Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 12722)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97: Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Theo Ramsha Waseem, viết trên Smithsonian Magazine, ngày 11 tháng 5, 2026, Edward Kang, 17 tuổi, học sinh Bergen County Academies ở New Jersey, đã phát triển RetinaMind, một công cụ trí tuệ nhân tạo có thể phân tích hình ảnh võng mạc để nhận diện tự kỷ và ADHD với độ chính xác khoảng 89%. Ý tưởng bắt đầu khi Kang đọc một nghiên cứu dùng hình ảnh võng mạc để nhận diện tự kỷ. Từ đó, em tự học lập trình, học máy, rồi xây dựng mô hình riêng, không chỉ phân biệt người có tự kỷ với người bình thường, mà còn thử tách biệt giữa tự kỷ và ADHD.
Khi bí mật lộ ra, nữ giáo sư Lythcott-Haims rời Stanford vào năm 2012 và trở thành tác giả có sách bán chạy nhất do tờ New York Times chọn về chủ đề nuôi dạy con Tình yêu đồng giới là những gì rất bí ẩn, đầy nước mắt và thường được giấu kín. Tuy nhiên, cô cựu sinh viên Đại Học Stanford bây giờ sẽ kể hết, kể một cách nghệ thuật: một thập niên trước, cô từng dan díu đồng tính với
Khi một trong những diễn viên hài độc thoại hàng đầu Trung Quốc mở màn buổi diễn bằng một câu đùa về thời gian cầm quyền dài dằng dặc của nhà lãnh đạo Tập Cận Bình, khán giả đã reo hò, xen lẫn những tiếng chửi thề đầy phấn khích và tán thưởng. "Tuyệt vời quá, tuyệt đỉnh quá!" – một người đàn ông hét lên bằng tiếng Quan Thoại. Hiếm có ai ở Trung Quốc dám đùa cợt về ông Tập – người đã không ngừng thâu tóm quyền lực trong suốt gần 15 năm nắm quyền.
Theo thông báo của Ngân hàng Thế giới vào thứ Tư (ngày 1 tháng 7), cả nhóm năm (5) nền kinh tế lớn của Đông Nam Á – bao gồm cả Singapore, Malaysia và Thái Lan – hiện đều thuộc nhóm thu nhập trung bình cao trở lên. Dữ liệu cho thấy Việt Nam từng được xếp vào nhóm thu nhập trung bình thấp từ năm 2009, trong khi Philippines đã ở nhóm này từ cuối những năm 1980.
Một tai nạn thương tâm vừa xảy ra ở tỉnh Mukdahan, cách thành phố Bangkok của Thái Lan khoảng 600 km về phía Đông Bắc. Ngày thứ Năm, 2/7, một chiếc xe bán tải (pickup truck) đã đâm vào đoàn hành hương Phật giáo gồm 34 tu sĩ đang thiền hành trên con đường nông thôn của Mukdahan, 5 nhà sư chết tại hiện trường. Những người khác được đưa vào bệnh viện gần đó, cách Bangkok khoảng 400 dặm về phía Bắc.
Đội Mỹ đã làm nức lòng người hâm mộ khi cùng hai đội chủ nhà Mexico và Canada tiến vào vòng 16 sau khi vượt qua đội Bosnia & Herzegovina một cách khó khăn. Trong khi đó, truyền hình đưa tựa giật gân “God Save The Kane” khi nói về trận thắng của Anh trước Congo, với hai pha làm bàn đẳng cấp thế giới của cầu thủ “bão tố” Harry Kane.
• Hoa Kỳ Thắng Bosnia-Herzegovina 2–0, Lọt Vào Vòng 16 Đội • Thị Trường Việc Làm Mỹ Chùn Lại, Chỉ Thêm 57.000 Việc Làm Trong Tháng 6, Thấp Hơn Dự Tính • Thẩm Phán Liên Bang Chặn Bưu Điện Hoa Kỳ Hạn Chế Phiếu Bầu Qua Thư • Dân Chủ Lên Án Tham Nhũng Tiền Ảo, Tố Trump Biến Tòa Bạch Ốc Thành “Máy In Tiền” • Thống Đốc Colorado Cách Chức Hai Ủy Viên Hội Đồng Ân Xá Vụ Tina Peters • ICE Mở Chiến Dịch Bắt Giữ Di Dân, Số Người Bị Giam Tăng Vọt • California Cấm Nhãn “Sell By” Trên Thực Phẩm • Tòa Bác Kế Hoạch Cải Tổ Xóa Nợ Sinh Viên Của Chính Quyền Trump • Công Tố Viên Liên Bang Được Lệnh Ưu Tiên Truy Tố Các Vụ “Du Lịch Sinh Con” Sau Phán Quyết Quyền Công Dân Theo Nơi Sinh • John Brennan Kiện Chính Quyền Trump, Tố Bị Truy Tố Vì “Tội Phạm Ma” • Nga Oanh Kích Kéo Dài 11 Giờ Vào Kyiv, Ít Nhất 20 Thường Dân Thiệt Mạng • Hệ Thống Chợ 99 Ranch Bị Chính Quyền Liên Bang Kiện, Tố Phân Biệt Đối Xử Với Nhân Viên Không Phải Người Hoa • Đa Số Người Mỹ Ủng Hộ Cấm Mạng Xã Hội Cho Trẻ Dưới 16 Tuổi...
