Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 12710)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97: Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

đói ăn, mệt ngủ, vui đạo, tùy duyên tỉnh thức, vắng lặng, hỷ lạc, an nhiên trong tâm có Phật, vô trụ vô tâm chẳng hỏi chi thiền, muôn cảnh thế gian
- Nhật Bản dùng vốn ODA (hỗ trợ phát triển) để giúp Việt Nam và các nước khác ngăn vi phạm bản quyền manga, anime, trò chơi điện tử Nhật. - VN bị xem là trung tâm toàn cầu về hàng hiệu xa xỉ giả mạo làm từ TQ và VN. Mỹ thúc giục xóa hàng nhái. - VN tăng phòng thủ Đảo Hòn Khoai ở cực nam VN, xây cầu vượt biển dài 18 km nối cảng lưỡng dụng để ngừa tàu chiến TQ từ Campuchia. - Tàu hàng đâm chìm 1 tàu cá VN ở biển Lâm Đồng, 16 ngư dân được cứu, 1 chết. - Nhà thơ Bùi Thanh Tuấn (tác giả bài thơ nổi tiếng "Hà Nội mùa vắng những cơn mưa") từ trần, thọ 52 tuổi. - Trump rung chuông mở phiên giao dịch tại NYSE và Nasdaq, khởi động "Trump Accounts". - Trump lộ ý chọn và toàn lực ủng hộ JD Vance ứng cử Tổng Thống 2008, thay vì Rubio. - Bức ảnh Reuters về nhóm thượng đẳng da trắng trên tàu điện ngầm, duy nhất 1 phụ nữ da đen, có thể thắng giải Pulitzer.
Hai cặp đấu của vòng tứ kết đã được xác định. Hai đội chủ nhà bị loại để Pháp đối đầu Morocco, Na Uy tranh hùng với Anh. Những trận đấu này cũng là nơi những chân sút hàng đầu của giải đang tranh giành quyết liệt giải vua phá lưới, khi cả ba cầu thủ Messi, Mbappe và Haaland đều ghi được 7 bàn thắng.
thứ nhì là Epstein (14%), thứ ba là Obama (8%). - Người Mỹ vĩ đại nhất là cố TT Lincoln (18%), thứ nhì là TT George Washington (13%), thứ ba là Martin Luther King Jr. (12%), thứ tư là Obama (10%)
Tôi không ưa triết lý. Một thời tuổi thơ của tôi là học về triết lý, trực tiếp từ những vị thầy nổi tiếng như Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung, LM Kim Định... Nhiều năm sau, tôi khám phá ra mình không ưa triết lý, và chỉ còn thích đọc ca dao (mà phải là lục bát), truyện võ hiệp (mà phải là Kim Dung), và rồi ưa thích sống một đời hồn nhiên, thơ dại (kiểu thiền sư Tế Điên)... và vân vân. Đó là lý do tôi kinh ngạc khi thấy nhà văn Kim Vũ đi theo chiều ngược lại: từ những gì rất thơ mộng, rồi trở về triết lý phức tạp.
Khi chỉ còn bốn tháng là đến ngày bầu cử giữa kỳ tháng 11, các vấn đề về quyền bầu cử vẫn đang là tâm điểm của các cuộc tranh luận trên toàn quốc. Những thách thức pháp lý mới, các đề nghị yêu cầu giấy tờ tùy thân đối với cử tri, những thay đổi trong công tác tổ chức bầu cử đang làm xáo trộn việc bỏ phiếu trên khắp Hoa Kỳ.
Dịu dàng ngồi, nơi yên vắng niệm trước mặt, thân buông thư tâm nhận biết, từng hơi thở tâm tỉnh thức, không khuyết dư
Bên cạnh 3 đội chủ nhà thuộc vùng Bắc-Trung Mỹ còn có 4 đội Nam Mỹ. Châu Âu có đến 7 đội, Châu Phi còn được 2 đại diện. Hai trận đầu tiên của sẽ diễn ra đúng ngày lễ Độc Lập Hoa Kỳ 4/7 là Pháp-Paraguay và Canada-Morocco.
