tri) là rất gần với cái biết của giải thoát (liễu tri). Nơi đây, không cần khởi tâm tu chỉ hay tu quán, mà tất cả các thiện pháp đều hiển lộ. Đó cũng chính là nơi vua Trần Thánh Tông  đã nói là “Dụng của chân tâm, tỉnh tỉnh lặng lặng…”
 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 10.54: https://suttacentral.net/an10.54/vi/minh_chau

(2) Kinh SN 48.9: https://suttacentral.net/sn48.9/vi/minh_chau

(3) Kinh AN 4.162: https://suttacentral.net/an4.162/vi/minh_chau

(4) Kinh AN 6.73: https://suttacentral.net/an6.73/vi/minh_chau

(5) Kinh AN 9.36: https://suttacentral.net/an9.36/vi/minh_chau

(6) Kinh SN 47.2: https://suttacentral.net/sn47.2/vi/minh_chau

(7) Kinh SN 47.37: https://suttacentral.net/sn47.37/vi/minh_chau

(8) Kinh SN 22.51: https://suttacentral.net/sn22.51/vi/minh_chau

(9) Kinh Ud 3.5: https://suttacentral.net/ud3.5/en/sujato

(10) Kinh Pháp Bảo Đàn: https://thuvienhoasen.org/p16a681/pham-tua-thu-nhat  

(11) Kinh SN 35.80: https://suttacentral.net/sn35.80/vi/minh_chau

 

 

 

