Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 13358)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97: Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Giáo Hoàng Leo XIV tuyên bố án tử hình “không thể chấp nhận được,” phản đối kế hoạch truyền hình trực tiếp vụ hành quyết tại Mỹ
Bản tin cho biết rằng phiên tòa xét xử liên bang về các cáo buộc hối lộ và tham nhũng đối với cựu Thị trưởng Oakland Sheng Thao dự kiến ​​sẽ bắt đầu vào thứ Ba, hơn hai năm sau khi FBI khám xét nhà riêng của bà. Những người khác cũng bị buộc tội trong vụ án này bao gồm bạn đời của bà Thao là Andre Jones, cùng các lãnh đạo của công ty California Waste Solutions là ông David Duong và con trai ông, Andy Duong.
TOKYO (Kyodo) -- Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi đang cân nhắc việc gặp Chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm tại Tokyo vào đầu tháng tới để thảo luận về hợp tác trong lĩnh vực năng lượng và an ninh, theo các nguồn tin am hiểu vấn đề cho biết hôm thứ Sáu.
- Trump Thỏa Thuận Mua Dầu Nga, Đồng Minh Tây Phương Phẫn Nộ. - Cựu Thẩm Phán Tòa Án Hình Sự Quốc Tế Navi Pillay Đọa Giải Nobel Hòa Bình 2026. - Hoa Kỳ Sẽ Trừng Phạt Tòa Án Hình Sự Quốc Tế - Âu Châu Và Nhiều Quốc Gia Phản Đối. - Bão ISAIAS Đổ Bộ FLORIDA, Hơn 664.000 Gia Đình Mất Điện. - Tòa Án Liên Bang Bác Chương Trình Thu Thập Hồ Sơ Cử Tri Của Chính Quyền Trump. - Na Uy Dự Tính Cấm Mắt Kính Thông Minh Tại Nơi Công Cộng. - Tổng Thống Đài Loan Kêu Gọi Các Quốc Gia Trong Vùng Bảo Vệ Hòa Bình. - Động Đất Với Cường Độ 7,6 Ở Panama.
Theo thông báo, bà Navi Pillay được trao Giải Nobel Hòa bình năm 2026 vì những nỗ lực thúc đẩy hòa bình và luật pháp quốc tế. Ủy ban Nobel ghi nhận đóng góp lâu dài của bà đối với nhân quyền, công lý quốc tế và việc truy cứu trách nhiệm về tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại và diệt chủng. Bà nhận tin khi đang tham dự một hội nghị pháp lý quốc tế tại Nuremberg, Đức. Và bà chỉ biết tin sau khi giải thưởng được công bố vì Ủy Ban Nobel không thể liên lạc với bà.
Vùng Appalachia: số người xin cứu đói tăng 25%, thực phẩm liên bang cấp giảm 1/3 - Có hơn 5 triệu người, trong đó có ít nhất 1 triệu trẻ em, đã bị cắt trợ cấp thực phẩm
- Nhân Viên ICE Bắn Ít Nhất Bảy Phát Đạn Vào Xe Giữa Phố New York, Một Người Bị Thương, Bé Trai 5 Tuổi Thoát Nạn - Thủ Tướng Canada Bác Bỏ Lời Kêu Gọi Ly Khai Của Elon Musk: Tương Lai Canada Do Dân Canada Quyết Định - Iran Gia Tăng Tấn Công Tàu Dầu Tại Eo Biển Hormuz, Gây Thêm Áp Lực Lên Trump Trước Bầu Cử Giữa Nhiệm Kỳ - Trump Tuyên Bố Ai Còn Gọi AI Là “Trí Tuệ Nhân Tạo” Đều Là “Kẻ Thù” - Mạnh Thường Quân Của Trump Tố Gia Đình Tổng Thống Làm Giàu, Chê Thế Giới Của Họ Đầy Trò Bẩn Thỉu - Hoa Kỳ Sẽ Truyền Hình Trực Tiếp Cuộc Hành Quyết Bằng Đội Súng, Lần Đầu Tiên Trong Lịch Sử - Chính Quyền Trump Điều Tra 9 Đại Học Hàng Đầu Hoa Kỳ Về Visa Sinh Viên Và Nhà Nghiên Cứu Ngoại Quốc - Đà Nẵng Quyết Dẹp Nạn Ăn Xin Trước Cuối Năm 2026 Để Thu Hút Du Khách - Nobel Hòa Bình 2026 Sắp Có Chủ Nhân: 287 Ứng Viên, Trump Và Thủ Tướng Canada Được Nhắc Tên
Tôi không thức dậy mỗi sáng, pha một tách cà phê rồi mở báo ra xem thế giới hôm nay có chuyện gì. Chúng ta không còn một tờ báo lớn, vững vàng và đáng tin cậy đến mức chỉ cần đọc nó là đủ biết những gì cần biết. Chúng ta cũng không có một hệ thống truyền hình tin tức lớn nào đưa tin mà không khiến người xem, ít nhất đôi lúc, cảm thấy mình ngu đi một chút. Thay vào đó là những công ty truyền thông đang vật lộn tìm lợi tức, đem tin tức bọc trong lớp áo giải trí để bán cho độc giả. Mạng xã hội lại buộc ngay cả những nguồn tin tốt phải chẻ nội dung thành từng mẩu nhỏ mới mong có người đọc, trong khi những nguồn tệ nhất thì liên tục tung ra tin câu người đọc, tin kích giận dữ và tin sai lạc.