MAGA la hoảng: Hội chợ Trump vắng thê thảm vì Đảng Dân Chủ biến đổi thời tiết, làm nắng cháy da tuần lễ Lễ Độc Lập 2026, cũng như đã khi làm lạnh băng giá ngày Trump nhậm chức 2025
- Người quản lý đầu tư của Trump đã mua bán cổ phiếu trung bình 58 lần/ngày trong quý đầu tiên; và 327 giao dịch mua cổ phiếu riêng lẻ diễn ra ngay trước khi Trump tuyên bố tạm hoãn áp thuế trong 90 ngày - Nhiều Tổng quản trị các công ty thú nhận họ không tin tưởng Trump; một chuyên gia công khai nói gia đình Trump trục lợi - Trump nói chiếc chuyên cơ "Air Force One" giá 400 triệu đô là quà Qatar tặng dân Mỹ, nhưng Trump bơm thêm số tiền tương đương từ ngân sách công để biến nó thành "phi cơ sang trọng nhất thế giới".
• Giáo Hoàng Mỹ Gửi Thông Điệp Di Dân Đến Lãnh Đạo Hoa Kỳ Trước Lễ Độc Lập 250 Năm • Nắng Nóng Kỷ Lục “Chơi Ép” Đại Lễ Độc Lập Của Trump • Iran Tổ Chức Quốc Tang Rầm Rộ Cho Khamenei, Gửi Thông Điệp Thách Thức Trump • Tòa Phúc Thẩm Bác Chính Sách Giam Người Nhập Cư Không Cho Xin Tại Ngoại Của Chính Quyền Trump • Một Người Tây Tạng Tự Thiêu Trước Trụ Sở LHQ ở New York • Đảng Cộng Hòa Tìm Cách Dùng Luật Siết Quyền Công Dân Theo Nơi Sinh • Cảnh Sát Quốc Tế Phá Mạng Lưới Dùng Thuốc Gây Mê Để Hiếp Dâm Phụ Nữ • Cựu Vận Động Viên Olympic Bị Truy Tố Vì Nghi Làm Hư Hồ Nước Phản Chiếu Lincoln • NASA Mở Sứ Mệnh Giải Cứu Đài Quan Sát Không Gian Sắp Rơi Khỏi Quỹ Đạo • Trẻ Sơ Sinh Nửa Cuối Năm 2026 Sẽ Nhận Thẻ An Sinh Xã Hội ‘Freedom 250’
ngày 1 tháng 6 năm 2026. Bộ nội An Hoa Kỳ (DHS) đang cố gắng giảm thiểu tác động của bản ghi nhớ chính sách của Sở di trú được ban hành vào ngày 22 tháng 5. Bản ghi nhớ chính sách đó đã gây ra rất nhiều lo ngại trong giới vận động quyền lợi người di dân, luật sư di trú và hàng trăm nghìn người có tiềm năng xin Thẻ Xanh.
Trong lúc Hoa Kỳ mừng 250 năm độc lập, giới chuyên môn cảnh báo pháo bông gặp nắng nóng và cỏ cây khô cháy có thể biến ngày lễ thành mùa lửa. Vào cuối tuần ngày 4 tháng Bảy năm 2026, bầu trời khắp Hoa Kỳ sẽ rực sáng pháo bông khi nước Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày độc lập. Nhiều thành phố tổ chức những màn trình diễn lớn. Nhưng ngoài các buổi bắn pháo chuyên nghiệp, pháo bông do người dân tự đốt vẫn là mối lo lớn cho lính cứu hỏa. Từ pháo chai đến pháo ống, pháo bông gây ra rất nhiều đám cháy mỗi năm. Riêng năm 2023, Hoa Kỳ ghi nhận khoảng 32,000 vụ cháy có liên quan đến pháo bông. Số vụ cháy do con người gây ra luôn tăng vọt vào đúng ngày 4 tháng Bảy.
Một phát hiện mới tại hang Wonderwerk (Nam Phi) cho thấy loài Homo erectus có thể đã sử dụng lửa cách nay khoảng 1,8 triệu năm—gần như gấp đôi mốc thời gian sớm nhất từng được ghi nhận trước đây. Nghiên cứu công bố ngày 1-6 trên tạp chí PLOS One dựa trên phân tích các mảnh xương bị cháy tìm thấy trong một lớp trầm tích sâu trong hang, nơi có liên hệ với dấu tích của Homo erectus. Trước đó, bằng chứng sớm nhất về việc người cổ duy trì lửa chỉ được xác định vào khoảng 1 triệu năm trước, cũng tại hang này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.