Theo hồ sơ vụ kiện mà TMZ có được, Ohno cho biết bạn gái cũ của anh, cô Anna Pham, đã từ chối trả lại hàng trăm món đồ thuộc quyền sở hữu của anh sau khi mối quan hệ của họ kết thúc.
Có vui gì khi ngay cả những người hiền, lại đề huề bắt tay, vinh dự sánh vai, cười hả hê với kẻ ác khi nhân sinh quằn quại trong đớn đau, thống khổ! Có vui gì khi những lật lọng, man trá, xảo quyệt, bất nhân... lại trở nên những tánh đức bình thường, có thể chấp nhận, có thể hòa quyện sống chung với trung thực, vô tư, công bình và nhân ái!
Theo báo Washington Times hôm Thứ Tư 1/7/2026: Một thiếu tá Không quân Mỹ tham gia phong trào luận tội ông Trump. Thiếu tá Không quân Mỹ Jason Watson đang chấp nhận rủi ro cho sự nghiệp quân ngũ của mình để công khai kêu gọi luận tội Tổng thống Trump.
Tuần trước, một thẩm phán liên bang đã ra lệnh cho DOJ phải tuân thủ Đạo luật Minh bạch Hồ sơ Epstein. Theo đó, DOJ phải công bố toàn bộ các tài liệu về Epstein chưa được tiết lộ, bao gồm cả các ghi chép phỏng vấn liên quan đến nhân vật "Jane Doe 4" hoặc giải trình lý do nếu không thể thực hiện việc này, hạn chót là ngày 2/7. Quyết định này là một phần trong vụ kiện dân sự do nhà báo Katie Phang khởi xướng chống lại quyền bộ trưởng Tư Tháp Todd Blanche – người được Trump đề cử cho vị trí chính thức.
• Ai Đứng Sau Những Tin Nhắn ‘Nửa Đêm Về Sáng’ Của Trump? • Thế Hệ Gen Z Đầu Tiên Ở Colorado Thắng Bầu Cử Sơ Bộ • Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Mớm Cho Trump Cách Sửa Hiến Pháp • Hôm Nay Trump Đến North Dakota Bằng Chuyên Cơ Mới Do Qatar Tặng • Trump Gom Về Khoảng $1.2 Tỷ Từ Kinh Doanh Tiền Điện Tử Năm 2025 • Gửi Email Phản Đối ICE, 6 Tháng Sau Bị Đặc Vụ Liên Bang Truy Tìm • Virus Nguy Hiểm Do Ve Gây Ra Đang Lan Nhanh Ở Mỹ • Công Nghiệp Xe Hơi Mỹ Đối Diện Nhiều Bất Ổn Nếu Không Gia Hạn Hiệp định Hoa Kỳ-Mexico-Canada • Giới Chức Cảnh Báo Sau Khi Một Người Leo Núi Bị Rơi Xuống Sườn Núi Mount Shasta
Hai đội đồng chủ nhà Canada và Mexico đều có vé vào vòng 16. Bất ngờ đã xảy ra khi hai ông lớn của Châu Âu là Đức và Hòa Lan phải về nước sớm. Dù thua Brazil, Nhật vẫn có thể ngẩng cao đầu. Và đội Pháp càng đá càng hay, càng chứng tỏ phong độ của ứng cử viên vô địch.
Lớp học AI do Giáo sư Hà Giang phụ trách. Cô là một ký giả giàu kinh nghiệm, từng giữ vai trò Phụ tá Chủ nhiệm Báo Người Việt và phụ trách chương trình phát thanh BBC Tiếng Việt tại Thái Lan. Với bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực truyền thông cùng phương pháp giảng dạy gần gũi, dễ hiểu, cô đã giúp những khái niệm về trí tuệ nhân tạo vốn tưởng chừng phức tạp trở nên sinh động và dễ tiếp cận đối với người cao niên. Đồng hành cùng Giáo sư Hà Giang còn có ông Trần An Hải, kỹ sư vi mạch đã nghỉ hưu sau nhiều năm công tác tại Boeing và Honeywell Aerospace, cùng ông Sơn Vũ, chuyên gia lâu năm trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Hiệp hội Luật sư Di trú báo động: chính quyền xếp lịch dồn dập, gây ra bất công cho người di dân vì Thẩm phán chỉ còn vài phút để xét cho một hồ sơ di trú. Bị Trump thúc đẩy trục xuất ào ạt, nhưng nhiều thẩm phán muốn làm đúng luật, nghe từng hoàn cảnh
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.