Tuần trước, chính quyền Tổng thống Trump đã nối lại việc duyệt xét hồ sơ xin chiếu khán di dân cho Hungary và Ba Lan, nhưng tiếp tục tạm thời đình chỉ các cuộc hẹn chiếu khán di dân tại tất cả các quốc gia khác. Bộ Ngoại giao không trả lời các câu hỏi về lý do tại sao họ chỉ nối lại việc duyệt xét chiếu khán di dân cho Hungary và Ba Lan. Ông Trump từ lâu luôn phản đối di dân bất hợp pháp, nhưng trong nhiệm kỳ thứ hai tại Nhà Trắng, ông cũng tích cực thực hiện các biện pháp nhằm làm giảm di dân hợp pháp. Hoa Kỳ đã áp đặt lệnh cấm đi lại đối với hàng chục quốc gia, đưa ra các khoản phí mới đắt đỏ đối với một số loại chiếu khán làm việc và yêu cầu tất cả đương đơn xin chiếu khán phải trải qua quá trình kiểm tra lịch sử hoạt động trên mạng xã hội.
Ba nhà khoa học Karl Deisseroth, Peter Hegemann và Georg Nagel vừa đoạt Giải Nobel Y Khoa 2026 nhờ công trình giúp con người dùng ánh sáng để điều khiển hoạt động của tế bào thần kinh. Điều đáng chú ý là câu chuyện ấy bắt đầu không phải từ não người, mà từ một loài tảo đơn bào rất nhỏ có tên Chlamydomonas. Peter Hegemann, thuộc Humboldt University of Berlin, và Georg Nagel, thuộc University of Würzburg, ban đầu chỉ muốn biết một câu hỏi căn bản: làm sao loài tảo này nhận ra ánh sáng và bơi về phía có ánh sáng?
Một thiết bị cấy trên não vừa giúp hai người bị liệt điều khiển một hình đại diện ảo để vừa “nói” vừa làm cử chỉ cùng lúc — điều mà phần lớn các giao diện não–máy tính trước đây chưa làm được. Công trình, công bố trên tạp chí Nature Neuroscience ngày 14 tháng 9, 2026, vẫn còn ở giai đoạn thử nghiệm rất sớm. Nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng kỹ thuật này một ngày nào đó có thể giúp người bị liệt giao tiếp tự nhiên hơn, hoặc điều khiển tay chân giả bằng ý nghĩ. Trong đời sống hằng ngày, lời nói và cử chỉ thường đi chung với nhau. Một người nói “có lẽ” trong khi gật đầu sẽ truyền đạt ý nghĩa khác hẳn với khi vừa nói vừa lắc đầu.
Nhà vật lý Francis Halzen, 82 tuổi, được trao Giải Nobel Vật Lý 2026 hôm Thứ Ba, 6 tháng 10, nhờ những đóng góp quyết định cho Đài Quan Sát Neutrino IceCube và việc khám phá các neutrino năng lượng cao có nguồn gốc ngoài Trái Đất. Halzen sinh tại Bỉ, hiện là giáo sư Đại Học Wisconsin–Madison. Ông đã dành nhiều thập niên theo đuổi một ý tưởng có vẻ gần như không tưởng: biến lớp băng sâu dưới Nam Cực thành một kính thiên văn khổng lồ để tìm những hạt neutrino cực kỳ khó phát hiện.
Một mũi kim rất nhỏ, cắm vào một điểm nhất định trên cơ thể, thoạt nghe khó có thể liên hệ với chuyện giảm đau. Nhưng ngày càng có thêm bằng chứng cho thấy châm cứu có thể kích hoạt một loạt phản ứng trong mô liên kết, hệ thần kinh và não bộ, từ đó làm giảm cảm giác đau ở một số người. Châm cứu, bắt nguồn từ y học cổ truyền Trung Hoa, từ lâu vẫn đứng giữa hai thế giới: được sử dụng rộng rãi để trị đau, nhưng cũng thường bị xem là hiệu ứng giả dược.
Google vừa phóng một vệ tinh thử nghiệm cỡ chiếc tủ lạnh lên quỹ đạo thấp quanh Trái Đất, mở đầu cho một ý tưởng nghe như khoa học giả tưởng: đưa những trung tâm dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo lên không gian. Vệ tinh được phóng ngày 1 tháng 10 trên hỏa tiễn SpaceX, thuộc Project Suncatcher, chương trình của Google nhằm thử xem những bộ óc điện tử của hãng có chịu nổi cuộc sống ngoài khí quyển hay không.
Các công tố viên cho biết tại tòa vào thứ Tư rằng Miao đã bay một chiều về Trung Quốc cách đây hai tuần; họ gọi ông là "Cá nhân số 1" (Individual 1). Bộ Tư pháp chưa buộc tội ông về bất kỳ hành vi sai trái nào, và một người thân mô tả ông là người "hay nghe theo người khác" (follower), khó có khả năng tham gia vào các hoạt động tinh vi của chính phủ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.