Trong bài phát biểu đánh dấu 20 năm các vụ tấn công ngày 11 tháng 9, Bush nói rằng Hoa Kỳ đã chứng kiến “bằng chứng ngày càng gia tăng những nguy hiểm đối với đất nước của chúng ta có thể đến mà không đi qua các biên giới, nhưng từ sự bạo động tập họp bên trong đất nước.” “Có rất ít sự chồng chéo văn hóa giữa những người cực đoan bạo động hải ngoại và những người cực đoan bạo động trong nước,” theo Bush phát biểu. “Nhưng trong sự khinh thường của họ đối với đa nguyên, trong sự coi thường của họ đối với mạng người, trong quyết tâm của họ để làm nhơ bẩn các biểu tượng quốc gia, họ là những đứa con của cùng tinh thần xấu xa.” “Và đó là bổn phận của chúng ta tiếp tục chống lại họ,” theo ông nói thêm.
Từ đài tưởng niệm ở thành phố tới một cánh đồng xa xôi đến trung tâm sức mạnh quân sự quốc gia, Tổng Thống Joe Biden hôm Thứ Bảy, 11 tháng 9 năm 2021 đã bày tỏ sự kính trọng tại 3 nơi linh thiêng của nỗi đau buồn và tưởng nhớ để vinh danh những người đã mất mạng cách nay hai thập niên trong các cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9, theo Hãng Tin Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Bảy.
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Châu, Nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, viên tịch tại Thiền Viện Vạn Hạnh, Sài Gòn, Việt Nam, vào lúc 9 giờ sáng ngày 1 tháng 9 năm 2012. Trong niềm tiếc thương vô hạn đối với sự ra đi của bậc ân sư khả kính mà người viết bài này đã từng thọ ân giáo dục, bài viết này xin được viết ra để tưởng niệm công đức lớn lao của Ngài đối với sự nghiệp giáo dục và qua đó xin trình bày một vài cảm nghĩ về con đường giáo dục của Phật Giáo Việt Nam.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Những nỗ lực trong 6 năm qua của Dân Biểu Janet Nguyễn để thiết lập mô hình giảng dạy về kinh nghiệm của người Mỹ gốc Việt tị nạn cho các trường học ở California đã thành công. Dân Biểu Janet Nguyễn phát biểu: "Cuộc hành trình này đã bắt đầu từ năm 2016. Sau nhiều năm, nhiều đêm dài, những buổi bàn luận hàng giờ và rất nhiều trở ngại, đến bây giờ đã được thông qua với khoản ngân sách đã được chấp thuận để bắt đầu thiết lập mô hình giảng dạy quan trọng này."
Làm sao dạy cho trẻ em cách giữ tâm an bình và tỉnh thức với tất cả những gì hiển lộ trong và ngoài chúng ta? Vẫn có nhiều cách. Các nhà giáo quốc tế đã nhìn thấy lợi ích của thiền tập, và đang tìm những cách đơn giản để dạy trẻ em biết giữ tâm tỉnh thức.
Thêm tài liệu được công bố hôm Thứ Sáu, 10 tháng 9 năm 2021, cho thấy, một lần nữa, rằng những người không chích ngừa dễ bị truyền nhiễm, phải vào bệnh viện điều trị và chết hơn rất nhiều từ Covid-19 so với những người đã chích ngừa đầy đủ, theo bản tin của Business Insider tường thuật hôm Thứ Sáu. Nghiên cứu của Cơ Quan CDC đã công bố vào xế trưa Thứ Sáu theo dõi hơn 615,000 người bị lây nhiễm, vào bệnh viện đều trị và chết từ Covid-19 khắp Hoa Kỳ từ đầu tháng 4 đến giữa tháng 7 tại 13 khu vực trên toàn quốc. Đây là nghiên cứu lớn nhất từ trước tới nay về các trường hợp Covid sau chích ngừa, vào bệnh viện và tử vong kể từ khi biến thể Delta trỗi dậy tại Hoa Kỳ.
Bây giờ, tất cả 3 người này nằm trong số hơn 111,000 người đã ghi danh vào Chương Trình Sức Khỏe Trung Tâm Thương Mại Thế Giới, mà đã giúp chăm sóc y tế miễn phí cho những người có vấn đề sức khỏe tiềm ẩn liên quan đến bụi. 20 năm sau khi tòa tháp đôi sụp đổ, nhiều người vẫn đang còn báo cáo bệnh tật mà có thể liên quan tới vụ tấn công khủng bố. Tính tới nay, Hoa Kỳ đã chi 11.7 tỉ đô la cho việc chăm sóc và đền bù cho những người đã bị bệnh vì bụi – khoảng 4.6 tỉ đô la nhiều hơn số tiền giúp cho các gia đình bị giết hay bị thương ngày 11 tháng 9 năm 2001. Hơn 40,000 người đã nhận tiền tài trợ từ chính phủ cho những người bị bệnh tiềm ẩn liên quan tới các cuộc tấn công khủng bố.
Sự thúc đẩy mạnh mẽ của Tổng Thống Joe Biden để yêu cầu hàng triệu công nhân Hoa Kỳ chích ngừa chống lại vi khuẩn corona đang đụng phải bức tường phản kháng từ các nhà lãnh đạo Cộng Hòa đe dọa mọi thứ từ các vụ kiện đến bất tuân dân sự, nhận chìm đất nước xuống sâu hơn cuộc chiến văn hóa mà đã mưng mủ kể từ khi bắt đầu đại dịch, theo Hãng Tin Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Sáu, 10 tháng 9 năm 2021.
Lại có thêm một Facebooker, bà Lê Thị Kim Phi, tại tỉnh An Giang, Miền Nam Việt Nam, bị bắt và truy tố về tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chinh quyền,” theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) tường thuật hôm Thứ Sáu, 10 tháng 9 năm 2021.
Thượng nghị sĩ Umberg chỉ vào một câu trong Kinh thánh - John 15:13 "Không có tình yêu thương nào lớn hơn sự hy sinh mạng sống của mình vì bạn bè." Ông nói thêm rằng đối với quân đội, điều này thường được dịch là "Không có tình yêu nào lớn lao hơn là hy sinh mạng sống của mình cho đất nước của họ." Chúng tôi nhớ, chúng tôi công nhận, chúng tôi không quên những hy sinh đó. Chúng tôi nhớ, chúng tôi công nhận, chúng tôi không quên những hy sinh của những gia đình đó."
Thật là một hạnh duyên lớn mà CLBTNT chúng ta được ngồi lại với nhau trong khu vườn nhỏ nhắn xinh tươi đầy thiền vị, sự có mặt của một vị giảng sư uyên thâm phật pháp, sự có mặt của những gương mặt sáng trong tầm cầu giáo pháp, có mặt với nhau cho một ngày tu học Vu Lan hiếu hạnh, cho cuộc đời thêm đẹp, thêm y nghĩa giữa trần lao đầy bon chen cám dỗ này!
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.